đánh giá thực trạng năng lực nghiên cứu phát triển của các trường đại học viện nghiên cứu - Pdf 32

Báo cáo đánh giá thực trạng và năng lực và một số thành quả nghiên cứu của
các viện nghiên cứu, trường đại học trong phát triển công nghệ cơ khí

Hiện nay, một số công nghệ trong ngành cơ khí đã đạt được trình độ tương
đương khu vực nhờ có sự đầu tư đúng mức vào trang thiết bị và đào tạo nguồn
nhân lực để từ đó có thể tích lũy tri thúc, học hỏi và nắm bắt công nghệ từ nước
ngoài như công nghệ đúc, công nghệ hàn, công nghệ gia công cơ khí. Ngoài ra, sự
tham gia của một số viện trường trong việc phối hợp với các doanh nghiệp đã góp
phần nâng cao năng lực và trình độ công nghệ ở một số khâu quan trọng như tư
vấn thiết kế, chế tạo (thông qua việc mua các phần mềm thiết kế của nước ngoài)
và làm chủ một số công nghệ như: thiết kế thiết bị cơ khí thủy công cho các nhà
máy thủy điện công suất lớn, thiết kế kỹ thuật được các loại tàu biển (tàu chở hàng
đến 54.000T, tàu chở dầu thô đến 100.000T), thiết kế dây chuyền sản xuất bê tông.
chế tạo được lò nung cho nhà máy xi măng 2.500 tấn clanke/ngày, chế tạo và lắp
đặt phần lớn các thiết bị chính của một số nhà máy nhiệt điện công suất đến
300MW (phụ lục 2). Các kết quả này thể hiện sự gắn kết hiệu quả giữa doanh
nghiệp và viện, trường đã góp phần nâng cao năng lực và đổi mới công nghệ cho
doanh nghiệp cũng như năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ của viện trường.
Tuy nhiên, ngành cơ khí của Việt Nam nói chung hiện nay vẫn còn tồn tại
những công nghệ lạc hậu, tạo giá trị gia tăng thấp: trong gia công, máy công cụ vạn
năng vẫn còn phổ biến; công nghệ nhiệt luyện, kiểm tra còn lạc hậu, điều này dẫn
đến tình trạng sản phẩm có chất lượng không ổn định và khả năng cạnh tranh của
sản phẩm yếu; ngành chế tạo máy công cụ chưa theo kịp được nhu cầu, sản phẩm
máy công cụ CNC mới chỉ là sản phẩm đơn lẻ của một số cơ sở nghiên cứu. Phần
lớn các vật tư nguyên liệu là nhập khẩu, các vật tư đặc chủng, các thiết bị chuyên
dụng đòi hỏi công nghệ cao như tuốc bin, máy phát, ống áp lực, … thì ngành cơ
khí vẫn chưa có khả năng thiết kế, chế tạo và vẫn phải nhập từ nước ngoài. Hàng
năm Việt Nam vẫn phải chi hàng chục tỷ USD nhập khẩu trang thiết bị máy móc
(năm 2008 nhập khẩu trang thiết bị, phụ tùng lên đến 13,7 tỷ USD1).
Là một ngành công nghiệp tích hợp nhiều công nghệ nền tảng có tầm ảnh
hưởng quan trọng đến tất cả các ngành sản xuất công nghiệp khác, nên việc nâng

khẩu. Nhưng ngay với con số 34%, ông Đào Văn Long - Phó chủ tịch Hiệp hội
Doanh nghiệp cơ khí Việt Nam (VAMI) cũng không đồng tình và cho rằng, ngành
cơ khí chỉ đáp ứng được 20-25% nhu cầu.
Chiến lược phát triển ngành cơ khí đến năm 2010, tầm nhìn tới năm 2020,
tập trung chủ yếu vào phát triển 8 nhóm sản phẩm trọng điểm, gồm: Thiết bị toàn
bộ, máy động lực, máy móc ngành nông nghiệp, phương tiện giao thông, máy công
cụ, máy móc phục vụ ngành xây dựng, đóng tàu và thiết bị điện, nhưng chỉ có đóng
tàu và chế tạo thiết bị điện là “thực hiện được định hướng chiến lược”. Ở những
lĩnh vực còn lại kết quả đạt được còn rất xa mục tiêu, thậm chí nhóm ngành chế tạo
máy công cụ còn tụt hậu hơn so với thời bao cấp. Với ngành đóng tàu, thành tựu
đạt được cũng chỉ là khả năng đóng được những chiếc tàu lớn, còn lĩnh vực thiết bị
điện vẫn chủ yếu là của ngành chế tạo biến áp. Một sản phẩm khác là tổ máy phát
cho nhà máy điện, lĩnh vực được kỳ vọng, gần như vẫn là con số 0.
Nhóm thiết bị toàn bộ - được xem là có nhiều tiến bộ vượt bậc những năm
qua - thực tế vẫn chỉ sản xuất những thiết bị lớn và phi tiêu chuẩn. Theo các thành
viên VAMI, đây là phần dễ làm nhất và thường chỉ chiếm 20% giá trị của toàn bộ
dây chuyền.


Chính sách hỗ trợ của Nhà nước là đầy đủ, nhưng DN chỉ được hưởng lợi
trên giấy tờ. Vid Dụ: Dự án đầu tư đúc khuôn cho sản xuất thân vỏ ôtô của
Vinaxuki theo tiêu chuẩn Nhật Bản có tổng mức đầu tư 100 tỷ đồng là minh họa rõ
nét nhất. Dự án đã được Thủ tướng Chính phủ đồng ý cho vay 250 tỷ đồng với lãi
suất ưu đãi từ năm 2009, nhưng đến nay, Vinaxuki vẫn chưa có được giải ngân từ
Ngân hàng Phát triển Việt Nam, trong khi dự án đã sản xuất được 400 tỷ đồng tiền
khuôn mẫu. Dự kiến, cuối năm nay sẽ sản xuất được 2.000 tấn khuôn phục vụ sản
xuất xe ô tô con với tỷ lệ nội địa hóa đạt 50%. Nút thắt không thể giải ngân hỗ trợ
của Chính phủ nằm ở chính các thủ tục rườm rà, cứng nhắc hiện nay.
Gần 10 năm qua, chính sách của Nhà nước gần như chỉ tập trung hỗ trợ cho
ngành đóng tàu, cụ thể là cho Vinashin, mà bỏ qua các lĩnh vực được coi là trọng

pháp được công nhận sáng chế hoặc giải pháp hữu ích, 19% số nhiệm vụ đã được
chấp nhận đơn yêu cầu bảo hộ sở hữu công nghiệp. Chỉ tiêu về đào tạo: 50% số dự
án, đề tài có tham gia đào tạo tiến sỹ hoặc thạc sỹ.
Nhìn chung, mặc dù còn 4 dự án, đề tài mới nghiệm thu cấp cơ sở và gần
một nửa tổng số đề tài chưa kết thúc nhưng so với giai đoạn 2001 - 2005 thì các
nhiệm vụ KH-CN của giai đoạn 2006 - 2010 có độ phức tạp và yêu cầu về trình độ
KH-CN đòi hỏi cao hơn, vì vậy có 4 đề tài phải xin dừng thực hiện. Các đề tài còn
lại đều hứa hẹn có kết quả tốt cả về giá trị KH-CN lẫn giá trị kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, tỷ lệ số dự án/tổng số đề tài-dự án của Chương trình KC.05.0610 trong giai đoạn 2006 - 2010 (06/26; 23%) ít hơn Chương trình KC.05 của giai
đoạn 2001 - 2005 (14/43; 33%). Nguyên nhân là do giai đoạn 2006 - 2010 đòi hỏi
vốn đối ứng và các điều kiện tài chính ngặt nghèo hơn. Mặt khác, các doanh
nghiệp cũng không thiết tha chủ trì các dự án sản xuất vì độ rủi ro cao, thủ tục
tuyển chọn, đấu thầu mua sắm vật tư, thiết bị phức tạp, không đáp ứng được nhu
cầu của sản xuất và thị trường. trong khi đó, sự hỗ trợ của Nhà nước không đáng
kể (hỗ trợ 30% và lại thu hồi 80% kinh phí cấp thực hiện).
Trong giai đoạn 2011 - 2020, cơ khí chế tạo được xác định giữ vai trò đặc
biệt quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Để khẳng
định vai trò đó, ngành cơ khí chế tạo Việt Nam cần phải tiếp tục nghiên cứu, ứng
dụng KH-CN đảm bảo cho phát triển nhanh, bền vững.
Theo chương trình phát triển cơ khí trọng điểm thì đến năm 2010, ngành này
sẽ phải đáp ứng 40% - 50% nhu cầu trong nước. Song sau 9 năm triển khai đến tận
bây giờ, ngành kinh tế trong điểm này mới chỉ đáp ứng được 34% nhu cầu.
Cũng theo chương trình mục tiêu thì đến năm 2020 cơ khí trong nước sẽ tự
sản xuất được khoảng 100 tỷ đến 125 tỷ USD tiền hàng. Đây là thị trường mà rất
nhiều quốc gia khác mong muốn. Nhưng theo xếp hạng về hiệu suất công nghiệp,
Việt Nam hiện vẫn đứng sau nhiều nước trong khu vực như sau Indonesia 15 bậc,
sau Philippines 25 bậc, sau Thái Lan, Malaysia...
Thực tế sau 3 năm triển khai quyết định số 10, chỉ có 3 doanh nghiệp được
vay ưu đãi một phần trong tổng mức đầu tư. Đó là dự án đầu tư mở rộng chế tạo
máy biến áp 220 kV và 500 kV của Công ty chế tạo thiết bị điện Đông Anh, Nhà

tổng thầu chế tạo và cung cấp thiết bị cho hầu hết các dự án đầu tư lớn cho các nhà
máy như: Nhiệt điện Uông Bí mở rộng với công suất 300 MW, tổng vốn đầu tư
300 triệu USD; Xi măng Sông Thao 2.500 tấn clanke/ngày, Xi măng Đô Lương
2.500 tấn clanke/ngày, Điện Cà Mau công suất 750MW và Điện Nhơn Trạch. Hiện
nay, Lilama đang tự đầu tư thực hiện Dự án Nhiệt điện Vũng áng.
Đến nay, khối lượng thiết bị chế tạo đã được nội địa hoá chiếm 65-70% và
lần đầu tiên, ngành Cơ khí trong nước đã chế tạo được lò nung cho nhà máy xi
măng 2.500 tấn clanke/ngày, thực hiện nội địa hoá được toàn bộ kết cấu thép phục
vụ xây dựng Trung tâm Hội nghị quốc gia tại Hà Nội.
Bên cạnh những bước tiến vượt bậc của Ngành Đóng tàu, Ngành Công
nghiệp ô tô-xe máy cũng được ghi nhận với những kết quả đạt được trong khoảng
5 năm trở lại đây. Ngành đã đáp ứng được nhu cầu trong nước với các loại xe buýt
có tỷ lệ nội địa hoá khoảng 40%, các loại xe tải nhẹ có công suất dưới 5 tấn và các
loại xe gắn máy do chính các doanh nghiệp trong nước sản xuất với tỷ lệ nội địa
hoá đạt từ 80-90%. Công ty Xuân Kiên (Vinaxuki), ô tô Trường Hải, Vinamoto là
những doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư chiều sâu vào các khâu sản xuất thân vỏ xe,


thùng xe, với các xưởng khuôn mẫu, dập ép, hàn, sơn tĩnh điện hiện đại, từ đó làm
tăng dần tỷ lệ nội địa hoá trong sản xuất xe ô tô.
Đối với các nhà máy thuỷ điện có công suất đến 300MW, trước đây, phải
nhập khẩu hầu hết các thiết bị cơ khí thuỷ công thì nay, toàn bộ phần này đều do
ngành Cơ khí trong nước đảm nhận. Bộ Công Thương đang chỉ đạo các liên doanh
cơ khí trong nước chế tạo và cung cấp thiết bị cơ khí thuỷ công cho các nhà máy
thuỷ điện A Vương, Pleikrông, Bản Vẽ, Quảng Trị, Sesan 3, Đồng Nai, Huội
Quảng, Bản Chát… với tổng trọng lượng thiết bị lên đến hàng chục ngàn tấn.
Từ các hợp đồng chế tạo sản phẩm, thiết bị cơ khí trong nước, các doanh
nghiệp đã mạnh dạn nhận các hợp đồng chế tạo thiết bị cho các đối tác nước ngoài
và tham gia vào thị trường xuất khẩu trong năm 2006. Hàng chục tấn thiết bị
đường ống cút, van chịu mài mòn... cung cấp cho các dự án nhà máy điện đã được

Thành tựu:
Thông qua thực hiện nghiên cứu phát triển công nghệ, các Viện nghiên cứu,
trường đại học đã có những bước tiến nâng cao năng lực của mình:
- Góp phần đào tạo và nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ KH&CN cơ khí
chế tạo máy thuộc các viện, trường, doanh nghiệp: Cho đến thời điểm hiện nay chỉ
riêng đối với chương trình KC 06 đã góp phần đào tạo được 27 tiến sỹ và 64 thạc
sỹ, hàng trăm kỹ sư, công nhân kỹ thuật qua các nội dung nghiên cứu đã được nâng
cao trình độ, tiếp cận với các công nghê tiên tiến góp phần đắc lực cho việc ứng
dụng các công nghệ mới tại các cơ sở sản xuất, trong thời điểm lực lượng các cán
bộ KH&CN của lĩnh vực đang bị thiếu hụt nghiêm trọng thì việc có được đội ngũ
cán bộ KH&CN trình độ cao là điều đáng trân trọng. Điển hình trong việc đào tạo
đội ngũ cán bộ KH&CN là Công ty TNHH cơ khí Hà Nội, thông qua các nhiệm vụ
nghiên cứu về tự động hoá đến nay công ty đã thành lập được Trung tâm nghiên
cứu ứng dụng về tự động hoá và mở lớp đào tạo về chuyên ngành tự động hoá tại
Trường trung học trực thuộc công ty. Tổng công ty cơ điện xây dựng, nông nghiệp
và thuỷ lợi thông qua các dự án đã đào tạo một lực lượng kỹ sư và công nhân lành
nghề cung cấp cho các đơn vị, Trường đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học
Bách khoa TP. Hồ Chí Minh đã đào tạo được nhiều tiến sỹ, thạc sỹ trong các
chuyên ngành công nghệ mới, một số đã tiếp tục được đưa đi đào tạo nâng cao ở
nước ngoài, đây sẽ là lực lượng cán bộ nòng cốt cho những năm tiếp theo.
- Tạo sự gắn kết giữa viện, trường, doanh nghiệp trong nước và nước ngoài
tham gia các nội dung nghiên cứu khoa học: Riêng chương trình KC 06 đã có sự
tham gia của 2 trường đại học, 8 học viện và viện nghiên cứu, 3 trung tâm và 5
tổng công ty trong nước và một số cơ sở nghiên cứu của nước ngoài đã nói lên sự
đa dạng trong sự kết hợp trong các nội dung nghiên cứu. Sự kết hợp này đã phát
huy được năng lực nội sinh của đội ngũ cán bộ KH&CN trong nước, sự kết hợp
giữa Viện nghiên cứu cơ khí và công ty cơ khí Duyên Hải đã tạo ra các sản phẩm
hộp giảm tốc có kích thước lớn cung cấp cho thị trường xi măng, hoá chất.., sự kết
hợp giữa các nhà khoa học của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội với Công ty đá
mài Hải Dương đã tạo ra sản phẩm đá mài cao tốc, sự kết hợp chặt chẽ giữa

thể khẳng định trong lúc đầu tư cho ngành cơ khí còn rất nhiều khó khăn thì phần
đầu tư thông qua các nhiệm vụ nghiên cứu là rất thiết thực và có hiệu quả rõ rệt.
Định hướng nghiên cứu đặt lên vai các viện nghiên cứu, trường đại học
trong nghiên cứu công nghệ, sản phẩm công nghiệp cơ khí trong giai đoạn tới
Để có sức cạnh tranh toàn cầu, các sản phẩm chế tạo hiện nay ngày càng có
chất lượng cao, thiết kế hấp dẫn và công nghệ mũi nhọn. Các vật liệu mới được tạo
ra và các công nghệ tạo khả năng như CNNN, CNSH, cơ điện tử và CNTT-TT
đem lại những năng lực không giới hạn để phát triển các loại hình sản phẩm mới
có thêm các chức năng bổ sung. Ngành cơ khí chế tạo đang vươn tới sản xuất các
sản phẩm giá trị cao, có các đặc trưng như sau:


Là kết quả của công việc mang tính đa ngành

Phần lớn các sản phẩm công nghiệp công nghệ cao sẽ đòi hỏi phải có những
nỗ lực kết hợp của đa ngành, gồm các bộ môn như cơ khí, điện và công nghệ phần
mềm;


Độ phức tạp cao


Số lượng các cấu phần được chế tạo bởi nhiều loại hình kỹ thuật trong các
sản phẩm công nghiệp mới, cũng như khả năng liên kết hoạt động (Interoperation),
mức độ tinh xảo và số lượng các phương án khả dĩ, liên tục gia tăng. Các sản phẩm
đơn lẻ có thể là những bộ phận nằm trong một sản phẩm kết hợp. Ví dụ về một loại
hình sản phẩm có độ phức tạp cao là nhà máy.

Có khả năng thích ứng với nhu cầu người dùng, khả năng thích nghi
và khả năng mở rộng cấp độ (Scalability)

Định hướng vào nhiều đối tượng liên quan

Các sản phẩm tương lai sẽ phải định hướng vào vô số cấu hình của các đối
tượng liên quan và cân nhắc hành vi mua sắm của nhiều nhóm khách hàng khác
nhau, với sự nhạy cảm ngày càng tăng đối với các vấn đề liên quan đến môi
trường, đạo đức và xã hội;




Định hướng vào vòng đời

Các sản phẩm công nghiệp mới sẽ phải duy trì khả năng thay đổi cấu hình
tương ứng với phản hồi của người dùng trong toàn bộ vòng đời của chúng và phải
tuân thủ các quy định và nghĩa vụ thu hồi sau khi kết thúc vòng đời, tái chế hoặc
xử lý các vật liệu độc hại. Các sản phẩm này sẽ đảm bảo tối đa giá trị cũng như
việc tiêu thụ tối ưu năng lực và nguyên vật liệu trong toàn bộ vòng đời của chúng.
Cần có các quy trình và công nghệ chế tạo mới
Để có khả năng sản xuất một cách hiệu quả và có sức cạnh tranh những sản
phẩm công nghệ mới này, cần phải có các công nghệ, thiết bị và quy trình chế tạo
mới. Đổi mới công nghệ chế tạo cũng có tầm quan trọng ngang bằng với đổi mới
sản phẩm, nhân tố then chốt để tồn tại trong tương lai.
Để thực hiện điều này, ngành chế tạo cần phải chuyển dịch từ chỗ có hàm
lượng tài nguyên cao sang hàm lượng tri thức cao và thích ứng. Do vậy, để đổi mới
thành công, ngành công nghiệp chế tạo cần phải có các đặc tính thích nghi, số hoá,
nối mạng, dựa vào tri thức và bền vững.


Thích nghi



Ngành chế tạo sẽ cân nhắc việc tối ưu hoá mức độ tiêu thụ năng lượng và
vật liệu cũng như giảm phế thải.


Các công nghệ chế tạo then chốt

Các công nghệ tự động hoá linh hoạt và thích nghi, trong đó sử dụng
các cơ cấu điều khiển có trí tuệ, các giao diện Người-Máy có khả năng nhận thức,
các hệ thống tự học tập, trí tuệ phân tán và truyền thông không dây;
Các công nghệ và thiết bị để sản xuất MEM và các cấu phần/ hệ thống
điện tử nano;
Các công nghệ để xử lý và thao tác các vật liệu mới (chẳng hạn như
các vật liệu thông minh);
Các công nghệ chế tạo từ dưới lên, chẳng hạn như CNSH để tạo và
thao tác các vật liệu vô cơ và chế tạo cấp nano.
Để có được những biến đổi rộng lớn như vậy, đòi hỏi phải có:
- Các mô hình kinh doanh mới, chẳng hạn như các mạng doanh nghiệp
thích nghi năng động;
Các phương pháp, công cụ và kết cấu hạ tầng CNTT-TT để hỗ trợ cho
toàn bộ vòng đời sản phẩm;
Kết cấu hạ tầng giáo dục và hợp tác với nước ngoài trong hoạt động
nghiên cứu phát triển chung và đặc biệt là tiếp thu làm chủ công nghệ.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status