1. TÊN TÌNH HUỐNG
"Dù ai đi ngược về xuôi.
Nhớ ngày giỗ tổ mùng 10 tháng 3"
Khu di tích Đền Hùng thuộc thôn Cổ Tích - xã Hy Cương - huyện Lâm
Thao - tỉnh Phú Thọ, là nơi thờ cúng các vua Hùng đã có công dựng nước, tổ tiên
của dân tộc Việt Nam. Đền Hùng cách trung tâm thành phố Việt Trì 7 km về phía
Bắc, cách thủ đô Hà Nội 90 km. Từ Hà Nội, du khách có thể đến Đền Hùng bằng
đường bộ theo quốc lộ 2 hoặc tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai.
Đền Hùng là di tích lịch sử văn hoá đặc biệt quan trọng của quốc gia, được
xây dựng trên núi Hùng - thuộc đất Phong Châu - vốn là đất kế đô của Nhà nước
Văn Lang 4.000 năm trước đây. Toàn bộ Khu di tích có 4 đền, 1 chùa và 1 lăng
hài hoà trong cảnh thiên nhiên, có địa thế cao rất ngoạn mục, hùng vĩ, đất đầy khí
thiêng của sơn thuỷ hội tụ.
Đền Hùng được xây dựng trên núi Hùng (còn gọi là núi Cả theo tiếng địa
phương hay còn có nhiều tên gọi khác nhau: Nghĩa Lĩnh, Nghĩa Cương, Hy
Cương, Hy Sơn, Bảo Thiếu Lĩnh, Bảo Thiếu Sơn,…), có độ cao 175 m so với
mặt nước biển. Tục truyền rằng, núi Hùng là chiếc đầu rồng hướng về phía Nam ,
mình rồng uốn khúc thành núi Vặn, núi Trọc, núi Pheo,…. Núi Vặn cao 170m,
xấp xỉ núi Hùng. Núi Trọc nằm giữa núi Hùng và núi Vặn, cao 145 m. Ba đỉnh
núi: núi Hùng, núi Vặn, núi Trọc theo truyền thuyết là ba đỉnh “Tam sơn cấm
địa” được dân gian thờ từ rất lâu đời.
Toàn khu di tích Đền Hùng xưa kia là rừng già nhiệt đới, đến nay chỉ còn
núi Hùng là rậm rạp xanh tươi với 150 loài thảo mộc thuộc 35 họ, trong đó còn
sót lại một số cây đại thụ như chò, thông, lụ,…và một vài giống cây cổ sơ như
kim giao, thiên tuế,..Xin được giới thiệu với mọi người những cảnh đẹp chỉ có ở
đền Hùng.
2. MỤC TIÊU GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG
- Giúp các bạn học sinh thành hiểu biết sâu rộng hơn về quê hương đất tổ nơi cội nguồn của dân tộc - nơi khí thiêng của sông núi.
- Nhằm nâng cao lòng tự hào dân tộc tình yêu với quê hương đất tổ.
Địa hình vùng đất Tổ rất đa dạng: núi, đồi, bãi, ruộng đầm hồ sông ngòi.
Theo điểu tra, đồng bằng châu thổ rộng 146000 ha; ruộng mùa có 64700 ha; đầm
hồ 9000 ha và 35000 ha đồng chiêm cho nguồn thủy sản. Ba con sông lớn: Sông
Hồng - Sông Lô -Sông Đà và các sông nhỏ chảy trong địa bàn có chiều dài tổng
cộng 400 ki-lô-mét . Ngoài ra có hàng trăm con ngòi, lạch và đầm hồ. Tất cả tạo
nên 1 vùng đồi núi, non nước bao la " Sơn thủy hữu tình ".
Khí hậu loại nhiệt đới gió mùa, mỗi năm có 1500 giờ nắng, 142 ngày mưa
với cột nước 1500 li -nhiệt độ trung bình 23 độ.
Là vùng đất Tổ, nơi “Thiên thời, địa lợi nhân hòa" nên Phú Thọ đã trở
thành trung tâm của Quốc gia Văn Lang thời các vua Hùng dựng nước - Nhà
nước đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Nơi đây còn là địa bàn lưu giữ nhiều phong
tục tập quán và lễ hội văn hóa truyền thống với những sắc thái đa dạng, phong
phú và mang đậm dấu ấn vùng đất Tổ.
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, cùng với sự phát triển của đất nước, các thế
hệ người dân Phú Thọ kế tiếp nhau phát huy truyền thống cần cù, sáng tạo trong
lao động; đoàn kết, dũng cảm, kiên cường trong đấu tranh chống thiên tai và giặc
ngoại xâm; tình nghĩa thủy chung trong cuộc sống. Truyền thống ấy càng được
nhân lên gấp bội lần mỗi khi quê hương, đất nước bị kẻ thù ngoại bang xâm lược.
Từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng, phong
trào đấu tranh chống thực dân, phong kiến của nhân dân Phú Thọ đã phát triển
mạnh mẽ. Tháng 3 năm 1940, đảng bộ Phú Thọ được thành lập trở thành lực
lượng lãnh đạo, tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân.
Ngày Quốc tế lao động 01/05/1940 Lá cờ đỏ sao vàng lần đầu tiên xuất hiện tại
cây đa lịch sử của Thị xã Phú Thọ
lịch văn hóa lịch sử Đền Hùng. Đền Hùng - gồm cả một quần thể di tích - nằm
từ chân núi đến đỉnh ngọn núi Nghĩa Lĩnh cao 175 mét thuộc địa phận xã Hy
Cương, thành phố Việt Trì (đó chính là kinh đô Phong Châu của quốc gia Văn
Lang cổ xưa). Đến thăm đền Hùng vào ngày 10/3 âm lịch (tức ngày quốc giỗ)
du khách sẽ được tận mắt chứng kiến nhiều phong tục tập quán đẹp của dân tộc
Việt Nam: lễ rước kiệu, lễ dâng hương ….
Ảnh: Lễ rước kiệu, lễ. dâng hương Đền Hùng
Đoàn rước kiệu với màu sắc rực rỡ của bạt ngàn cờ, hoa, lọng, kiệu. Trang
phục truyền thống xuất phát từ dưới chân núi rồi lần lượt qua các đền để tới đền
Thượng, nơi làm lễ dâng hương. Đứng từ xa mà ngóng vọng lên, lễ rước kiệu
như một con rồng dũng mãnh uốn lượn quanh ngọn núi Nghĩa Lĩnh ẩn hiện sau
những lớp cây ngàn năm tuổi như từng bước lạc vào cõi bồng lai tiên cảnh. Đến
đền Hùng ngày hội mọi người trong tay ai ai cũng cầm vài nén nhang làm lễ
dâng hương để rồi qua làn khói thơm sẽ nói hộ họ những điều tâm niệm của mình
với tổ tiên. Chính vì nét đẹp truyền thống đó, vào lúc 12 giờ 09 phút (giờ Paris)
tức 18 giờ 9 phút ngày 6/12/2012 (giờ Hà Nội) UNESCO đã chính thức công
nhận tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương của người Việt là di sản văn hoá phi vật
thể của nhân loại. Đây là tin vui, vinh dự lớn đối với nhân dân Việt Nam nói
chung và nhân dân tỉnh Phú Thọ nói riêng.
Về Kim Đức của thành phố Việt Trì du khách sẽ được chứng kiến làn điệu
hát xoan mượt mà sâu lắng trong dân gian. Làn điệu hát xoan được truyền từ đời
này sang đời khác. Ông bà truyền cho bố mẹ - bố mẹ truyền cho con, cho cháu…
Nét văn hoá đẹp đã được lưu giữ từ bao đời nay. Cũng vì vậy vào lúc 11 giờ 30
phút giờ Việt Nam ngày 24/11/2011 hát xoan Phú Thọ được UNESCO công
nhận là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới.
Ảnh: Hát xoan – Xã Kim Đức – Việt Trì (trong lễ hội Đền Hùng)
Đầm Ao Châu – vịnh Hạ Long - của Phú Thọ
Các điểm cần biết ở đền Hùng:
Cổng đền
Được xây dựng vào năm Khải Định thứ 2 (1917). Cổng xây kiểu vòm cuốn cao
8,5m, hai tầng 8 mái, lợp giả ngói ống. Tầng dưới có một cửa vòm cuốn lớn, đầu
cột trụ cổng tầng trên có cửa vòm nhỏ hơn, 4 góc tầng mái trang trí Rồng, đắp
nổi hai con Nghê. Giữa cột trụ và cổng đắp nổi phù điêu hai võ sỹ, một người
cầm giáo, một người cầm rìu chiến, mặc áo giáp, ngực trang trí hổ phù. Giữa
tầng một có đề bức đại tự: “Cao sơn cảnh hành” (lên núi cao nhìn xa rộng). Còn
có người dịch là “Cao sơn cảnh hạnh” (Đức lớn như núi cao). Mặt sau cổng đắp
hai con hổ là hiện thân vật canh giữ thần.
Đền Hạ
Tương truyền nơi đây, Mẹ Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng, sau nở thành 100 người
con trai, nguồn gốc “đồng bào” (cùng bọc) được bắt nguồn từ đây. Dấu tích
giếng “Mắt Rồng” là nơi mẹ Âu Cơ ấp trứng nay vẫn còn ở phía sau đền.
Đền Hạ được xây dựng lại trên nền đất cũ vào thế kỷ XVII - XVIII. Kiến trúc
kiểu chữ “nhị” gồm hai toà tiền bái và hậu cung, mỗi toà ba gian, cách nhau
1,5m. Kiến trúc đơn sơ kèo cầu suốt, bẩy gối vào đầu kèo làm cho mái sau dài
hơn mái trước. Đốc xây liền tường với đốc Hậu cung, hai bên đắp phù điêu, một
bên voi, một bên ngựa. Bờ nóc phẳng, không trang trí mỹ thuật. Mái lợp ngói
mũi, địa phương gọi là ngói mũi lợn.
Ngay chân Đền Hạ là Nhà bia với kiến trúc hình lục giác, có 6 mái. Trên đỉnh có
đắp hình nậm rượu, 6 mái được lợp bằng gạch bìa bên trong, bên ngoài láng xi
măng, có 6 cột bằng gạch xây tròn, dưới chân có lan can. Trong nhà bia trước
đây đặt tấm bia ghi lại việc tu sửa đường lên núi Hùng, hiện nay đặt bia đá, nội
dung ghi lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người về thăm Đền Hùng ngày
19/9/1945:
“Các Vua Hùng đã có công dựng nước
cư dân nông nghiệp thờ trời đất, thờ thần lúa, cầu mong mưa thuận gió hoà, mùa
màng tươi tốt, nhân khang vật thịnh. Tục truyền đây còn là nơi vua Hùng thứ 6
lập đàn cầu trời ban cho người tài ra giúp nước đánh giặc Ân. Sau khi Thánh
Gióng đánh tan giặc và bay về trời, vua Hùng cho lập đền thờ vọng trên đỉnh núi,
về sau, nhân dân đặt thêm bài vị vua Hùng vào thờ cúng. Đền Thượng có tên chữ
là “Kính thiên lĩnh điện” (Điện cầu trời) còn có tên là “Cửu trùng tiên điện”
(Điện giữa chín tầng mây). Trong Đền Thượng có bức đại tự đề “Nam Việt triệu
tổ” (Tổ khai sáng nước Việt Nam). Đền được làm kiểu chữ Vương, kiến trúc đơn
giản, kèo cầu, không có chạm trổ, được xây dựng qua bốn cấp khác nhau gồm:
nhà chuông trống (cấp I), đại bái (cấp II), tiền tế (cấp III) và hậu cung (cấp IV).
Bên phía tay trái Đền có một cột đá thề, tương truyền do Thục Phán dựng lên khi
được Vua Hùng thứ 18 truyền ngôi để thề nguyện bảo vệ non sông đất nước mà
Hùng Vương trao lại và đời đời hương khói trông nom miếu vũ họ Vương. Cột
đá cao 1,3m, rộng 0,3m, hình vuông. Đến năm 1968, Ty Văn hoá Vĩnh Phú tôn
tạo lên bệ như hiện nay.
Lăng Hùng Vương tương truyền là mộ của Vua Hùng thứ 6. Lăng mộ nằm ở phía
đông Đền Thượng, có vị trí đầu đội sơn, chân đạp thủy, mặt quay theo hướng
Đông Nam. Xưa là mộ đất, thời Tự Đức năm thứ 27 (1870) cho xây mộ dựng
lăng. Thời Khải Định tháng 7 (1922) trùng tu lại. Lăng hình vuông, cột liền
tường, có đao cong 8 góc, tạo thành 2 tầng mái. Tầng dưới 4 góc đắp 4 con rồng
tư thế bò, tầng trên đắp rồng uốn ngược, đỉnh lăng đắp hình “quả ngọc” theo tích
“cửu long tranh châu”. Mái đắpngói ống, cổ diêm, 3 phía đều đắp mặt hổ phù. Ba
mặt Tây, Đông, Nam đều có cửa vòm, 2 bên cửa đều đắp kỳ lân, xung quanh có
tường bao quanh, trang trí hoa, chất liệu bằng đá. Trong lăng có mộ Vua Hùng.
Mộ xây hình hộp chữnhật dài 1,3m, rộng 1,8m, cao 1,0m. Mộ có mái mui luyện.
Phía trong lăng có bia đá ghi: Biểu chính (lăng chính). Phía trên ba mặt lăng đều
có đề: Hùng Vương lăng (Lăng Hùng Vương).
Đền Giếng (tên chữ là Ngọc Tỉnh)
mảnh đất Phong Châu lịch sử”.
Phần trưng bày của Bảo tàng Hùng Vương được tập trung vào 3 chủ đề chính:
- Giới thiệu giai đoạn văn hoá Hùng Vương bằng các hiện vật liên quan đến thời
đại Hùng Vương tìm được trên đất Phú Thọ và Vĩnh Phúc.
- Giới thiệu việc hình thành khu di tích Đền Hùng và ý thức xây dựng khu di tích
Đền Hùng của nhân dân cả nước.
- Tình cảm của nhân dân, sự quan tâm của người đứng đầu Nhà nước phong kiến
trước đây, của Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo Đảng ngày nay đối với Đền
Hùng.
Đền Hùng vừa là thắng cảnh đẹp, vừa là một di tích lịch sử - văn hóa đặc biệt
quan trọng đối với người Việt Nam. Về với Đền Hùng là về với cội nguồn dân
tộc, để tự hào về dòng giống tiên rồng đang chảy trong huyết mạch của mỗi
người dân Việt Nam!
Em xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo và các bạn đã chú ý lắng nghe!
6. Ý NGHĨA CỦA VIỆC GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG
Bài giới thiệu của em đã giúp các bạn học sinh thêm hiểu biết sâu sắc, yêu
mến tự hào về quê hương Phú Thọ, ý thức rõ hơn về vai trò, trách nhiệm của
mình trong việc bảo vệ, giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa và tiềm năng
sẵn có của quê hương từ đó tạo sự gắn kết giữa 2 vùng đất giàu truyền thống văn
hóa. Bài giới thiệu giúp em tự tin, vững vàng hơn với những kiến thức được học
về các bộ môn Địa lí, Lịch sử, Ngữ văn...nhận thức đầy đủ hơn về ý nghĩa việc
“học đi đôi với hành”.