Tình hình phát triển công nghệ khí sinh học (KSH) tại Việt Nam - Pdf 32

Tình hình phát triển công nghệ khí sinh học (KSH) tại Việt Nam
Nguyễn Gia Lượng, Nguyễn Quang Khải
A. Tình hình KSH ở Việt Nam
1. Vấn đề KSH đặt ra bức xúc nhưng tốc độ phát triển công nghệ ở Việt Nam chậm, kéo
dài, gặp khó khăn
Chăn nuôi ở Việt Nam ngày càng phát triển về số lượng của các loài gia súc, gia cầm, bởi
vậy khối lượng phân chuồng cũng ngày càng nhiều lên. Để bảo vệ môi trường được trong
sạch, biện pháp công nghệ khí sinh học đã và đang được áp dụng có hiệu quả ở những
vùng chăn nuôi có quy mô vừa và lớn. Đây là một vấn đề cần được quan tâm và đẩy mạnh.
2. Các giai đoạn phát triển công nghệ KSH của Việt Nam
* Thời kỳ 1960 - 1975
Miền Bắc: nhiều người đã chú ý đến thông tin về công nghệ KSH. Tài liệu dịch "Cách sinh
hơi mê tan nhân tạo và lấy hơi mê tan" được Bộ Công nghiệp xuất bản năm 1960. Một số
cá nhân và tổ chức đã xây thử một số công trình ở vài nơi như Hà Nội, Bắc Thái (xây
"Xưởng phát điện mê tan" đầu tiên của Việt Nam năm 1964), Hà Nam Ninh, Hải Hưng
nhưng đều bị ngừng hoạt động vì lý do kỹ thuật và quản lý.
Miền Nam: Năm 1960, Nha Khảo cứu Nông lâm súc đã nghiên cứu sản xuất khí mê tan từ
phân động vật, nhưng không ứng dụng triển khai được vì khí hóa lỏng và phân bón vô cơ
được nhập khẩu ồ ạt. Một số công trình đã xây dựng không được duy trì hoạt động. Từ
cuối năm 60 đến đầu những năm 70, công nghệ KSH gần như bị lãng quên.
* Thời kỳ 1976 - 1980
Năm 1975, Việt Nam thống nhất. Nhà nước đã chú ý tới nguồn năng lượng tái tạo.
"Đề án sử dụng KSH ở Việt Nam" (1976) đề tài cấp nhà nước "Nghiên cứu ứng dụng hầm
ủ lên men sinh khí mê tan" đã khởi động hoạt động nghiên cứu triển khai công nghệ KSH.
Thiết kế ban đầu được chọn thử nghiệm là loại nắp nồi bằng tôn, bể phân hủy xây gạch,
được xây dựng ở Bắc Thái và Hà Bắc (1977 - 1978). Những công trình loại này đã bị bỏ
dở do khả năng kỹ thuật và quản lý.
Cuối năm 1979 xây dựng thành công công trình nắp nổi có Vd = 27m3 ở nông trường Sao
Đỏ (Mộc Châu, Sơn La), đã đặt cơ sở cho việc triển khai sau này.
Nhiều viện nghiên cứu, Ban KHKT và nhiều tổ chức, cá nhân cũng đã tiến hành thiết kế
xây dựng, nhưng kết quả rất hạn chế.

trụ được xây gạch có khe nước, nắp chứa khí bằng bê tông cốt thép (để tránh kết cấu vòm
bằng gạch) bị gắn cố định vào bể phân hủy, lối…
3.2.2. Kiểu RDAC (cũ)
Bể phân hủy hình trụ, xây gạch, vòm chứa khí bằng côm-pô-dit hoặc xi măng lưới thép.
Kiểu này do RDAC thiết kế, xây dựng theo cách thông thường, vòm chứa khí bảo đảm kín
khí, hạn chế váng. Loại này có nhiều nhược điểm: giá thành cao, không có cửa thăm, áp
suất cực đại quá lớn dễ gây nứt vỡ bể, nguyên liệu phân hủy không đạt tiêu chuẩn vệ sinh
do lối ra bố trí sát đáy
3.3. Loại hình cầu: có 2 kiểu
3.3.1. Kiểu Đại học Cần Thơ
Được gọi là kiểu TG - BP (Thailand Germany Biogas Program) trong khuôn khổ một dự
án hợp tác Đức - Thái Lan. Kiểu này có một vành chống rạn nứt nằm ở thân vòm khoảng
trên 300 tính từ tâm đáy lên. Kiểu này phù hợp với nơi nước ngầm cao nhưng giá thành
cao, xây dựng phức tạp.
3.3.2. Kiểu Viện Năng lượng
Đây là kiểu duy nhất được hội đồng giám định cấp nhà nước chấp nhận và được cải tiến,
hoàn thiện liên tục trong 10 năm ứng dụng. Đến nay, tác giả đã cải tiến thành KT.1 và
KT.2 và được chọn đưa vào thiết kế mẫu của Tiêu chuẩn ngành về công trình khí sinh học
nhỏ (Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành năm 2002).
Kiểu này có ưu điểm giá thành hạ, nguyên vật liệu và nhân công tại chỗ, không cần công
xưởng, phù hợp với mọi điều kiện khí hậu và nguyên liệu nạp, tuổi thọ cao.
Huyện Đan Phượng - Hà Tây từ năm 1999 đến năm 2003 đã xây được 3.650 công trình
KSH, trong đó kiểu nắp cố định vòm cầu được ưa chuộng nhất:
TT Loại thiết bị Số lượng Tỷ lệ %
1 Túi ni lông 18 0,50
2 Vòm côm-pô-dit 90 5,20
3 Vòm xi măng lưới thép, bể xây trụ 958 26,25
4 Cuốn gạch hình cầu (kiểu NL6) 2472 67,75
5 Bể hình hộp 12 0,3
Tổng số 3650 100,00

Chăn nuôi số 5-2005


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status