TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
PHÒNG SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN
MỘT SỐ VẤN ĐỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP
(CHƯƠNG TRÌNH SAU ĐẠI HỌC)
VẤN ĐỀ
SỬ DỤNG LAO ĐỘNG
TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
Ở BẮC NINH.
HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Người hướng dẫn:
PGS. TS. Phạm Xuân Hậu
Người thực hiện:
Trần Thanh Trúc
Học viên cao học:
Khóa 25
Ngành:
Địa lí học
2
2.2.2. Tính ổn định của nguồn lao động .................................................................................13
3
2.2.3. Đời sống vật chất và tinh thần của người lao động ......................................................13
2.3. Nguyên nhân của hiện trạng trên......................................................14
2.4. Giải pháp..............................................................................................15
- Các đơn vị đào tạo cũng như các nhà DN cần xây dựng chiến lược lâu dài về
nhân lực, cả trong đào tạo, cung ứng, tuyển dụng và sử dụng lao động. Chiến
lược phải được cụ thể hóa bằng những chính sách, kế hoạch đào tạo, tuyển
dụng; trang bị những kiến thức về pháp luật, tác phong công nghiệp, văn hóa
lao động, quyền lợi chính đáng của người lao động cũng như người sử dụng
lao động đều phải được bảo vệ theo đúng pháp luật nhằm đáp ứng nhu cầu
của các doanh nghiệp, đồng thời đáp ứng được yêu cầu phát triển của thời đại.
.........................................................................................................................17
........................................................................................................................17
........................................................................................................................17
KẾT LUẬN.....................................................................................................17
TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................18
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước ta luôn xem
con người là yếu tố đặc biệt quan trọng, nên đã không ngừng đào tạo, bồi dưỡng
nguồn lao động đáp ứng yêu cầu, mục tiêu đề ra ở từng thời kỳ. Tuy nhiên, lực
lượng lao động nước ta tuy đông nhưng về chất lượng nhìn chung còn thấp nên tình
trạng thiếu lao động qua đào tạo đang là tình trạng chung của nhiều doanh nghiệp ở
các khu công nghiệp. Đặc biệt đối với Bắc Ninh, từ xưa đã là nơi hội tụ giao lưu
Để đạt được mục đích nêu trên thì tiểu luận cần phải thực hiện những nhiệm
vụ quan trọng sau:
- Một là: Tổng hợp tài liệu liên quan đến vấn đề sử dụng lao động trong các
khu công nghiệp ở Việt Nam và ở Bắc Ninh.
5
- Hai là: Tìm hiểu thực tiễn vấn đề sử dụng lao động trong các khu công
nghiệp ở Bắc Ninh.
- Ba là: Tìm kiếm, đề xuất các giải pháp cho vấn đề sử dụng lao động ở các
khu công nghiệp của Bắc Ninh trong thời gian trước mắt và lâu dài.
3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp xuyên suốt mà tiểu luận sử dụng là phương pháp biện chứng duy
vật, ngoài ra tiểu luận còn sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp
phân tích tổng hợp tài liệu; phương pháp thống kê, logic lịch sử; phương pháp quy
nạp, diễn dịch; phương pháp mô hình hóa; phương pháp nghiên cứu thực địa…
4. Kết cấu tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, tiểu luận gồm có
2 chương:
Chương 1: Khái quát chung về sự phát triển công nghiệp ở Bắc Ninh
Chương 2: Vấn đề sử dụng lao động trong các khu công nghiệp ở Bắc Ninh.
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ SỰ PHÁT TRIỂN
CÔNG NGHIỆP Ở BẮC NINH
1.1. Điều kiện phát triển công nghiệp
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Bắc ninh có diện tích trên 822 km2, là tỉnh có diện tích nhỏ nhất Việt
Nam thuộc đồng bằng sông Hồng và nằm trên Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ. Bắc
Ninh tiếp giáp với vùng trung du Bắc bộ tại tỉnh Bắc Giang. Thành phố Bắc
khoảng 66% và 6,3% số người trên 65 tuổi. Do đó, tỉ lệ nhân khẩu phụ thuộc còn
cao (0,59). Dân số nữ chiếm tới 51,11% tổng dân số của tỉnh, cao hơn so với tỉ lệ
tương ứng của cả nước (50,05%). Mật độ dân số Bắc Ninh năm 2010 đã lên tới
1,262 người/km², gần gấp 5 lần mật độ dân số bình quân của cả nước và là địa
7
phương có mật độ dân số cao thứ 3 trong số 63 tỉnh, thành phố, chỉ thấp hơn mật độ
dân số của Hà Nội và của thành phố Hồ Chí Minh.
Năm 2011, dân số Bắc Ninh là 1.060.300 người, mật độ dân số 1289 người/km²,
vẫn là tỉnh có mật độ dân số cao thứ 3 cả nước
Bắc Ninh có một dân số trẻ với nhóm tuổi lao động từ 15 đến 60 là 665.236
người, chiếm 64,93% tổng dân số. Nhóm tuổi dưới 15 có 258.780 người, chiếm
25,26% tổng dân số còn nhóm người trên 60 tuổi có 100.456 người, tức chiếm
9,8%.
Trên địa bàn tỉnh hiện có 27 dân tộc trên tổng số 54 dân tộc tại Việt Nam sinh
sống, trong đó Kinh chiếm tuyệt đại đa số. Dưới đây là 3 dân tộc đông dân nhất là:
Dân
Dân số
tộc
(người)
Tỉ lệ
Dân số đô
24,42%
781.276
75,58%
Tày
1.484
0,14%
540
36,39%
944
63,61%
Nùng
789
0,08%
253
32%
536
68%
Phân bố dân cư Bắc Ninh mang đậm sắc thái nông nghiệp, nông thôn với tỉ lệ
72,8%, dân số sống ở khu vực thành thị chỉ chiếm 27,2%, thấp hơn so tỉ lệ dân đô
1.2. Quá trình công nghiệp hóa
Năm 1997, khi tái lập tỉnh, Bắc Ninh có cơ cấu nông nghiệp chiếm 45,1%, dịch
vụ 31,1%, công nghiệp-xây dựng 23,8%, thu ngân sách 164 tỷ đồng, GDP đầu
người 144 USD/năm; có bốn doanh nghiệp FDI với tổng vốn đăng ký 117 triệu
USD, kết cấu hạ tầng yếu kém, công nghiệp chỉ có các cơ sở sản xuất nhỏ, giá trị
sản xuất công nghiệp trên địa bàn đạt 569 tỷ đồng. Sau năm 1997 kinh tế Bắc Ninh
đã phát triển. Giai đoạn 2006-2010 GDP tăng trưởng trung bình 15,3% trong đó có
năm 2010 tăng trưởng tới 17.86% (cao nhất từ trước tới nay của tỉnh). Năm 2011,
kinh tế Bắc Ninh đạt 16,2% - là tốc độ tăng trưởng cao nhất cả nước. Bắc Ninh đã
thu hút được các dự án công nghệ cao của cả nước như Canon,
SamSung, Microsotf, ABB, Foxconn… Đây là động lực quan trọng nhất trong sự
phát triển kinh tế của Bắc Ninh trong những năm vừa qua. Từ khi tách tỉnh, Bắc
9
Ninh là một tỉnh thuần nông với nền công nghiệp không đáng kể đa phần là làng
nghề. Tuy nhiên hết năm 2012, Bắc Ninh là tỉnh có quy mô công nghiệp lớn thứ 5
cả nước, thứ 2 miền Bắc và luôn duy trì tốc độ tăng trưởng cao nhất cả nước trong
nhiều năm qua. Năm 2012, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 84.884 tỷ đồng. Công
nghiệp là điểm sáng nhất và là động lực quan trọng nhất trong sự phát triển kinh tế
của Bắc Ninh trong những năm vừa qua góp phần đưa Bắc Ninh cơ bản trở thành
tỉnh công nghiệp. Thành phố Bắc Ninh, Thị xã Từ Sơn và các huyện Bắc Sông
Đuống trở thành các trung tâm công nghiệp của toàn tỉnh và các huyện còn lại ở bờ
Nam Sông Đuống là khu vực phụ trợ cho bờ bắc với trung tâm là huyện Thuận
Thành là cửa ngõ tới các tỉnh, thành phố công nghiệp khác như Hà Nội, Hải Dương,
Hưng Yên, Hải Phòng qua các tuyến quốc lộ 38, 5A cao tốc Hà Nội - Hải Phòng,
18B...
1.3. Các khu công nghiệp ở Bắc Ninh
công nghệ hiện đại như: Samsung, Canon, ABB…. Từ sự phát triển của các KCN,
ngành công nghiệp của Bắc Ninh đã định hình và phát triển những ngành mũi nhọn
như công nghiệp điện tử, cơ khí chế tạo, chế biến công nghệ cao...
Các KCN Bắc Ninh đã thu hút được 500 dự án đầu tư sản xuất công nghiệp
với tổng vốn đăng ký 3.782,21 triệu USD. Hiện có 251 dự án đi vào hoạt động
(trong đó 132 dự án FDI). Giá trị sản xuất công nghiệp của các doanh nghiệp KCN
(không tính đầu tư phát triển hạ tầng) đạt 51.927,5 tỷ đồng, giá trị xuất khẩu đạt
2.088 triệu USD, tạo việc làm cho gần 67.750 người, trong đó lao động địa phương
chiếm 43,8 %. Giá trị sản xuất công nghiệp của các KCN ngày càng đóng vai trò
quan trọng trong sản xuất công nghiệp của tỉnh.
Phân bố các KCN có sự tương phản rõ nét giữa hai khu vực: Khu vực Bắc
sông Đuống (gồm các huyện, thành phố, thị xã: Bắc Ninh, Yên Phong, Tiên Du,
Quế Võ, Từ Sơn) là khu vực có sự phát triển mạnh mẽ về KCN với mật độ khá dày
và là những KCN đã và đang hoạt động hiệu quả (Quế Võ, Yên Phong, Tiên Sơn).
Còn khu vực Nam sông Đuống (gồm các huyện: Lương Tài, Thuận Thành, Gia
Bình) hình thành một số KCN đang trong giai đoạn xây dựng cơ sở hạ tầng kĩ thuật.
11
Sản phẩm công nghiệp công nghệ cao tăng lên làm cho thị trường xuất khẩu mở
rộng, vươn tới cả những thị trường có sức cạnh tranh lớn như: Nhật Bản, Mĩ,
Canada… Năm 2005, trị giá kim ngạch XNK là 257 triệu USD, nhưng đến
năm 2012 đã tăng lên 25.985,7 triệu USD, tăng hơn 101 lần. Đây là mức tăng
cao nhất trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Hàng hóa sản xuất ở các KCN
chiếm 99,4% (năm 2012) hàng công nghiệp xuất khẩu của toàn tỉnh. Bắc Ninh
cũng là tỉnh có trị giá kim ngạch XNK lớn thứ hai trong vùng kinh tế trọng
điểm Bắc Bộ.
Các dự án thu hút vào các KCN trong giai đoạn 2008-2014 đều thuộc lĩnh
vực điện tử, viễn thông và công nghiệp hỗ trợ cho các ngành này. Đa số dự án sử
thông cơ sở chiếm 19,28%; trình độ phổ thông trung học chiếm 64,37%; trình độ
trung cấp chiếm 6,53%; trình độ cao đẳng chiếm 3,8% và trình độ đại học chiếm
5,88%. Lao động có tuổi đời dưới 30 chiếm 55,72%; từ 30-35 tuổi chiếm 22,39%;
từ 35-40 tuổi chiếm 12,75% và trên 40 tuổi chiếm 9,15% .
Theo ngành nghề: Lao động ngành điện tử là 4.760 chiếm 32,3% tổng số lao
động; ngành chế biến nông sản thực phẩm, dệt may là 3.859 chiếm 26,3%; ngành
điện, cơ khí là 1.253 chiếm 8,6%; ngành vật liệu xây dựng là 645 chiếm 4,4%; còn
lại là các ngành nghề khác. Tỷ lệ lao động trong ngành điện tử là cao nhất, điều này
cũng phù hợp với định hướng của tỉnh. Bắc Ninh là tỉnh có diện tích nhỏ nhất nước,
đất chật, có hệ thống các làng nghề truyền thống năng động tạo nhiều việc làm. Do
đó các KCN tập trung chủ yếu thu hút các dự án thâm dụng vốn và công nghệ nên
cần tuyển dụng lao động công nghệ hơn là nhiều lao động phổ thông.
Theo độ tuổi: yêu cầu của phần lớn doanh nghiệp khi tuyển dụng lao động
chủ yếu trong độ tuổi từ 18¸ 25 chiếm khoảng 70%, độ tuổi 25¸ 30 chiếm khoảng
20%, còn lại lao động trên 30 tuổi là lao động quản lý, yêu cầu phải có kinh nghiệm
và thâm niên công tác.
13
Theo lao động địa phương và lao động ngoại tỉnh: Trong tổng số 14.646 lao
động tại các KCN năm 2007, tỷ lệ lao động địa phương là 49%. Mặc dù lao động
hàng năm tại các KCN Bắc Ninh tăng nhanh (do ngày càng có nhiều doanh nghiệp
đi vào hoạt động) nhưng tỷ lệ lao động địa phương đang có xu hướng giảm dần từ
53% năm 2005 xuống 50% năm 2006 và 49% năm 2007.
Như vậy hiện nay về cơ bản tỉnh mới đáp ứng đủ yêu cầu về lao động phổ
thông, còn số lao động có trình độ thì một số doanh nghiệp vẫn phải đưa lao động là
người bản xứ sang. Lao động có trình độ cao làm việc trong các doanh nghiệp chủ
yếu làm công tác phiên dịch, còn lao động đòi hỏi có tay nghề, làm kỹ thuật thì rất ít
bởi đào tạo chưa theo sát sự phát triển công nghiệp, không biết ngoại ngữ…
tâm thỏa đáng.
Tóm lại: Hiện nay, nguồn nhân lực của các KCN Việt Nam nói chung và nguồn
nhân lực của KCN Bắc Ninh nói riêng đang trong tình trạng vừa thiếu về số lượng,
vừa yếu về chất lượng.
2.3. Nguyên nhân của hiện trạng trên
Thứ nhất: Phần lớn công nhân ngoại tỉnh làm việc tại Bắc Ninh là lao động
thuộc các tỉnh chưa phát triển các KCN, họ di cư đến Bắc Ninh để làm việc. Họ
chấp nhận cuộc sống xa nhà để tìm kiếm công ăn việc làm ổn định và chờ đợi
những cơ hội “đổi đời”. Nhưng trên thực tế, công ăn việc làm tại đây đã không hứa
hẹn cho họ một cuộc sống ổn định lâu dài, và đồng lương còn quá thấp.
Thứ hai: Thị trường xuất khẩu lao động cũng đang mở rộng. Năm 2007, Bắc
Ninh đã đưa 3.068 lao động đi làm việc ở nước ngoài và 6 tháng đầu năm 2008 tiếp
tục xuất khẩu thêm 1.467 lao động. Các thị trường chủ yếu mà Bắc Ninh đang thực
hiện là: Đài Loan, Hàn Quốc, Malaixia, Nhật bản, Séc và Slôvakia, đây là những thị
trường tiềm năng, ổn định và có thu nhập cao. Điều này đã hấp dẫn rất nhiều thanh
niên Bắc Ninh, nhất là thanh niên vùng nông thôn. Đây cũng là một trong những
nguyên nhân làm thiếu lao động cho các KCN.
Thứ ba: Lao động tại các KCN đỏi hỏi tính kỷ luật cao. Còn người lao động
chủ yếu từ nông thôn, hay tự ý bỏ việc, đặc biệt là các dịp lễ, tết; thiếu sự gắn bó
với doanh nghiệp, thấy doanh nghiệp khác có mức lương cao hơn một chút là
15
chuyển, là đòi tăng lương. Cho nên, việc đình công bất hợp pháp xảy ra liên tiếp,
khiến một số doanh nghiệp phải ngừng sản xuất trong nhiều ngày. Một số lao động
do vi phạm kỷ luật quá mức đã buộc doanh nghiệp phải dùng hình thức sa thải.
Thứ tư: Đối với lao động tỉnh ngoài, tại các địa phương lân cận như Hải
Dương, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Bắc Giang, Hà Nội...đã phát triển các KCN nên việc
tuyển và thu hút lao động tỉnh ngoài hiện nay của các doanh nghiệp là rất khó. Mặt
đồng thời có cảnh báo để điều chỉnh chính sách kịp thời cho người lao động…
*Cụ thể:
- Các DN cần chấp hành tốt chế độ tiền lương, xây dựng và công khai quy chế trả
lương, hệ thống thang bảng lương, chính sách pháp luật lao động về BHXH, BHYT,
HĐLĐ, đồng thời có biện pháp cải thiện điều kiện sống cho công nhân: nhà ở, hỗ
trợ tiền đi lại, các khoản phúc lợi xã hội…; tránh tình trạng lấy mức lương tối thiểu
làm "rào cản" để ngụy biện việc trả cho người lao động theo mức thấp nhất, cần chú
trọng đến công tác đào tạo, phát triển nhân lực thông qua 2 hình thức cụ thể là đào
tạo tại chỗ và đào tạo ngắn hạn theo chuyên đề. Để việc đầu tư này thực sự đem lai
hiệu quả, quy trình đào tạo cần được xây dựng dựa trên kết quả phân tích cụ thể về
nhu cầu, về quá trình thực hiện đào tạo và đánh giá hiêu quả đào tạo. Áp dụng chế
độ tuyển dụng, chính sách lương bổng phù hợp, môi trường làm việc tốt để tạo điều
kiện cho nhân lực phát triển toàn diện.
- Các cơ quan nhà nước và chính quyền các cấp cần chia sẻ với những khó khăn của
DN, thường xuyên gặp gỡ, thông tin, chỉ đạo các DN xây dựng tốt các mối quan hệ
lao động, trong đó quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động là tâm
điểm phải được đặc biệt coi trọng. Để có thể ổn định lâu dài về nguồn lao động tại
các KCN Bắc Ninh, đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước cần có sự hỗ trợ tích cực
đối với các DN như: Đôn đốc các chủ đầu tư, tạo điều kiện cho các DN xây nhà ở
cho công nhân; xây dựng trạm y tế tại các KCN; hoàn thiện các dịch vụ hạ tầng XH
trong và ngoài hàng rào KCN; tổ chức tốt các buổi giao dịch lao động – việc làm tại
Sàn giao dịch lao động – việc làm của tỉnh; là cầu nối cho DN với các trung tâm
giới thiệu việc làm và các cơ sở đào tạo trong nước, nước ngoài; phối hợp tổ chức
tuyên truyền pháp luật lao động, các chính sách lao động - việc làm cho công nhân
KCN. Hỗ trợ tích cực về định hướng nghề nghiệp ngay từ khi nhận lực được tuyển
17
dụng. Áp dụng các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, cho nhân lực, cho các cơ sở đào
Qua một thời gian tìm hiểu và thực hiện, tiểu luận môn học “Một số vấn đề tổ
chức lãnh thổ công nghiệp Việt Nam” với đề tài “Vấn đề sử dụng lao động trong
các khu công nghiệp ở Bắc Ninh – Hiện trạng và giải pháp” đã hoàn thành. Tiểu
luận này đã khái quát được một số nội dung về nguồn lao động trong công nghiệp,
hiện trạng sử dụng lao động trong các khu công nghiệp ở Bắc Ninh, đồng thời cũng
đã tìm kiếm và đề xuất các giải pháp trong thời gian trước mắt và lâu dài cho vấn đề
trên ở các khu công nghiệp của Bắc Ninh nói riêng và từ đó có thể nghiên cứu áp
dụng trong phạm vi cả nước. Do thời gian thực hiện tiểu luận không dài cũng như
khả năng hiểu biết về vấn đề nghiên cứu còn nhiều hạn chế nên tác giả chưa có
điều kiện đi sâu vào phân tích thực trạng sử dụng lao động trong các khu công
nghiệp ở Việt Nam. Vì vậy trong thời gian tiếp theo, hi vọng đề tài này sẽ được
quan tâm, nghiên cứu sâu hơn và rộng hơn để có thể đưa ra những giải pháp thiết
thực nhất cho vấn đề sử dụng lao động trong các khu công nghiệp ở Việt Nam hiện
nay.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban Quản lí khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh (2010, 2012), Báo cáo tổng kết
nhiệm vụ năm 2010 và 2012.
19
2. Ban Quản lí các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh (2012), Quá trình xây dựng và
phát triển các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh.
3. Báo cáo của Công đoàn Ban Quản lý các khu công nghiệp Bắc Ninh về đời sống
người lao động các khu công nghiệp Bắc Ninh năm 2013
4. Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh (2009, 2013), Niên giám thống kê tỉnh Bắc Ninh
2008 và 2012, Nxb Thống kê, Hà Nội.
5. Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên) (2005), Địa lí kinh tế - xã hội đại cương, Nxb Đại
học Sư phạm, Hà Nội.