Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong ngành Lân nghiệp Việt nam những năm 1990-2002 - Pdf 31

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
Trong những năm qua, nớc ta đã đạt đợc những thành tựu đáng khích lệ
trong công cuộc đổi mới kinh tế. Nền kinh tế Việt Nam đã từng bớc thoát khỏi
nghèo nàn, lạc hậu và bớc đầu có tích luỹ. Nớc ta đã ra khỏi cuộc khủng hoảng
kinh tế xã hội nghiêm trọng và kéo dài hơn 15 năm. Đến nay, thế và lực
của nớc ta đã có sự biến đổi về chất. Chúng ta đã tạo đợc những tiền đề cần
thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới: Đẩy mạnh CNH, HĐH đất nớc
Trong chiến lợc phát triển kinh tế xă hội đến năm 2010 và những năm
tiếp theo Đảng và chính phủ Việt Nam đã đa ra chỉ tiêu tăng trởng kinh tế với
mức bình quân là 7,5 %; năm 2010 tổng sản phẩm trong nớc (GDP) tăng ít
nhất gấp đôi năm 2000 và phấn đấu đến năm 2020 nớc ta cơ bản trở thành nớc
công nghiệp theo hớng hiện đại hóa. Để thực hiện mục tiêu tăng trởng đó cần
giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề, trong đó đầu t là một trong những thách thức
lớn nhất và khó giải quyết nhất đối với nền kinh tế nớc ta hiện nay. Theo bộ kế
hoạch và đầu t, để đạt tốc độ tăng trởng kinh tế 7- 8 % năm trong 10 năm tới
thì nhu cầu vốn đầu t giai đoạn 2001- 2005 cần khoảng 53- 55 tỉ USD. Con số
này là lợng lớn so với khả năng tích luỹ của Việt Nam, do vậy cần phải tính
đến khả năng huy động nguồn vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài.
Ngày nay, không ai lại không biết đến vai trò to lớn của vốn đầu t đối
với sự tăng trởng và phát triển kinh tế xã hội.Việc thu hút vốn đầu t nớc ngoài
là một cách tạo vốn nhanh và có hiệu quả mà các nớc nghèo trên thế giới đều
hết sức quan tâm. Đầu t trực tiếp ngoài là hoạt động kinh tế đối ngoại có vị trí
hết sức quan trọng và trở thành xu hớng của thời đại. Đối với nớc ta, tiến hành
phát triển kinh tế xã hội theo những yêu cầu mới, từ một xuất phát điểm thấp
thì đầu t trực tiếp nớc ngoài hết có ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng trong
thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Đầu t trực
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tiếp nớc ngoài là nguồn bổ xung vốn quan trọng, là kênh chuyển giao hữu
hiệu, là giải pháp làm nâng cao thu nhập cho ngời lao động và tạo nguồn thu

và tính cấp thiết của vấn đề này, em chọn đề tài Đầu t trực tiếp nớc ngoài
trong ngành Lâm nghiệp Việt Nam những năm 1990- 2002 . Với đề tài này
em muốn có một cái nhìn toàn cảnh về thực trạng đầu t trực tiếp nớc ngoài
trong ngành lâm nghiệp nớc ta những năm qua, đánh giá một cách sâu sắc hơn
những tác động của đầu t trực tiếp nớc ngoài đối với ngành lâm nghiệp và thấy
đợc những vấn đề đặt ra đối với hoạt động đầu t nớc ngoài tại Việt Nam, từ đó
đề nghị một số giải pháp nhằm thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu
t trực tiếp nớc ngoài trong lâm nghiệp phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế của
đất nớc.
Đề tài gồm những vấn đề chính sau:
chơng I : Kiến thức cơ bản về đầu t nớc ngoài và lâm nghiệp Việt Nam.
Chơng II : Thực trạng đầu t nớc ngoài vào lâm nghiệp Việt Nam thời gian
qua.
Chơng III : Các giải pháp và định hớng đầu t nớc ngoài vào lâm nghiệp Việt
Nam.

Chơng I
Kiến thức cơ bản về đầu t trực tiếp nớc ngoài và Lâm
nghiệp Việt Nam.
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1. Đầu t nớc ngoài
I. Một số vấn đề cơ bản của đầu t quốc tế.
1. khái niệm về đầu t quốc tế.
Đầu t quốc tế là phơng thức đầu t vốn, tài sản ở nớc ngoài để tiến hành
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với mục đích tìm kiếm lợi nhuận và những mục
tiêu kinh tế xã hội nhất định.
Về bản chất, đầu t quốc tế là những hình thức xuất khẩu t bản, một hình
thức cao hơn của xuất khẩu hàng hoá. Đây là hai hình thức xuất khẩu luôn bổ
xung và hỗ trợ cho nhau trong chiến lợc thâm nhập thị trờng của các công ty,

khoản vay trong trờng hợp bên vay không có khả năng thanh toán.
2.2. Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA).
Đây là các khoản viện trợ không hoàn lại và các khoản tài trợ có hoàn
lại( cho vay dài hạn với một số thời gian ấn định và lãi suất thấp) của các
chính phủ, các hệ thống tổ chức Liên Hợp Quốc, các tổ chức phi chính phủ, tổ
chức tài chính quốc tế ( Nh WB, ADB và IFM) dành cho chính phủ và nhân
dân nớc nhận viện trợ. Các cơ quan và tổ chức hỗ trợ phát triển nói trên đợc
gọi chung là đối tác viện trợ nớc ngoài.
ODA là nguồn vốn tài trợ của nớc ngoài, các nhà tài trợ không trực tiếp
điều hành dự án, nhng có thể tham gia gián tiếp dới hình thức nhà thầu hoặc
hỗ trợ chuyên gia. Nguồn vốn ODA gồm viện trợ không hoàn lại và các khoản
viện trợ hoàn lại. Tuy vậy, nếu quản lý, sử dụng vốn kém hiệu quả sẽ có nguy
cơ để lại gánh nặng nợ nần trong tơng lai.
Nguồn vốn ODA có các hình thức cơ bản nh: Hỗ trợ dự án, hỗ trợ phi
dự án và tín dụng thơng mại.
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
II. Các vấn đề cơ bản về đầu t trực tiếp nớc ngoài.
1. Khái niệm và bản chất của đầu t trực tiếp nớc ngoài.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài (Foreign Direct Investment) là một hình thức
của đầu t quốc tế. Sự ra đời và phát triển của nó là kết quả tất yếu của quá trình
quốc tế hoá và phân công lao động quốc tế. Đầu t trực tiếp nớc ngoài đợc xem
xét nh một hoạt động kinh doanh ở đó có yếu tố di chuyển vốn quốc tế và kèm
theo sự di chuyển vốn là chuyển giao công nghệ, kỹ năng quản lý và các ảnh
hởng kinh tế xã hội khác đối với nớc nhận đầu t.
Theo Luật đầu t nớc ngoài Việt Nam, đầu t trực tiếp nớc ngoài có thể đ-
ợc hiểu nh là việc các tổ chức, cá nhân nớc ngoài trực tiếp đa vào Việt Nam
vốn bằng tiền hoặc bất cứ tài sản nào đợc chính phủ Việt Nam chấp nhận để
hợp tác với bên Việt Nam hoặc tự mình tổ chức các hoạt động sản xuất kinh
doanh trên lãnh thổ Việt Nam.

Doanh nghiệp loại này là doanh nghiệp sở hữu của nhà đầu t nớc ngoài
(tổ chức hoặc cá nhân nớc ngoài) do nhà đầu t nớc ngoài thành lập tại nớc chủ
nhà, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm với kết quả hoạt động kinh doanh.
Doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài đợc thành lập theo luật pháp nớc chủ nhà.
* Các hình thức xây dựng chuyển giao kinh doanh
- Hình thức hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao (BOT): Đây
là hình thức chủ đầu t tự chịu trách nhiệm tiến hành xây dựng kinh doanh công
trình trong một thời gian dài đủ để thu hút vốn đầu t và có lợi nhuận hợp lý.
Sau khi kết thúc dự án, toàn bộ công trình xẽ đợc chuyển giao cho nớc chủ nhà
và không thu bất cứ khoản tiền nào.
- Hợp đồng xây dựng- chuyển giao- kinh doanh (BTO): Với hình thức
này sau khi xây dựng xong, nhà đầu t chuyển giao cho nớc chủ nhà. Chính phủ
giành cho nhà đầu t quyền kinh doanh công trình đó trong một thời gian nhất
định để thu hồi đủ vốn đầu t và có lợi nhuận hợp lý.
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Hợp đồng xây dựng- chuyển giao (BT): Đối với hình thức này, sau khi
xây dựng xong , nớc chủ nhà xẽ tạo điều kiện cho chủ đầu t nớc ngoài thực
hiện dự án khác để thu hồi đủ vốn và có lợi hợp lý.
* Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Đây là loại hình đầu t trong đó các bên tham gia hợp đồng ký kết thoả
thuận để tiến hành một hoặc nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh ở nớc nhận
đầu t, trên cơ sở quy định rõ đối tợng, nội dung kinh doanh, nghĩa vụ, trách
nhiêm và phân chia kết quả kinh doanh cho các bê tham gia.
Hợp đồng hợp tác kinh doanh do đại diện có thẩm quyền của các bên
hợp tác kinh doanh ký. Thời hạn có hiệu lực của hợp đồng do các bên thoả
thuận và cơ quan có thẩm quyền của nớc nhận đầu t phê chuẩn.
2. Các nhân tố ảnh hởng đến đầu t trực tiếp nớc ngoài
2.1. Các nhân tố bên trong một quốc gia:
Từ phía nớc chủ nhà, các nhân tố hấp dẫn đầu t trực tiếp nớc ngoài là

nghiệp hoá đất nớc của mình, đồng thời chủ động tỉnh táo phòng ngừa để hạn
chế đến mức tối đa những tác động tiêu cực.
3.1.1. Đầu t trực tiếp nớc ngoài tạo nguồn vốn để phát triển kinh tế.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài là nguồn bổ xung vốn quan trọng để các nớc
đang phát triển thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Bù đắp cho sự
thiếu hụt nguồn vốn trong nớc. Hầu hết các nớc, nhất là các nớc đang phát
triển đều có nhu cầu về vốn để thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất n-
ớc. Thực tế ở nhiều nớc đang phát triển, mà nổi bật là các nớc ASEAN và
Đông A, nhờ có FDI đã giải quyết một phần khó khăn về vổn nên đã thực
hiện thành công quá trình công nghiệp hoá đất nớc. Các nớc có tỷ lệ tích luỹ
vốn trong nớc còn thấp là một trở ngại lớn cho sự phát triển kinh tế xã hội.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài là một hình thức huy động vốn để hỗ trợ cho nhu cầu
đầu t của kinh tế. Bên cạnh đó đầu t trực tiếp nớc ngoài còn có u thế hơn hẳn
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
so với các hình thức huy động vốn khác nh việc vay vốn nớc ngoài luôn đi
cùng với một mức lãi xuất nhất định và đôi khi trở thành gánh nặng cho nền
kinh tế. Hoặc nh các khoản viện trợ thờng đi kềm với các điều kiện về chính
trị, can thiệp vào công việc nội bộ của nền kinh tế. Điều này ít xảy ra với đầu
t trực tiếp nớc ngoài.
Đối với các nhà đầu t của nớc chủ nhà đầu t trực tiếp nớc ngoài góp
phần làm giảm bớt sự rủi ro về tài chính mà các nhà đầu t trong nớc không thể
một mình kham nổi. Bởi vì khi liên doanh với một đối tác đầu t nớc ngoài thì:
Thứ nhất là họ có nhiều kinh nghiệm trong kinh doanh nên ngăn chặn và hạn
chế rủi ro về tài chính. Thứ hai, là trong tình huống xí nghiệp liên doanh với
đối tác nớc ngoài và nớc chủ nhà có nguy cơ đe doạ rủi ro thì công ty mẹ sẽ có
biện pháp cứu giúp cũng nh hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ sản xuất, trợ giúp tài
chính. để doanh nghiệp liên doanh thu đợc vốn bỏ ra.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài của các công ty vào nớc sở tại tạo ra các tác
động tích cực đối với việc huy động các nguồn vốn khác của nớc chủ nhà.

làm cũng có nghĩa tăng thêm thu nhập cho ngời lao động và từ đó là điều kiện
tăng tích luỹ trong nớc.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài góp phần phát triển nguồn nhân lực nâng cao
kỹ năng quản lý kinh doanh cho nớc chủ nhà. Chính các chủ đầu t nớc ngoài
tổ chức mở các lớp đào tạo về quản lý kỹ năng làm việc đã góp phần tích cực
vào việc bồi dỡng đào tạo đội ngũ lao động ở nớc sở tại. Để cán bộ và công
nhân nớc sở tại có khả năng quản lý và sử dụng cá công nghệ tiên tiến và yêu
cầu của công việc. Đó chính là đội ngũ nòng cốt trong việc học tập, tiếp thu kỹ
thuật, công nghệ tiên tiến, năng lực quản lý điều hành tiên tiến của nớc ngoài.
Cùng với nó các nhân viên ngời bản xứ có thể tiếp cận đợc kho thông tin
khổng lồ và kỹ năng quản lý của công ty mẹ. Mặt khác các dự án đầu t trực
tiếp nớc ngoài có yêu cầu cao về chất lợng lao động và trả lơng với mức cao,
quản lý tiên tiến, sử dụng công nghệ hiện đạiđiều đó đã kích thích và đặt ra
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
yêu cầu khách quan cho nhiều ngời lao động nớc chủ nhà phải tự học tập nâng
cao năng lực lao động, trình độ chuyên môn, ngoại ngữ để có thể tham gia
làm việc tại các công ty có vốn đầu t nớc ngoài.
3.1.3. Nâng cao năng lực công nghệ.
Song song với việc tạo nguồn vốn bổ xung cho các nớc đang phát triển
đầu t trực tiếp nớc ngoài còn là một kênh quan trọng để đa kỹ thuật mới kỹ
năng quan lý mới vào các nớc đang phát triển. Thông qua đầu t trực tiếp nớc
ngoài nớc chủ nhà có thể tiếp nhận đợc những công nghệ này. Qua đó đầu t
trực tiếp nớc ngoài có thể thúc đẩy sự đổi mới kỹ thuật của nớc nhận đầu t nh
góp phần tăng năng xuất cuả các yếu tố sản xuất, thay đổi cấu thành sản phẩm,
và xuất khẩu. Thúc đẩy phát triển các nghề mới đặc biệt là những ngành đòi
hỏi hàm lợng công nghệ cao. Vì thế nó có tác dụng to lớn đối với quá trình
công nghiệp hoá và hiện đại hoá chuyển dịch cơ cấu, tăng trởng nhanh ở các
nớc nhận đầu t. cùng với việc chuyển giao các công nghệ phần cứng tiên
tiến, đầu t trực tiếp nớc ngoài còn chuyển giao các công nghệ phần mềm nh

một và đi đến chỗ bị xoá sổ. Ngoài ra đầu t trực tiếp nớc ngoài còn làm phát
triển một số vùng nhất định nhất là những vùng có nhiều lợi thế và nhiều năng
lực phát triển và đợc khuyến khích nhiều. Những tác động này đã làm cho cơ
cấu nền kinh tế của nớc nhận đầu t thay đổi một cách mạnh mẽ.
3.1.5. Một số lợi ích khác của đầu t trực tiếp nớc ngoài .
Thông qua hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài của các nớc đang phát
triển có thể tiếp cận với thị trờng thế giới. Bởi vì hầu hết các hoạt động đầu t
trực tiếp nớc ngoài đều do các công ty đa quốc gia thực hiện mà các công ty
này có lợi thế trong việc tiếp cận với khách hàng bằng những hoạt động dài
hạn dựa trên cơ sở thanh thế, uy tín của họ về kiểu dáng của sản phẩm
Với các nớc đang phát triển sử dụng đầu t trực tiếp nớc ngoài nh một
công cụ để hợp tác quốc tế và kích thích liên kết kinh tế với các cơ sở kinh tế
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
trong nớc. Thông qua tiếp xúc với các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài
các doanh nghiệp trong nớc mở rộng đợc quy mô và năng lực kinh doanh của
mình.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài góp phần cải thiện căn bản cán cân thanh toán
quốc tế cho các nớc đang phát triển. Bởi vì hầu hết các dự án đầu t trực tiếp n-
ớc ngoài là sản xuất sản phẩm Hớng vào xuất khẩu. đầu t trực tiếp nớc ngoài
đóng góp vào việc xuất khẩu hàng hóa khá lớn đối với các nớc đang phát
triển .
Đầu t trực tiếp nớc ngoài là một trong những hình thức hợp tác đầu t
quốc tế. Thông qua hình thức đầu t trực tiếp nớc ngoài, nớc chủ nhà có thêm
điều kiện mở rộng quan hệ quốc tế.
3.2. Những tác động tiêu cực của đầu t trực tiếp nớc ngoài.
3.2.1. Về kinh tế
Bên cạnh những tác động tích cực đến nền kinh tế các nớc đang phát
triển thì đầu t trực tiếp nớc ngoài còn có những tác động tiêu cực.
Hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài nhiều khi làm cho lợi ích của nhà

* Vào giai đoạn đầu của sự phát triển, hầu hết các nớc đều sử dụng công
nghệ sử dụng nhiều lao động. Tuy nhiên sau một thời gian phát triển giá lao
động sẽ tăng lên, kết quả là giá thành sản phẩm cao. Vì vậy họ muốn thay thế
công nghệ này bằng những công nghệ có hàm lợng chất sám cao để hạ giá
thành sản phẩm.
Việc chuyển giao công nghệ lạc hậu đã gây ra những thiệt hại cho nớc
nhận đầu t nh là:
* Rất khó có thể xác định đợc giá trị thật của những máy móc chuyển
giao đó, do đó nớc nhận đầu t thờng bị thiệt hại trong việc tính tỷ lệ góp vốn
trong các xí nghiệp liên doanh, và hậu quả bị thua thiệt trong việc chia sẻ lợi
nhuận.
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
* Chất lợng sản phẩm thấp, chi phí sản xuất cao do đó sản phẩm trong
nớc khó có thể cạnh tranh trên thị trờng quốc tế.
3.2.3. Về cơ cấu ngành và lãnh thổ.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài làm cơ cấu đầu t theo ngành và lãnh thổ của n-
ớc sở tại bất hợp lý, gây ra tình trạng đầu t tràn lan kém hiệu quả và tài nguyên
thiên nhiên bị khai thác quá mức. Các nhà đầu t trực tiếp nớc ngoài nhiều khi
sản xuất và bán những hàng hoá không thích hợp cho các nớc đang phát triển
thậm chí đôi khi còn có hại cho sức khoẻ con ngời và gây ô nhiễm môi trờng
Vì mục đích của nhà đầu t là kiếm lợi nhuận nên họ đầu t vào những nơi có lợi
nhất, do đó nhiều khi lợng vốn nớc ngoài đã làm tăng thêm sự mất cân đối
giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị. Sự mất cân đối này có thể dẫn đến
bất ổn về chính trị.
3.2.4. Về các vấn đề khác.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài thờng đẩy các công ty nớc sở tại đi đến phá
sản do các công ty có vốn đầu t nớc ngoài có thế mạnh về tài chính kỹ thuật và
có khi còn đợc hởng nhiều u đãi hơn các công ty bản địa.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài gây ra tình trạng phân phối không đồng đều ở

vật nuôi phong phú có giá trị kinh tế cao nh: (Cao su, cà phê, chè, điều) cây
công nghiệp ngắn ngày nh: (lạc, đậu tơng, đay, mía).
Do điều kiện thiên nhiên thuận lợi, Việt Nam có nguồn tài nguyên thiên
nhiên rừng rất phong phú, đa dạng, nhiều thế hệ sinh thái rừng tiêu biểu cho
vùng nhiệt đới. Rừng Việt Nam không chỉ cung cấp nhiều loại lâm sản có giá
trị cao mà còn có vai trò quan trọng đối với việc bảo vệ và cải thiện môi trờng
sinh thái. Nhiều khu rừng có giá trị bảo tồn thiên nhiên, nghiên cứu khoa học,
là cảnh quan đẹp, nơi nghỉ mát, tham quan du lịch v.v
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bên cạnh những thuận lợi nói trên, điều kiện tự nhiên Việt Nam cũng
gây nhiều khó khăn lớn nh: Lợng ma lớn, ma nhiều tập trung vào một vài
tháng (tuỳ theo vùng) trong năm, gây lũ lụt, ngập úng. Mùa khô thờng gây khô
hạn thiếu nớc không chỉ cho lâm nghiệp mà còn ảnh hởng đến đời sống sinh
hoạt của ngời dân nhất là ở các tỉnh miền Trung Việt Nam . khí hậu ấm, ẩm ớt
dễ phát sinh và lây lan sâu bệnh, dịch bệnh gây ra tổn thất lớn đối với mùa
màng, cây trồng và vật nuôi.
Lâm nghiệp mà cụ thể là ngành công nghiệp rừng là ngành kinh tế quan
trọng, chúng ta có nhiệm vụ quản lý và xây dựng 9,3 triệu ha rừng tự nhiên và
rừng trồng cùng với hơn 10 triệu hecta đất rừng có khả năng sản xuất nông
lâm nghiệp .
Nhà nớc rất quan tâm tới việc bảo vệ và phát triển rừng. Vì vậy, nghề
rừng đã từng bớc đợc xây dựng, củng cố, phát triển và đã có những đóng góp
tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần nâng cao đời
sống nhân dân, nhất là đồng bào các dân tộc vùng trung du và miền núi.
Hơn một phần ba thế kỷ qua, khoa học-công nghệ đã trở thành một
trong những động lực phát triển kinh tế lâm nghiệp, đóng góp tích cực vào
thành tựu của ngành qua từng giai đoạn.
2. Lịch sử hình Ngành Lâm nghiệp Việt Nam.
a. Quá trình hình thành các bộ phận nghiên cứu Khoa học Lâm nghiệp.

Lâm nghiệp và cơ khí Lâm nghiệp.
Hoạt động nghiên cứu trên thực địa đợc các Trung tâm đảm nhiệm,
mạng lới Trung tâm thực nghiệm phân bố trên các địa bàn nhiều rừng, tiêu
biểu cho từng vùng sinh thái gồm:
1. Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trờng rừng.
2. Trung tâm Nghiên cứu giống cây rừng.
3. Trung tâm thí nghiệm và chuyển giao kỹ thuật công nghiệp rừng.
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
4. Trung tâm khoa học sản xuất Lâm nghiệp Đông Bắc Bộ.
5. Trung tâm khoa học sản xuất vùng Tây Bắc.
6. Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm Lâm sinh Cầu Hai.
7. Trung tâm khoa học sản xuất Lâm nghiệp vùng Bắc Trung Bộ.
8. Trung tâm nghiên cứu lâm đặc sản.
9. Phân viện nghiên cứu khoa học Lâm nghiệp Nam Bộ.
10. Trung tâm Lâm nghiệp nhiệt đới.
11. Trung tâm khoa học sản xuất cùng Đông Nam Bộ.
12.Trung tâm nghiên cứu lâm sainh Lâm Đồng.
13.Trung tâm ứng dụng khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp.
14. Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng kỹ thuật rừng ngập mặn Minh
Hải.
15.Trung tâm thực nghiệm Lâm nghiệp Kon Nà Nừng.
16. Trung tâm giống và kinh doanh đặc sản rừng (EAKmat).
17. Xí nghiệp chế biến hạt điều.
Với cơ cấu tổ chức nh trên, Viện nghiên cứu Lâm nghiệp đảm nhiệm
nghiên cứu khoa học kỹ thuật trong tất cả các lĩnh vực có liên quan đến Lâm
nghiệp, tuy nhiên còn nhiều lĩnh vực mà trên thực tế Viện cha có khả năng vơn
tới nh động vật rừng, thực vật dới tán rừng v.v
Viện có nhiệm vụ đào tạo cán bộ trên đại học cho chuyên ngành lâm
sinh học, công nghiệp rừng, gia công chế biến lâm sản.

rừng đã cung cấp hàng triệu mét khối gỗ, hàng trục vạn tấn nguyên liệu lâm
sản, hàng trăm triệu cây tre nứa cho các nhu cầu ở trong nớc và xuất khẩu.
Sản phẩm lấy từ rừng ra còn có những đặc sản có giá trị làm nguyên liệu cho
công nghiệp (dợc, sơn, hơng liệu), thủ công nghiệp tạo thêm việc làm cho
hàng triệu lao động và đem lại nguồn lợi đáng kể cho từng hộ gia đình cũng
nh nguồn thu Ngân sách.
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
b. Các hoạt động chính của Ngành Lâm nghiệp bao gồm :
* Quản lý và bảo vệ rừng:
- Xây dựng hệ thống rừng đặc dụng: Cho đến nay cả nớc đã có hơn 100
khu rừng đặc dụng bao gồm 11 vờn quốc gia, 64 khu bảo tồn thiên nhiên và 32
khu rừng văn hoá lịch sử, môi trờng.
- Xây dựng hệ thống rừng phòng hộ: Nhà nớc giao cho các chủ rừng là
các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình (nông dân) quản lý.
- Định canh, định c: Vận động định canh định c gắn với việc giao đất
giao rừng, nhằm hạn chế nạn phá rừng , phát triển kinh tế xã hội miền núi.
- Tăng cờng quản lý Nhà nớc về quản lý và bảo vệ rừng theo các luật
bảo vệ và phát triển rừng, luật bảo vệ môi trờng và luật đất đai nhằm tăng hớng
quản lý bảo vệ rừng từ trung ơng đến địa phơng.
- Phòng chữa cháy rừng và phòng trừ sâu bệnh nhằm hạn chế sự phá
hoại của sâu bệnh, tác hại của cháy rừng.
* Trồng rừng và trồng cây nhân dân:
- Giai đoạn 1955-1975 Diện tích rừng trồng là 219.290 ha.
- Giai đoạn 1976-1985 diện tích rừng trồng là 1.054.281 ha.
- Giai đoạn 1986-1995 diện tích rừng trồng là 1.015.449 ha.
- Giai đoạn 1996 đến nay diện tích rừng trồng là 1.471.394 ha.
- Trong quá trình trồng rừng phải chú ý đến vấn đề cơ cấu cây trồng,
giống, kỹ thuật cây trồng, quản lý, khoa học kỹ thuật.
- Phong trào trồng cây phân tán áp dụng chủ yếu ở các vùng đồng bằng,

phẫu thực vật và gỗ, 1 phòng thí nghiệm cơ lý gỗ.
* Phòng nghiên cứu bảo vệ thực vật rừng.
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Phòng nghiên cứu bảo vệ thực vật rừng đợc thành lập năm 1961. Lĩnh
vực nghiên cứu của phòng nghiên cứu về côn trùng rừng, bệnh hại cây rừng và
vi sinh vật rừng.
Đội ngũ cán bộ của phòng gồm có 1 tiến sĩ, 1 nghiên cứu sinh, 4 kỹ s.
Cơ sở vật chât của phòng có các phòng thí nghiệm côn trùng, nấm bệnh, vi
sinh vật cộng sinh và phòng sản xuất các chế phẩm sinh học.
* Phòng nghiên cứu bảo quản lâm sản.
Phòng nghiên cứu bảo quản lâm sản đợc thành lập vào năm 1961.
Phòng này nghiên cứu sinh vật hại lâm sản, kỹ thuật phong trừ sinh vật gây hại
lâm sản, kỹ thuật ngâm tẩm bảo quản lâm sản và thuốc bảo quản lâm sản.
Về năng lực nghiên cứu của phòng gồm có 1 tiến sĩ, 1 nghiên cứu sinh,
2 học viên cao học và 7 kỹ s. ngoài ra còn có các phòng thí nghiệm: Nấm, côn
trùng, ngâm tẩm và thuốc bảo quản.
* Phòng nghiên cứu cơ khí Lâm nghiệp.
Đợc thành lập vào năm 1998 trên cơ sở sát nhập hai phòng: Phòng công
cụ và Cơ giới hoá trồng rừng và phòng Cơ khí khai thác và vận chuyển lâm
sản.
Các lĩnh vực nghiên cứu của phòng: Cơ giới hoá trồng rừng; Cơ khí hoá
khai thác vận chuyển lâm sản và nghiên cứu về các máy móc thiết bị phục vụ
công nghệ chế biến gỗ.
Năng lực nghiên cứu của phòng: 2 tiến sĩ, 1 nghiên cứu sinh và 4 kỹ s.
* Phòng nghiên cứu chế biến lâm sản.
Đợc thành lập vào năm 1992 với nhiệm vụ nghiên cứu các lĩnh vực nh:
Tạo các sản phẩm ván nhân tạo và các sản phẩm chế biến khác từ nguyên liệu
gỗ rừng trồng; Nghiên cứu tính chất công nghệ của gỗ.
Phòng nghiên cứu chế biến lâm sản có 1 tiến sĩ và 4 kỹ s.

25

Trích đoạn Những thành công trong thu hút và sử dụng vốn FDI trong lâm nghiệp Những mặt hạn chế và tồn tại trong thu hút và sử dụng vốn ĐTNN trong lâm nghiệp Những khó khăn.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status