Khoá luận tốt nghiệp Đại học
Trƣờng ĐHSP Hà Nội 2
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Triệu Thanh Loan
Sinh viên lớp K34D, khoa Sinh - Kỹ thuật nông nghiệp, trƣờng Đại học
Sƣ phạm Hà Nội 2.
Tôi xin cam đoan luận văn này do chính tôi thực hiện, dƣới sự hƣớng
dẫn khoa học của Th.S. Dƣơng Tiến Viện. Số liệu và kết quả nghiên cứu
trong luận văn hoàn toàn trung thực và chƣa đƣợc sử dụng bảo vệ bất cứ một
công trình khoa học nào.
Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đƣợc chỉ rõ nguồn gốc.
Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 4 tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Triệu Thanh Loan
SV: Triệu Thanh Loan
Lớp K34D – Sinh KTNN
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
Trƣờng ĐHSP Hà Nội 2
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trì nh học tập và hoàn thành luận văn này , tôi đã nhận
đƣợc sƣ̣ hƣớng dẫn , giúp đỡ quý báu của các thầy cô , các anh chị, các em và
các bạn. Với lòng kí nh trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin đƣợc bày tỏ lời cảm ơn
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU
1
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục đích - yêu cầu của đề tài
3
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
4
1.1. Nguồn gốc và phân loại
4
1.2. Giá trị kinh tế
8
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
Trƣờng ĐHSP Hà Nội 2
3.1. Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội
18
3.1.1 .Điều kiện tự nhiên
18
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
19
3.2. Đặc điểm cây, quả hồng không hạt Gia Thanh
19
3.3. Thực trạng sản xuất hồng không hạt tại địa phƣơng
21
3.3.1. Một số chính sách của tỉnh Phú Thọ nhằm khuyến khích
21
phát triển sản xuất hồng không hạt
3.3.2. Quá trình phát triển hồng không hạt Gia Thanh tại xã
36
THANH
SV: Triệu Thanh Loan
Lớp K34D – Sinh KTNN
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
Trƣờng ĐHSP Hà Nội 2
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH
Bảng
Tên bảng
Trang
1.1
Diện tích, sản lƣợng hồng một số nƣớc trên thế giới
10
1.2
Diện tích, sản lƣợng hồng ở Việt Nam
Giá trị kinh tế của cây ăn quả trồng tại Gia Thanh (Phù Ninh
28
- Phú Thọ)
3.5
Hiệu quả kinh tế của các cây ăn quả trong từng hộ gia đình
Hình
3.1
Tên hình
31
Trang
Tình hình phát triển hồng không hạt tại Gia Thanh - Phù
22
Ninh Phú Thọ
1
Cây giống đƣợc ƣơm trong bầu
36
2
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
Trƣờng ĐHSP Hà Nội 2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ở nƣớc ta hiện nay có nhiều cây ăn quả đặc sản đƣợc ƣu tiên phát triển
trong sản xuất nông nghiệp ở từng vùng. Trong đó có cây hồng không hạt Gia
Thanh, là một trong số những đặc sản nổi tiếng của tỉnh Phú Thọ.
Cây hồng (Diospyros kaki T.) là một trong những loại cây ăn quả quan
trọng của các nƣớc châu Á thuộc miền ôn đới nhƣ Trung Quốc, Nhật Bản,
Triều Tiên, Việt Nam.
Ở Việt Nam, quả hồng là một loại quả quý rất đƣợc ƣa dùng bởi vị ngọt
mát, đậm đà, phù hợp với mọi lứa tuổi. Ngoài các chất bổ dƣỡng trong quả,
các bộ phận khác của cây hồng có mặt trong nhiều bài thuốc của Y học
phƣơng Đông: "thị đế" - tai hồng, "thị tất" - nƣớc ép quả hồng, "thị sƣơng" đƣờng tiết ra từ quả hồng khi làm mứt. Quả ngon, mà còn đẹp nên hồng
thƣờng đƣợc sử dụng nhiều trong các ngày lễ long trọng của dân tộc.
Cây hồng đƣợc ngƣời xƣa mệnh danh là "thất tuyệt" bởi nhiều ƣu điểm
mà các cây trồng khác không có nhƣ: dễ trồng, chịu khô hạn, chịu đất xấu ít
thâm canh, ít sâu bệnh, cây bền, lá to tán rộng cho nhiều bóng mát. Năng suất
cây ổn định, phẩm vị quả ngon cho nên trồng hồng cho thu nhập cao hơn
nhiều so với các loại cây khác.
Do những đặc điểm trên nên cây hồng là một trong những cây trồng
chủ lực trong chủ trƣơng thay đổi cơ cấu cây trồng, thực hiện xóa đói giảm
nghèo trong nông nghiệp và nông thôn của tỉnh Phú Thọ.
Xã Gia Thanh (huyện Phù Ninh - tỉnh Phú Thọ) không chỉ đƣợc nhiều
ngƣời biết đến bởi nghề nón lá truyền thống, mà ở đây còn nổi tiếng vì một
loại đặc sản quý, đó là hồng Gia Thanh. Không biết giống hồng này có từ bao
nâng cao hiệu quả sản xuất và bảo vệ tài nguyên đất. Mặt khác hồng Gia
Thanh là giống địa phƣơng nên rất thích hợp với điều kiện tự nhiên của vùng
sản xuất, ngƣời dân am hiểu và có nhiều kinh nghiệm trồng và chăm sóc cây.
Vùng phát triển dự án là xã Gia Thanh - huyện Phù Ninh, với trên 360 ha đất
nông nghiệp, chủ yếu là đất đồi rất phù hợp với sự phát triển của cây hồng, có
thể đem lại năng xuất và giá trị kinh tế cao hơn trồng các loại cây khác nhƣ
cây bạch đàn, sắn, cọ...
SV: TriÖu Thanh Loan
Líp K34D – Sinh KTNN
2
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
Trƣờng ĐHSP Hà Nội 2
Trải qua nhiều thăng trầm, có lúc cây hồng ở đây bị lãng quên bởi
nhiều lý do. Ngày nay, do điều kiện sống thay đổi, loại quả đặc sản này đƣợc
nhiều ngƣời ƣa thích hơn, vì thế hồng Gia Thanh đƣợc trở lại vị thế và trở
thành loại cây trọng điểm đem lại hiệu quả kinh tế cao cho nhân dân xã Gia
Thanh nói riêng và của tỉnh nói chung.
Những năm gần đây, nhiều hộ dân trong xã đã mạnh dạn cải tạo vƣờn
tạp, phá bỏ các cây trồng hiệu quả thấp, đƣa giống hồng Gia Thanh vào trồng
trên diện rộng và bƣớc đầu đem lại hiệu quả cao.
Là sinh viên chuyên ngành kỹ thuật nông nghiệp, em rất quan tâm đến
lĩnh vực cây ăn quả, đặc biệt là hƣớng bảo tồn, phát triển và giá trị kinh tế của
các loại cây đặc sản ở nƣớc ta nói chung và ở quê hƣơng em nói riêng. Do
vậy em chọn đề tài : “Đánh giá thực trạng phát triển và hiệu quả kinh tế
của giống hồng không hạt Gia Thanh, trồng tại xã Gia Thanh - huyện
1.1.1. Nguồn gốc
Cây hồng (Diospyros) thuộc bộ thị (Ebenales), họ thị (Ebenaceae).
Đƣợc trồng phổ biến nhất hiện nay là hồng phƣơng Đông (Diospyros kaki T.),
có nơi gọi là “hồng Á nhiệt đới”, “hồng Nhật Bản”. Loài hồng này, nguyên
thủy xuất phát từ Trung Quốc (nguyên sản ở lƣu vực sông Trƣờng Giang,
phân bố tự nhiên ở 33°- 37° vĩ Bắc), là một loài cây thay lá, thƣờng rụng lá
khi ra quả. (Võ Văn Chi, Dƣơng Đức Tiến [1]; Trần Thế Tục [12].)
Ở Trung Quốc ngƣời ta dùng gốc ghép hồng là Diospyros
rhombifolia.H.,còn ở vùng núi miền Tây Trung Quốc có mọc hoang dại loài
hồng Trung Quốc (D.sinensis H) - dạng này rất gần với hồng phƣơng Đông
nhƣng khác về kích thƣớc lá và quả. Theo ý kiến của N.M. Murri (1994) và
nhiều nhà nghiên cứu khác, loại hình trồng trọt của hồng bắt nguồn từ sự lai
tạo tƣ nhiên của hai dạng này để chọn giống, ngƣời ta sử dụng hồng Mêhicô
(D.elenastee) có đặc điểm sản lƣợng ổn định, phẩm chất tốt. Những cây dại
của hồng phƣơng Đông đặc biệt nhiều ở các tỉnh miền Nam Trung Quốc, ở đó
chúng sinh trƣởng trên độ cao cách mặt biển 1200 m [12].
Cây hồng sau khi đƣợc trồng khắp miền Đông Á, đến thế kỷ 19 đƣợc
phổ biến vào Đông Nam Á, châu Âu, Bắc và Nam Mỹ, các nƣớc Địa Trung
Hải.
SV: TriÖu Thanh Loan
Líp K34D – Sinh KTNN
4
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
Trƣờng ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
Trƣờng ĐHSP Hà Nội 2
quả thƣờng có những đốm tanin sẫm. Các giống thuộc nhóm này nhƣ: Fuju,
Jiro, Gosh, Suruga...
- Nhóm 2: Nhóm PVNA (Pollination Variant Non - Astringent) là
nhóm gồm những giống không chát và biến đổi với sự thụ phấn, thịt quả có
những đốm tanin sẫm, khi không có hạt thì thịt quả có vị chát. Các giống
thuộc nhóm này nhƣ: Zenjimaru, Shogatsu, Mizushima, Anahya kume...
- Nhóm 3: Nhóm PCA (Pollination Constant Astringent) là nhóm gồm
những giống chát, không biến đổi với sự thụ phấn, thịt quả không có những
đốm tanin sẫm. Các giống thuộc nhóm này nhƣ: Yokomo, Yosumizo,
Shakokashi, Hagakushi, Hachiya...
- Nhóm 4: Nhóm PVA (Pollination Variant Astringent) là nhóm gồm
những giống chát và biến đổi với sự thụ phấn, quả có thể chát khi đƣợc thụ
phấn và có một vài đốm tanin sẫm xung quanh hạt. Các giống thuộc nhóm
này nhƣ: Azumi, Shirazu, Emon, Kosshuhya kume, Hiratanenashi.
* Theo Phạm Văn Côn trích dẫn tài liệu của Voronxov (1982) [12] thì
trên thế giới hiện nay trồng phổ biến 03 loại hồng là:
- Hồng dại (Diospyros lotus L): Nhị bội thể 2n = 30, cây có thể cao 2030 m, đƣờng kính gốc thân có thể đạt 70 cm, thuộc loại cây có hoa đơn tính
khác gốc, quả bé (trọng lƣợng trung bình 15 g/quả), rất chát.
- Hồng Virgi (D.virginiana L): Tứ bội thể 4n = 60 hoặc lục bội thể
6n = 90, cây có thể cao 30-35 m, đƣờng kính gốc thân có thể đạt 70-80 cm,
thuộc loại cây có hoa đơn tính khác gốc, quả bé (trung bình 22 g/quả), quả khi
chín màu đỏ thơm ngon không chát, chất lƣợng quả tốt hơn hồng phƣơng
Đông.
- Hồng phƣơng Đông (D.kaki T): Lục bội thể 6n = 90, cây sinh trƣởng
màu xanh sẫm, mặt dƣới lá có màu vàng nhạt. Quả chƣa chín có màu xanh
lục, nhẵn, trơn, khi chín có màu vàng đỏ, quả có thể không hạt hoặc ít hạt hơn
so với hai loài trên tuỳ theo giống, hạt nhỏ khó mọc mầm, cây sinh trƣởng
khoẻ, phẩm chất quả ngon. Loài này đƣợc chia ra hai nhóm chính là hồng
ngâm và hồng dấm:
SV: TriÖu Thanh Loan
Líp K34D – Sinh KTNN
7
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
Trƣờng ĐHSP Hà Nội 2
+ Nhóm hồng ngâm: Chất chát (tanin) trong quả có khả năng hoà tan
trong nƣớc, nên đƣợc khử chát bằng cách ngâm quả trong nƣớc sạch để rút
chất chát (tanin) trong qua ra làm cho quả không còn vị chát, cũng có thể đem
dấm cho quả chín mềm mà không cần ngâm, khi đó tanin ở dạng tự do chuyển
sang dạng kết hợp thì quả sẽ có vị ngọt và không còn vị chát, nếu sử lý chát
bằng dấm chín thì quả sẽ ngọt hơn so với ngâm vì trong quá trình dấm thì một
phần chất tanin đƣợc chuyển thành đƣờng.
+ Nhóm hồng dấm: Chất tanin trong quả thuộc dạng không hoà tan
trong nƣớc. Nên đƣợc khử chát bằng cách dấm đất đèn hoặc đốt hƣơng... Sau
khi đƣợc dấm thì quả chín mềm và không còn chát.
1.2. Giá trị kinh tế
Cây hồng (Diospyros kaki T.) là một trong những loại cây ăn quả quan
trọng của nƣớc châu Á thuộc miền ôn đới nhƣ Trung Quốc, Nhật Bản, Triều
Tiên, Việt Nam,... và là một trong những cây ăn quả Á nhiệt đới chịu rét nhất.
đƣờng manit dùng chữa đau và khô cổ họng. Nƣớc ép từ quả hồng chƣa chín
phơi hay sấy khô gọi là “Thị tất” dùng chữa huyết áp cao [4].
Theo Kotami và các cộng sự (2000) cho biết: Chất tanin và các hợp
chất trong quả có nhiều tác dụng sinh lý nhƣ kháng khuẩn, chống dị ứng, làm
giảm chứng cao huyết áp.
Việc trồng hồng đƣợc sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau, ngoài ăn
quả còn để chữa các bệnh nhƣ: Bệnh liệt, tê cóng, bỏng và làm ngƣng chảy
máu vì trong lá của hồng có rất nhiều chất nhƣ tanin, phenol, axit hữu cơ,
chlorophyl… nhƣng tanin là yếu tố chủ yếu [14].
Cây hồng là cây ăn quả quý không chỉ đem lại thu nhập cao mà còn có
giá trị tạo cảnh quan và góp phần bảo vệ môi trƣờng sinh thái bền vững. Phát
triển cây hồng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, xuất khẩu và góp phần trong
chuyển dịch cơ cấu cây trồng nông nghiệp theo hƣớng sản xuất hàng hoá.
1.3. Những nghiên cứu về phân bố và sản xuất hồng
1.3.1. Phân bố và sản xuất hồng trên thế giới
Các nghiên cứu đều cho rằng Trung Quốc là nƣớc trồng hồng nhiều
nhất thế giới, hồng đƣợc trồng trên khắp đất nƣớc Trung Quốc (trừ các tỉnh
Hắc Long Giang, Nội Mông, Tân Cƣơng và Tây Tạng), các tác giả Trung
Quốc cho rằng vùng trồng hồng tốt nhất là từ vĩ tuyến 33°- 37° vĩ Bắc, ở đây
SV: TriÖu Thanh Loan
Líp K34D – Sinh KTNN
9
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
Trƣờng ĐHSP Hà Nội 2
có nhiều giống hồng tốt, chất lƣợng cao, sinh trƣởng, phát dục thuận lợi (Vũ
tích
lƣợng
tích
lƣợng
(ha)
(tấn)
(ha)
(tấn)
(ha)
(tấn)
540.003 1.775.338 603.108 1.833.357 653.200 1.825.000
Quốc
Hàn Quốc
29.070
281.143
27.943
6.700
67.000
Italia
2.891
54.170
2.900
55.000
2.900
55.000
Israen
4.400
39.800
4.400
39.400
4.400
1.000
100
1.000
100
1.000
Australia
75
650
75
650
75
650
Mehico
50
450
chín rất ngọt, hƣơng vị đậm đà và có tập quán thƣờng dùng thìa ăn hồng khi
đã chín nhũn (Vũ Công Hậu [8]; Trần Thế Tục [12] ).
1.3.2. Phân bố và sản xuất hồng ở Việt Nam
SV: TriÖu Thanh Loan
Líp K34D – Sinh KTNN
11
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
Trƣờng ĐHSP Hà Nội 2
Hồng là loại cây ăn quả quan trọng đã đƣợc trồng từ rất lâu ở Việt Nam
vì quả hồng có phẩm vị ngon, trồng hồng có hiệu quả kinh tế cao hơn so với
trồng một số loại cây ăn quả khác nhƣ mơ, mận, đào...
Bảng 1.2. Diện tích, sản lƣợng hồng ở Việt Nam
Năm
Diện tích (ha)
Năng suất (Tạ/ha) Sảnlƣợng (tấn)
1998
2.575,00
46,00
Tên tỉnh
Diện tích (ha)
Tỷ lệ (%)
1
Thái Nguyên*
1.565,00
17,24
2
Bắc Giang
1.562,00
17,20
3
Lâm Đồng*
700,00
7,71
631,50
6,96
7
Bắc Cạn
173,00
1,91
8
Nghệ An*
221,00
2,43
9
Hà Tĩnh*
229,00
2,52
10
- Hồng Gia Thanh (Phù Ninh - Phú Thọ)
Cây sinh trƣởng khỏe, có dạng tán hình bán cầu, thân xù xì, phân cành
ngang, so hồng Hạc Trì hồng Gia Thanh tán cây rộng và phân cành không
gọn, lá cây hồng Gia Thanh nhọn ngắn, có mầu xanh vàng.
Quả hồng to, không có rãnh, không có hạt, quả nặng 80-200 g. Khi chín
cả vỏ và thịt quả màu vàng, dáng quả vuông dƣới quả thuôn tròn, đáy quả hơi
lõm. Thịt quả ăn giòn, vị ngọt đậm, mùi thơm đặc trƣng. Quả hồng chín vào
khoảng rằm tháng bảy đến rằm tháng tám âm lịch.
- Hồng Hạc Trì (Việt Trì - Phú Thọ)
SV: TriÖu Thanh Loan
Líp K34D – Sinh KTNN
13
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
Trƣờng ĐHSP Hà Nội 2
Cây sinh trƣởng khỏe. Thân, cành xù xì, tán cây dạng tròn, phân cành
xiên, dáng cành hơi rủ, lá xanh đậm mép lá hơi vểnh ngƣợc.
Quả to không có hạt, mẫu mã đẹp, dạng quả vuông thành chia bốn múi
lõm sâu rõ rệt, đỉnh và đáy quả cũng lõm sâu, nặng 100-150 g, quả có màu
xanh vàng, khi chín có màu vàng sáng, thịt quả vàng đậm có nhiều cát ăn
giòn, ngọt mát, thời gian chín và thu hoạch vào khoảng trung tuần tháng 9.
- Hồng Tiến (Lập Thạch - Vĩnh Phúc)
Cây cao trên 10 m, tán rộng trên 8 m. Lá to hình bầu dục, mặt trên màu
xanh đậm, không bóng, mặt dƣới màu trắng xanh có nhiều lông tơ.
Quả hình trụ vuông. Trọng lƣợng quả trung bình 120-160 g, không hạt
ngọt, giòn, thích hợp cho việc vận chuyển đi xa, thời gian thu hoạch sớm từ
tháng 6 - 8.
- Hồng Trứng muộn (Đà Lạt - Lâm Đồng)
Cây có tán trung bình, năng suất cao có thể đạt 3-4 tạ/cây/năm, chống
chịu tốt, quả khó rụng khi gió lớn.
Quả hình trứng, khi chín có màu hồng, bóng. Chất lƣợng quả không
bằng hồng trứng lốc, nhƣng vì chín muộn (thu hoạch hàng năm vào tháng 1011) nên giá bán cao.
- Hồng Pome tròn (Đà Lạt - Lâm Đồng)
Quả tròn to, mã đẹp, năng suất tƣơng đối cao, trung bình đạt 1
tạ/cây/năm. Quả chín có mầu đỏ son, phẩm chất tốt, rất đƣợc ƣa chuộng. Thu
hoạch muộn vào tháng 9 - 10 hàng năm.
- Hồng Chén (Đà Lạt - Lâm Đồng)
Cây có tán lá trung bình, cành yếu nên thƣờng phải có biện pháp chống
đỡ khi quả lớn. Lá nhiều, thƣờng che khuất quả, năng suất trung bình, quả
lớn, hơi dẹt về phía cuống, phẩm chất tốt, đƣợc ngƣời tiêu dùng ƣa chuộng.
Thu hoạch muộn vào tháng 9-10 hàng năm.
- Hồng ăn liền (Đà Lạt - Lâm Đồng)
Cây có tán lá thấp bé, có thể trồng với mật độ dày. Quả tròn dẹt không
có hạt, khi chín mầu vàng đỏ, có thể ăn ngay khi quả ở trạng thái cứng, thịt
quả giòn, ngọt, trọng lƣợng trung bình 200-250 g/quả.
- Hồng vuông Thạch Hà (Hà Tĩnh)
SV: TriÖu Thanh Loan
Líp K34D – Sinh KTNN
15
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
16
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
Trƣờng ĐHSP Hà Nội 2
2.2. Thời gian - địa điểm nghiên cứu
- Thời gian:
Năm 2011 - 2012
- Địa điểm nghiên cứu:
Xã Gia Thanh - huyện Phù Ninh - tỉnh Phú Thọ.
2.3. Nội dung, phƣơng pháp nghiên cứu
2.3.1. Nội dung
- Thực trạng sản xuất hồng không hạt tại xã Gia Thanh - huyện Phù
Ninh - tỉnh Phú Thọ.
+ Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội .
+ Đặc điểm cây, quả hồng không hạt Gia Thanh.
+ Tình hình sản xuất và tiêu thụ .
- So sánh hiệu quả kinh tế của hồng Gia Thanh
- Đánh giá giá trị kinh tế của cây hồng không hạt Gia Thanh và các loại
cây ăn quả, cây lâm nghiệp khác đƣợc trồng ở địa phƣơng; từ đó so sánh hiệu
quả kinh tế sản xuất hồng không hạt Gia Thanh với các loại cây trồng khác.
2.3.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phƣơng pháp thu thập tài liệu nghiên cứu :
+ Số liệu thứ cấp:
Tài liệu đã đƣợc công bố qua sách báo, tạp chí, internet, các số liệu
thống kê,báo cáo, kế hoạch dự án của phòng NN & PTNN huyện Phù Ninh,
tỉnh Phú Thọ.
Trƣờng ĐHSP Hà Nội 2
Huyện Phù Ninh nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Phú Thọ, dọc trên
đƣờng quốc lộ số 2. Phía Bắc giáp huyện Đoan Hùng và tỉnh Tuyên Quang;
phía Nam giáp huyện Lâm Thao và thành phố Việt Trì; phía Tây giáp huyện
Thanh Ba và thị xã Phú Thọ; phía Đông có sông lô bao bọc, là địa giới với
huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, rất thuận lợi về giao thông thủy bộ.
Xã Gia Thanh là một xã nằm sát trung tâm huyện, thị trấn giao thông
thuận tiện của huyện Phù Ninh, nằm trong tam giác khu công nghiệp Việt Trì
- Lâm Thao - Bãi Bằng nên có nhiều lợi thế về thị trƣờng tiêu thụ nông sản
phẩm, nhất là hoa quả tƣơi.
- Đất đai và địa hình
Huyện Phù Ninh - tỉnh Phú Thọ có tổng diện tích đất tự nhiên là
16.723,26 ha. Trong đó diện tích đất nông nghiệp là 8420,58 ha chiếm
50,24% diện tích đất tự nhiên, đất đồi gò và đất vƣờn là 5250,8 ha chiếm
62,49% diện tích đất tự nhiên. Đất đai ở đây chủ yếu thuộc nhóm đỏ vàng,
vàng nhạt phát triển trên đá Gnai. Đất có tầng canh tác dầy > 70 cm. Địa hình
chủ yếu là đồi thấp có độ dốc từ 3 đến 25°.
Vùng thực hiện dự án phát triển giống hồng không hạt là xã Gia Thanh,
xã có trên 50% là đất nông nghiệp trên tổng diện tích toàn xã là 620,65 ha,
nơi có đất đai địa hình đại diện cho diện tích đất đồi gò và đất vƣờn của
huyện.
- Khí hậu – thời tiết
Với điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm là
23,5°C, số giờ nắng trung bình cả năm là 1.353 giờ, lƣợng mƣa trung bình
khoảng 1600- 1700 mm, độ ẩm trung bình 86%, sƣơng muối và mƣa đá
không xảy ra hoặc tần xuất xảy ra rất thấp, đây là điều kiện thuận lợi để cây
hồng sinh trƣởng và phát triển tốt, ra hoa đậu quả ổn định.
3.1.2. Điều kiện kinh tế- xã hội