Khoá luận tốt nghiệp đại học
Trường Đại học sư phạm hà Nội 2
Khoa giáo dục tiểu học
----------------------------
vũ thị thoan
phương pháp hình thành
biểu tượng kích thước
cho trẻ mẫu giáo
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyờn ngnh: Phng phỏp dy hc Toỏn
Hà Nội 2010
Vũ Thị Thoan
1
K32 Mầm non
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Trường Đại học sư phạm hà Nội 2
Khoa giáo dục tiểu học
----------------------------
vũ thị thoan
phương pháp hình thành
kiến của quý thầy cô và các bạn để khoá luận được hoàn thiện hơn.
Hà Nội, tháng 04 năm 2010
Người thực hiện
Vũ Thị Thoan
Lời cam đoan
Vũ Thị Thoan
3
K32 Mầm non
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Tôi xin cam đoan:
1. Đề tài phương pháp hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo
là kết quả nghiên cứu của riêng tôi trên cơ sở giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn và có
tài liệ tham khảo.
2. Khoá luận không sao chép từ các tài liệu có sẵn nào.
3. Kết quả nghiên cứu không trùng với các tác giả khác.
Hà Nội, tháng 04 năm 2010
Người thực hiện
Vũ Thị Thoan
Vũ Thị Thoan
5
K32 Mầm non
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Nội dung 3
Chương 1: Cơ sở lí luận
.
3
1.1. Kích thước và sự đo lường
3
1.2. Biểu tượng và sự hình thành biểu tượng
3
1.3. Đặc điểm tâm lý của trẻ mẫu giáo3
1.4.Quá trình phát triển biểu tượng kích thước của trẻ mẫu giáo3
1.5. Vai trò và nội dung hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ3
1.6. Các quan điểm về đổi mới nội dung, phương pháp chăm sóc giáo dục trẻ5
Chương 2: phương pháp hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo
2.1. Dạy học và phương pháp dạy học6
2.2. Phương pháp hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo6
Chương 3: Thực trạng việc hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo16
3.1. Thực trạng việc hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo.16
3.2. Nguyên nhân19
3.3. Giải pháp19
dung khá quan trọng và tương đối khó. Nó cung cấp cho trẻ những biểu tượng
kích thước cụ thể như: chiều dài, chiều rộng, chiều cao, độ lớncủa một đối
tượng hay một nhóm đối tượng. Nội dung này có liên quan chặt chẽ với các
nội dung khác góp phần tạo nên một chỉnh thể thống nhất, toàn diện trong hệ
thống nội dung hình thành biểu tượng toán cho trẻ. Việc làm quen với kích
thước vật thể còn giúp phát triển tri giác và tư duy cho trẻ. ở trẻ 5-6 tuổi thì
việc nhận ra sự khác biệt về kích thước không chỉ dừng lại ở tri giác trực tiếp,
ước lượng bằng mắt nữa mà trẻ sẽ phân biệt chính xác hơn bằng các thao tác
đo lường đơn giản. Chính vì vậy mà tư duy bên trong của trẻ cũng phát triển,
đồng thời hoạt động bằng tay cũng trở nên khéo léo và chính xác hơn.
Vũ Thị Thoan
7
K32 Mầm non
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Trong thực tế ở các trường mầm non hiện nay việc
hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ còn nhiều mặt hạn chế. Các giáo viên
chưa nắm vững được các phương pháp và sử dụmg các phương pháp chưa hợp
lí nên hiệu quả đạt được trên trẻ chưa cao.
Với những lí do nêu trên cùng với sự hiểu biết và học hỏi từ các công
trình nghiên cứu khác, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài Phương pháp hình
thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo lớn.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu phương pháp hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu
giáo nhằm giúp các giáo viên nâng cao hiệu quả giảng dạy nội dung này ở
các trường mầm non
Kích thước là một khái niệm cơ bản của Toán học,
xuất hiện từ thời cổ và hoàn thiện trong quá trình rất lâu dài. Kích thước là
khái niệm chung, tổng quát biểu thị độ lớn của các đại lượng (có khi còn gọi
là độ lớn), trực tiếp hơn là các khái niệm cụ thể như: độ dài, thể tích, diện
tích Mỗi loại kích thước cụ thể liên quan đến một phương pháp xác định,
cách so sánh và cá tính chất thích ứng của vật.
Từ các khái niệm cụ thể của kích thước như độ dài, thể tích, diện tích
có thể mở rộng, khái quát hoá một dạng bất kỳ của kích thước. Trong hệ thống
tất cả các kích thước cùng một dạng như : chiều dài, chiều rộng, chiều cao, thể
tích,hình thành mối quan hệ thứ tự ( ). Vì vậy hai đối tượng a và b cùng
dạng thì xảy ra một trong 2 trường hợp sau:
- Hai đối tượng trùng nhau (a= b)
- Hai đối tượng khác nhau a b . Trong trường hợp này thì hoặc ab
hoặc ab
Từ quan hệ ( ) và phép cộng các kích thước cùng dạng(+) có thể khẳng
định bất kỳ kích thước cùng dạng nào đều có tính chất sau:
- Phản xạ: a a với a A
- Phản xứng: Với a, b A , a b và a b thì a =b
- Bắc cầu: với a,b,c A, nếu a b và b c thì a c
Như vậy quan hệ là quan hệ thứ tự.
Vũ Thị Thoan
9
K32 Mầm non
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Các đối tượng cùng dạng bao giờ cũng so sánh được với nhau. Kết quả
D
D
D
Vớ d: AB = a, CD = b thỡ c = BD = CD AB ,c = b a
Vi mi a, b thuc b ta cú a < a + b ngha l ln mt phn bao gi
cng nh hn ln ton phn.
1.1.2. S o lng
S o lng xut hin trong thc t hot ng ca con ngi. Ging
nh xỏc nh s lng ca tp hp; ban u con ngi so sỏnh cỏc i tng
cú kớch thc cựng dng dn n cỏc biu tng di hn - ngn hn, to hn nh hn, nng hn - nh hn Nhng s so sỏnh ny cha phi l o lng.
Trong cỏc giai on tip theo s so sỏnh kớch thc ny dn dn hon thin,
xut hin tiờu chun o. Cỏc tiờu chun ú gi l n v o lng.
Vũ Thị Thoan
10
K32 Mầm non
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Khi con ngi cú hiu bit v s, ch s v cỏc tớnh cht ca chỳng,
bit ln ca tng loi kớch thc, tiờu chun vit s. Tiờu chun ú gi
l s n v o lng.
Mc ớch ca s o lng l bit kớch thc vt, ú l kt qu ca phộp
o, kt qu ú c th hin bng ch s.
Nhim v o lng cng ging nh nhim v xỏc nh s lng ca
- Dng th nht: o chiu di, chiu rng, chiu cao ca vt bng cỏc
thc o quy c nh: thc k, que tớnh, bng giy, bc chõn
- Dng th hai: o lng cỏc vt rn (go, ng, cỏt) trong tỳi,
trong hp hoc trong gúi bng cc, thỡa, bỏt
- Dng th ba: o dung tớch ca cht lng (nc) trong bỡnh, trong m,
trong chu bng ca, cc, thỡa, bỏt
Nhng Mu giỏo nh v ln trờn tit hc cụ giỏo ch dy tr o
theo dng th nht (o di) v o dung tớch cht lng nhng ch yu vn l
o di, cũn o lng vt rn thỡ cụ cho tr lm quen trong cỏc hot ng
khỏc, c bit trong cỏc trũ chi xp hỡnh lp nh (4 5 tui) v lp ln (5
6 tui). i vi cỏc hỡnh phng tng ng (cú din tớch ging nhau) co
giỏo thng cho tr s dng trũ chi ct cỏc hỡnh thnh tng phn ri xp cỏc
phn ú thnh cỏc hỡnh khỏc nhau v ngc li ly cỏc hỡnh ri ó cú xp
thnh cỏc hỡnh khỏc.
1.2. Biểu tượng và sự hình thành biểu tượng
Biểu tượng là một khái niệm được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên
cứu. Đứng ở mỗi góc độ trên quan điểm khác nhau ta sẽ có những định nghĩa
khác nhau về nó.
Theo quan điểm của Triết học duy vật biện chứng (Triết học Mác
Lênin) thì: Biểu tượng là hình ảnh của khách thể đã được tri giác còn lưu lại
trong bộ óc con người và do một tác động nào đó được tái hiện. Hay nói cách
khác biểu tượng là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan. Biểu tượng được
hình thành sau quá trình cảm giác, tri giác, là kết quả của quá trình tri giác.
Nó phản ánh khách thể một cách gián tiếp.
Mọi sự nhận thức của con người đều bắt đầu từ việc tri giác trực tiếp sự
vật, hiện tượng. Song để nhận thức được những mối liên hệ bản chất và các
quy luật chi phối sự vận động và phát triển của các khách thể thì nhận thức
phải chuyển sang giai đoạn cao hơn tư duy trừu tượng.
Vũ Thị Thoan
Độ tuổi mẫu giáo bé là điểm khởi đầu của sự hình
thành ý thức bản ngã nên trong ý thức của trẻ mang đậm tính tự kỷ (lấy trẻ
làm trung tâm). J.Piaget cho rằng đặc điểm tiêu biểu nhất trong tâm lý trẻ dưới
3 tuổi trở xuống là tính tự kỷ. Trẻ chưa phân biệt rõ đâu là ý muốn của quan
Vũ Thị Thoan
13
K32 Mầm non
Khoá luận tốt nghiệp đại học
của mình và đâu là tính khách quan của sự vật. Trẻ thường đem ý muốn chủ
quan của mình gán cho sự vật xung quanh.
Quá trình tư duy của trẻ đã bắt đầu dựa vào hình ảnh
cụ thể của sự vật, hiện tượng. ở lứa tuổi này tư duy trực quan hành động vẫn
chiếm ưu thế nhưng bước đầu trong cấu tạo tâm lí của trẻ đã hình thành kiểu
tư duy mới - tư duy trực quan hình tượng. Điều đó đồng nghĩa với việc trẻ có
khả năng giải quyết nhiệm vụ bắt đầu từ các biểu tượng đã có ở trong đầu.
Hoạt động chủ đạo của trẻ ở lứa tuổi này là hoạt
động vui chơi, trong hoạt động này trẻ không có vật thật mà phải dùng vật
thay thế. Vật thay thế trở thành đối tượng của tư duy. Trong khi hoạt động với
vật thay thế trẻ suy nghĩ về đồ vật thật, từ đó hình thành mối quan hệ giữa vật
thay thế và đồ vật thật.
Tư duy của trẻ còn bị cảm xúc chi phối mạnh, trẻ
thường suy nghĩ về những cái mà trẻ thích, thường bị lôi cuốn bởi ý thích chủ
quan của trẻ. Do đó trẻ chưa nhận ra được tính khách quan của đối tượng. Trẻ
còn đồng nghĩa cái tinh thần và cái vật chất. Trẻ cho rằng hình ảnh trong đầu
mình chính là sự vật. Tư duy của trẻ mẫu giáo bé còn bị cái tổng thể chi phối,
5 6 tuổi là giai đoạn cuối cùng của trẻ ở lứa tuổi mầm non, đặc điểm
nổi bật của trẻ ở lứa tuổi này là lòng ham muốn khám phá thế giới xung
quanh, trẻ thường đặt ra những câu hỏi tại sao: Tại sao cô lấy được quả bóng
trên cao mà cháu không lấy được? Tại sao cháu không nhìn thấy bạn Nam ở
sau cánh cửa? Khi người lớn trả lời cho trẻ sẽ làm thoả mãn trí tò mò của
trẻ. Nhờ lòng ham muốn này mà trẻ tích cực tham gia hoạt động với các đối
tượng xung quanh. Khi trẻ tham gia hoạt động chính là lúc trẻ thực hiện các
thao tác khám phá những điều mới lạ ngay chính trong bản thân đối tượng. Và
trong việc hình thành biểu tượng kích thước thì đặc điểm này là tương đối cần
thiết bởi chỉ khi trẻ có lòng ham thích khám phá thế giới xung quanh thì lúc
đó trẻ mới chủ động tiếp thu những tri thức về kích thước của đối tượng. Qua
hoạt động xếp chồng, xếp kề, trẻ biết được băng giấy nào dài hơn, băng giấy
nào ngắn hơn, cái cây nào cao hơn, cái cây nào thấp hơn Từ đó giúp trẻ nắm
vững kiến thức hơn, kích thích được tính chủ động, sáng tạo ở trẻ.
ở lứa tuổi này ý thức bản ngã được xác định rõ ràng giúp trẻ điều khiển,
điều chỉnh hành vi của mình. Trẻ muốn tự khẳng định mình, muốn tự làm tất
cả những gì mình thích. Cái tôi cá nhân lúc này được lộ một cách rõ nét. Trẻ
biết mình là ai? Mình giữ vai trò như thế nào trong gia đình, trong lớp hoc.
Vũ Thị Thoan
15
K32 Mầm non
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chính ý thức bản ngã này sẽ chi phối quá trình nhận thức tìm ra tri thức của
trẻ. Trẻ hoạt động dưới sự hướng dẫn của cô. Cô đóng vai trò định hướng như
một người chỉ đường. Còn việc khám phá tìm ra kết quả là ở trẻ. Điều này thể
K32 Mầm non
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Trẻ 3 4 tuổi rất khó khăn để nắm được tính tương đối của khái niệm
kích thước. Hơn nữa trẻ thường không biết lựa chọn các vật có kích thước
tương ứng với nhau. Ví dụ: Trẻ cố xỏ chân vào tất chân của búp bê hay đi đôi
dép to của mẹ.
Sự tri giác kích thước ở trẻ 3 tuổi còn thiếu sự phân
định, trẻ thường chỉ hướng tới độ lớn chung của sự vật mà không có sự phân
tách từng chiều đo kích thước của vật thể như chiều dài, chiều rộng của vật.
Lên 4 tuổi trẻ đã biết lựa chọn các vật theo chiều dài,
chiều rộng, chiều cao của chúng một cách đúng hơn nếu sự khác biệt giữa các
chiều đo là rõ rệt. Tuy nhiên nhiều trẻ vẫn nhầm lẫn giữa chiều rộng và chiều
dài.
Trong sự tri giác kích thước và diễn đạt các dấu hiệu khác nhau của
kích thước vật thể, lời nói đóng vai trò quan trọng. Tuy nhiên sự tri giác thiếu
phân định các chiều đo kích thước của vật thể ở trẻ nhỏ dẫn đến việc diễn đạt
mối quan hệ kích thước của trẻ không chính xác. Trẻ 3 4 tuổi thường dùng
từ to - nhỏ để diễn đạt kích thước của vật thể. Nhưng bước đầu trẻ cũng đã
biết sử dụng một số từ biểu thị mối quan hệ kích thước như: con rắn dài, con
lợn béo Phần lớn trẻ 4 tuổi không hiểu ý nghĩa của từ kích thước, nhưng
khi hỏi trẻ về kích thước của vật thể nhiều trẻ lại trả lời về màu sắc, số
lượngcủa chúng. trẻ 4-5 hoạt bằng tay đã trở nên khéo léo hơn nên bước
đầu trẻ cũng có thể thực hiện các thao tác đo lường đơn giản.
Sang nhóm trẻ 5 6 tuổi, biểu tượng về kích thước
đã trở nên chính xác hơn. Trẻ có khả năng phân biệt chính xác 3 chiều kích
thước(chiều dài, chiều rộng, chiều cao hay bề dày) của vật. Trẻ đã biết chỉ tay
theo chiều dài, chiều rộng hay chiều cao của các đồ vật. Đối với các hình khối
có chiều cao thấp trẻ 4 5 tuổi cho rằng không có chiều cao thì trẻ 5 - 6 tuổi
Việc hình thành biểu tượng kích thước cần có sự kết
hợp nhuần nhuyễn giữa các giác quan, đặc biệt là thị giác và xúc giác. Trẻ
quan sát cô làm mẫu, ước lượng độ lớn bằng mắt, sử dụng hoạt động bằng
tay để thực hiện các biện pháp xếp chồng, xếp kề, đo Do đó quá trình hình
thành biểu tượng kích thước cũng giúp cho các giác quan của trẻ phát triển
hơn, trẻ quan sát tốt hơn và hoạt động bằng tay cũng trở nên khéo léo và chính
xác hơn.
Trong quá trình hình thành biểu tượng kích thước
cho trẻ, giáo viên cung cấp cho trẻ một số từ mới, mở rộng vốn từ cho trẻ và
Vũ Thị Thoan
18
K32 Mầm non
Khoá luận tốt nghiệp đại học
giúp trẻ sử dụng từ chính xác: dài hơn, ngắn hơn, to hơn, nhỏ hơn, rộng hơn,
hẹp hơn Từ đó phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ.
Khi nắm được các chiều kích thước và độ lớn của vật
thể sẽ góp phần tích cực chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông.
Hình thành biểu tượng kích thước có ý nghĩa thực
tiễn rất lớn. Từ các biểu tượng mà trẻ có được trẻ sẽ ứng dụng vào thực tiễn
cuộc sống của mình. Ví dụ: Trẻ có thể giúp đỡ mọi người lấy những đồ vật
theo yêu cầu của họ như lấy cho mẹ cái ca to, bát to, cái gậy dài, chai nước
mắm nhỏ Khi đã có biểu tượng chính xác về kích thước trẻ không còn cố xỏ
chân vào cái tất của búp bê hay đôi giầy của bố nữa mà trẻ đã có thể tự chọn
những đồ dùng phù hợp với kích cỡ của mình hoặc người khác như giầy, tất,
mũ, quần, áo Cùng với sự lớn lên về nhận thức các biểu tượng kích thước thì
đối tượng bằng lời nói như: Dài nhất ngắn hơn ngắn nhất, cao nhất thấp
hơn thấp nhất, rộng nhất hẹp hơn hẹp nhất, lớn hơn nhỏ hơn nhỏ
nhất.
- Dạy làm quen với kỹ năng so sánh độ dài, dung tích của vật bằng một
đơn vị đo. Nhận biết mối quan hệ kích thước theo từng chiều đo kích thước
giữa các đối tượng.
* Mẫu giáo lớn:
- Củng cố và phát triển kỹ năng so sánh kích thước các đối tượng bằng
biện pháp xếp chồng, xếp kề, ước lượng bằng mắt,phát triển kỹ năng sắp thứ
tự các vật theo chiều tăng dần hoặc giảm dần về kích thước.
- Dạy trẻ kỹ năng đo độ dài một vật bằng các đơn vị đo khác nhau, so
sánh và diễn đạt kết quả so sánh.
- Dạy trẻ kỹ năng đo dung tích các vật, so sánh và diễn đạt kết quả so
sánh
1.5.3. Vai trò của các giác quan
Hoạt động của các giác quan luôn đi liền với nội
dung hình thành biểu tượng kích thước, đó là sự phối hợp chặt chẽ và không
ngừng của các giác quan: thị giác, xúc giác, thính giác và một số cơ quan
khác.
Ngay từ lứa tuổi nhà trẻ thông qua các thao tác thực tiễn với các đồ vật,
đồ chơi đã hình thành ở trẻ biểu tượng về kích thước vật thể. Qua thị giác trẻ
biết được màu sắc, kích thước, hình khối của vật thể. Nó phù hợp với nguyên
tắc giáo dục giáo dục gắn liền với cuộc sống, giáo dục có tính mở rộng,
Vũ Thị Thoan
20
K32 Mầm non
Vũ Thị Thoan
21
K32 Mầm non
Khoá luận tốt nghiệp đại học
* Đầu tiên là nhận biết, phân biệt, gọi tên từng chiều kích thước. giai
đoạn này giáo viên giúp trẻ nhận biết, phân biệt đâu là chiều dài, chiều rộng,
chiều cao, độ lớn của vật và gọi tên từng chiều đo đó một cách chính xác.
Giáo viên sử dụng các đồ dùng trực quan để dạy trẻ nhận biết, phân
biệt, gọi tên các chiều kích thước ( cô chuẩn bị cho cô và mỗi trẻ một băng bìa
hình chữ nhật).
+ Chiều cao được xác định khi đặt vật theo phương thẳng đứng.
Chiều cao được tính từ trên xuống dưới hoặc từ dưới lên trên.
Cô nhấn mạnh cho trẻ biết: khi nói đến chiều cao ta sử dụng các từ
cao, thấp
+ Chiều dài được xác định khi đặt vật nằm
ngang. Chiều dài được tính từ trái sang phải hoặc
từ phải sang trái. Cô nhấn mạnh cho trẻ biết khi nói đến chiều dài người ta sử
dụng các từ dài ngắn
+ Chiều rộng được xác định khi đặt vật nằm ngang.
Chiều rộng được tính từ mép trên đến mép dưới của vât.
Cô nhấn mạnh cho trẻ biết: khi nói đến chiều rộng ta
sử dụng các từ rộng hẹp.
+ Độ lớn của vật được xác định bằng độ to nhỏ của vật
* Tiếp theo là giai đoạn so sánh kích thước của 2, 3 đối tượng.
đỏ
Sau đó tập cho trẻ diễn đạt độ chênh lệch đó bằng ngôn ngữ, sử dụng
các từ: cao hơn, thấp hơn (cây màu xanh cao hơn cây màu đỏ. Cây màu đỏ
thấp hơn cây màu xanh).
- Tiếp theo dạy trẻ so sánh kích thước của 2 đối tượng bằng biện pháp xếp
chồng, xếp cạnh để chỉ ra phần thừa ra hoặc thiếu đi sau đó đưa ra kết luận.
Ví dụ: So sánh chiều dài của 2 đối tượng
Cô chọn đối tượng so sánh là 2 băng giấy màu xanh và màu đỏ.
Trẻ sử dụng hoạt động bằng tay xếp 2 đối tượng (băng giấy) cạnh nhau
sao cho một đầu trùng khít với nhau, quan sát đầu còn lại
Phần
thừa ra
xem đối tượng phần thừa ra hoặc thiếu đi rồi đưa ra kết luận:
Băng giấy màu xanh dài hơn băng giấy màu đỏ
Băng giấy màu đỏ ngắn hơn băng giấy màu xanh
Điểm khác biệt ở giai đoạn này so với giai đoạn trước là các đối tượng
so sánh có độ chênh lệch không rõ nét và trẻ so sánh thông qua hoạt động
bằng tay chứ không đơn thuần là bằng trực giác.
Vũ Thị Thoan
23
K32 Mầm non
Đỏ
Băng giấy màu xanh dài hơn băng giấy màu vàng
Xanh
Băng giấy màu đỏ dài hơn băng giấy màu vàng Vàng
Băng giấy màu đỏ dài nhất
Vũ Thị Thoan
24
K32 Mầm non
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Băng giấy màu vàng ngắn nhất
Cô dạy trẻ sắp thứ tự theo chiều tăng dần hoặc giảm dần
Tăng dần
Giảm dần
* Giai đoạn chính xác hoá kết quả so sánh bằng phép đo lường đơn giản
- Trước tiên phải dạy trẻ hiểu được mục đích của phép đo. Đó là bước
đầu giúp trẻ hiểu được sự phụ thuộc và mối quan hệ giữa vật đo, đơn vị đo và
kết quả đo. Chính xác kết quả so sánh nhờ kết quả đo.
Để giúp trẻ hiểu được mục đích của phép đo cô hướng dẫn trẻ dùng các
hình chữ nhật hoặc que tính ngắn đặt liên tiếp nhau theo chiều dài từng băng
giấy cho đến hết. Cho trẻ đếm số hình chữ nhật (hay que tính) xếp kín chiều
dài mỗi băng giấy sau đó lấy chữ số tương ứng đặt bên cạnh. Cô dạy trẻ biết
diễn đạt kết quả đo bằng lời nói. Ví dụ: Băng giấy màu xanh dài bằng 5 lần
chiều dài hình chữ nhật hay băng giấy màu xanh dài hơn băng giấy màu đỏ 1