kỹ năng sử dụng internet trong học tập môn tâm lý học của sinh viên trường cao đẳng sư phạm bà rịa vũng tàu - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Lê Thị Dung

KỸ NĂNG SỬ DỤNG INTERNET
TRONG HỌC TẬP MÔN TÂM LÝ HỌC
CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG
SƯ PHẠM BÀ RỊA VŨNG TÀU

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Lê Thị Dung

KỸ NĂNG SỬ DỤNG INTERNET
TRONG HỌC TẬP MÔN TÂM LÝ HỌC
CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG
SƯ PHẠM BÀ RỊA VŨNG TÀU
Chuyên ngành : Tâm lý học
Mã số

: 60 31 04 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC


mong sự đóng góp của thầy, cô cùng các bạn.
Xin chân thành cảm ơn!

2


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 1
LỜI CÁM ƠN .............................................................................................................. 2
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ......................................................................... 5
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 6
1. Lý do chọn đề tài .............................................................................................................6
2. Mục đích nghiên cứu ......................................................................................................7
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu...............................................................................7
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ......................................................................................................8
5. Giả thuyết khoa học ........................................................................................................8
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu .........................................................................................8
7. Phương pháp nghiên cứu ...............................................................................................8
8. Ý nghĩa của đề tài ..........................................................................................................10
9. Cấu trúc luận văn..........................................................................................................10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG SỬ DỤNG INTERNET
TRONG HỌC TẬP MÔN TÂM LÝ HỌC ............................................................. 12
1.1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề .......................................................................12
1.1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài ..............................................................12
1.1.2. Các công trình nghiên cứu ở trong nước ...............................................................12
1.2. Một số vấn đề lý luận về kỹ năng sử dụng Internet trong học tập môn Tâm lý
học.......................................................................................................................................14
1.2.1. Hoạt động học học tập môn Tâm lý học của sinh viên Sư phạm ..........................14

3.3. Kết quả thử nghiệm một số biện pháp tác động .....................................................77
3.3.1. Tổ chức và phương pháp tác động thử nghiệm biện pháp ....................................77
3.3.2. Kết quả tác động về mặt nhận thức .......................................................................81
3.3.3. Kết quả tác động về mặt vận dụng kỹ năng ..........................................................82

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ................................................................................... 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 87
PHỤ LỤC ................................................................................................................... 90

4


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TT

Chữ viết tắt

Nghĩa đầy đủ

1

BR-VT

Bà Rịa – Vũng Tàu

2

CĐSP


Tự nhiên

8

XH

Xã hội

5


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Một trong những đặc điểm nổi bật của thời đại ngày nay là sự phát triển như vũ
bão của khoa học – công nghệ và sự bùng nổ của thông tin. Trong đó, sự ra đời của máy vi
tính và Internet là một thành tựu to lớn. Nó là một phương tiện không thể thiếu của nhân
loại, một dịch vụ “nhanh, gọn, tiện ích”, không những thế, Internet đã và đang thâm nhập
vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh quốc
phòng… và mọi hoạt động sống của con người thuộc mọi tầng lớp trong xã hội, đặc biệt là
trong dạy học và giáo dục. Trong dạy học, internet không chỉ là đối tượng dạy học mà quan
trọng hơn nó là nguồn cung cấp tri thức quan trọng, giúp SV tự chiếm lĩnh tri thức một cách
nhanh chóng, hiệu quả. Đặc biệt trong thời đại ngày nay, sự bùng nổ thông tin cả bề rộng
lẫn chiều sâu, lượng tri thức tăng lên theo cấp độ lũy tiến, dạy và học không thể không có tư
liệu.
1.2. Kỹ năng sử dụng Internet để học tập cũng như giảng dạy là một bộ phận cấu thành
hệ thống KN sư phạm của người giáo viên tương lai. Nó có vai trò đặc biệt quan trọng với
bất kỳ SV Sư phạm nào. Tìm kiếm và sử dụng tài liệu trên Internet đã trở thành thói quen
của nhiều sinh viên. Nhiều SV đã khai thác tốt lợi thế mà Internet mang lại phục vụ cho học
tập, góp nâng cao kết quả học tập. Tuy nhiên, nhiều SV vẫn chưa nhận thức được tầm quan
trọng và đánh giá đúng vai trò, tác dụng của Internet, dẫn đến chưa tích cực khai thác kho

động tích cực vào giác quan người học, nâng cao tính trực quan trong học tập. Ngoài ra,
khai thác thông tin trên Internet còn hình thành được nhiều phẩm chất tâm lý và kỹ năng cho
người học. Vì vậy, trong dạy học hiện nay cần phải có kỹ năng sử dụng Internet để khai thác
kho tài nguyên thông tin khổng lồ phục vụ việc học tập.
Từ những lý do trên, tôi quyết định chọn vấn đề “Kỹ năng sử dụng Internet trong học
tập môn Tâm lý học của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Bà Rịa- Vũng Tàu” để
nghiên cứu.

2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực trạng kỹ năng sử dụng internet trong học tập TLH của SV
trường CĐSP BR-VT, đề xuất một số biện pháp góp phần rèn luyện KN sử dụng Internet
nhằm nâng cao kết quả học tập môn TLH cho SV.

3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Kỹ năng sử dụng Internet trong học tập TLH của SV trường CĐSP BR-VT
3.2. Khách thể nghiên cứu
- Sinh viên: 220 SV trường CĐSP BR-VT
7


- Giảng viên: 03 cán bộ giảng dạy môn TLH trường CĐSP BR-VT

4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến đề tài
4.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng KN sử dụng Internet trong học tập TLH của SV
trường CĐSP BR-VT, lý giải nguyên nhân của thực trạng.
4.3. Đề xuất, một số biện pháp tác động để góp phần rèn luyện KN sử dụng Internet
vào học tập cho SV


7.2.1. Phương pháp điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến
▪ Mục đích: Đây là phương pháp chính của đề tài dùng để nghiên cứu với các mục đích:
- Thu thập thông tin về nhận thức của SV đối với vấn đề khai thác, sử dụng Internet
trong học tập TLH.
- Thu thập thông tin về thực trạng KN khai thác, sử dụng Internet trong học tập TLH
của SV trường CĐSP BR-VT
- Khảo sát sự đánh giá của giảng viên đối với vấn đề khai thác, sử dụng Internet
trong học tập TLH của SV.
- Thu thập thông tin về sự tự đánh giá của SV nhóm thử nghiệm sau khi thử nghiệm
biện pháp tác động.
▪ Nội dung: Căn cứ vào nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi tiến hành xây dựng 2 loại
phiếu trưng cầu ý kiến, mỗi phiếu gồm một hệ thống các câu hỏi
7.2.2. Phương pháp quan sát
▪ Mục đích: quan sát biểu hiện của SV nhằm thu thông tin về các lĩnh vực sử dụng cũng như
mức độ thành thạo của KN khai thác, sử dụng Internet.
▪ Nội dung:
- Quan sát tiết học trên lớp, tìm hiểu thông tin về mức độ sử dụng tài liệu trên mạng
- Quan sát các lĩnh vực SV thường truy cập khi lên mạng
- Quan sát các KN của SV đối với từng lĩnh vực khác nhau
▪ Cách thức tiến hành: quan sát một số tiết học và thời gian truy cập Internet của SV tại
phòng máy của trường và một số dịch vụ Internet bên ngoài với biên bản kèm theo.
7.2.3. Phương pháp phỏng vấn, phỏng vấn sâu
▪ Mục đích: tìm hiểu thêm về thông tin cá nhân, những thuận lợi và khó khăn của SV khi
sử dụng Internet.
▪ Nội dung: trò chuyện với SV về sự quan tâm, hứng thú đối với Internet, về các môn
TLH, cách nhìn nhận, suy nghĩ của SV xoay quanh vấn đề nghiên cứu.
▪ Yêu cầu thực hiện: chọn thời gian phù hợp để trò chuyện với SV, đảm bảo sự trao đổi
nhẹ nhàng, gợi mở khi cần thiết, tạo sự thoải mái về TL cho đối tượng trò chuyện.
7.2.4. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
9


9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận
văn có 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về KN sử dụng Internet trong học tập TLH
10


- Chương 2: Kết quả nghiên cứu
- Chương 3: Đề xuất biện pháp góp phần rèn luyện kỹ năng sử dụng Internet trong học
tập môn TLH cho SV

11


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG SỬ DỤNG
INTERNET TRONG HỌC TẬP MÔN TÂM LÝ HỌC
1.1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Công nghệ thông tin – đặc biệt là Internet, bắt đầu được sử dụng ở Mỹ từ năm 1995
và sau đó bắt đầu được phổ biến rộng rãi trên tòan thế giới. Ở nước ngoài việc sử dụng
Internet vào trong dạy học được chú trọng quan tâm. Nhìn chung các công trình nghiên cứu
chủ yếu diễn ra theo hai hướng.
Hướng thứ nhất, nghiên cứu về những ứng dụng của Internet vào lĩnh vực giáo dục.
Các công trình này tập trung vào việc sử dụng các phần mềm để thiết kế bài giảng, xây dựng
chương trình dạy học. Có thể kể đến một số tác giả tiêu biểu như Laura Turner với “15 năm
ứng dụng CNTT trong giáo dục và nhà trường” (2006), “Ứng dụng Internet trong dạy học”
của Vincentas Lamanauskas. Nghiên cứu về “Ứng dụng Internet trong soạn bài giảng online”
của tác giả Rytis Vilkonis (2006).
Hướng thứ hai, nghiên cứu về cách tìm kiếm thông tin và sử dụng Internet cho mọi

học. Các tác giả chủ yếu hướng dẫn cách khai thác Internet vào học tập nói chung và cho
riêng từng môn học. Trong đó, Hà Minh Nam với “KN tìm kiếm thông tin” (2005); “Tìm
kiếm thông tin trên Internet” của Nguyễn Văn Trường (2006), “Phương pháp sử dụng
Internet hiệu quả” do Nguyễn Văn Sơn nghiên cứu (2006). Tác giả Phạm Ngọc Châu có “Sử
dụng Internet nhanh chóng và hiệu quả” (2007), “Khai thác và sử dụng Internet trong dạy
học điện học lớp 11 trung học phổ thông” của Phạm Vân Điệp (2007), “Khai thác, sử dụng
Internet góp phần tích cực hóa hoạt động học tập môn toán của học sinh ở trường trung học
cơ sở” của Đặng Thị Thu Thủy (2007).
Hướng thứ ba, nghiên cứu về vấn đề khai thác, sử dụng Internet vào học tập của SV.
Các nghiên cứu theo hướng này đã chỉ ra thực trạng và mức độ truy cập Internet của SV
hiện nay. Cụ thể là công trình của tác giả Nguyễn Quang A với tên gọi “SV Việt Nam đang
đứng ngoài cuộc với Internet” (2005). Nguyễn Quý Thanh về “Mối quan hệ của việc sử
dụng Internet và hoạt động học tập của SV” (2007).
Như vậy, các công trình và kết quả nghiên cứu trên đã bổ sung và hoàn thiện thêm về
internet nói chung và sử dụng internet nói riêng vào học tập, đặc biệt là lý luận về vai trò và
tác động của internet đối với hoạt động học tập, các phương pháp và thủ thuật sử dụng
internet trong học tập, một số biện pháp phát huy tính tích cực của người học khi sử dụng
internet trong dạy học… Đây là những tài liệu bổ ích tác giả luận văn có thể kế thừa và phát
triển trong đề tài của mình.

13


Tóm lại, các công trình nghiên cứu trên đã có những đóng góp quan trọng về mặt lý
luận: làm sáng tỏ các thuật ngữ về internet, vai trò và tác động của internet đối với hoạt
động học tập, các phương pháp và thủ thuật sử dụng Internet trong học tập, một số biện
pháp phát huy tính tích cực của người học khi sử dụng internet trong dạy học…, về thực
tiễn: những công trình trên đã được ứng dụng vào trong dạy học và mang lại những kết quả
tích cực trong dạy học. Tuy nhiên, vấn đề kỹ năng sử dụng Internet trong học tập môn TLH
chưa được quan tâm, nghiên cứu. Cho đến nay, chưa có một công trình hay tài liệu nào công

kinh nghiệm… vào đầu mình, biến vốn liếng chung của loài người thành phẩm chất và năng
lực của bản thân”. [9]
Tóm lại, khi xem xét về hoạt động học, mỗi tác giả nhìn nhận nó ở khía cạnh khác
nhau nhưng đều có chung quan điểm coi hoạt động học tập là hoạt động đặc thù của con
người, được thực hiện theo phương thức nhà trường có mục đích và có ý thức, do người học
thực hiện dưới sự hướng dẫn, điều khiển của GV nhằm lĩnh hội những tri thức, KN, kỹ xảo
tương ứng làm phát triển trí tuệ và năng lực con người để giải quyết các nhiệm vụ do cuộc
sống đề ra.
Trên cơ sở tiếp cận các quan điểm nói trên chúng tôi đưa ra khái niệm về HĐHT như
sau:
Hoạt động học tập là hoạt động đặc thù của con người, được điều khiển bởi mục
đích tự giác của người học nhằm lĩnh hội những tri thức mới và hình thành kỹ năng, kỹ xảo
tương ứng để phát triển trí tuệ và năng lực của con người nhằm giải quyết được mọi nhiệm
vụ của cuộc sống.
1.2.1.2. Hoạt động học tập của sinh viên
HĐHT của SV là một loại hoạt động tâm lý được tổ chức một cách độc đáo nhằm mục
đích có ý thức là chuẩn bị trở thành người chuyên gia phát triển toàn diện, sáng tạo và có
trình độ nghiệp vụ cao.
Cũng như hoạt động nói chung, hoạt động học tập của SV cũng được tạo thành các
thành tố và các thành tố có mối quan hệ biện chứng với nhau. Có thể khái quát cấu trúc của
hoạt động học tập như sau :

15


Chủ thể

Khách thể

Hoạt động học tập

hội tri thức từ nhiều nguồn khác nhau. Trong đó, Internet là nguồn cung cấp thông tin cập
nhật nhất. Vì thế, ngoài hệ thống KN nghề nghiệp, SV cần phải có KN khai thác, sử dụng
Internet.
- Về phương pháp: Mục đích đào tạo và nội dung học tập đòi hỏi SV phải tự giác,
16


tích cực, sáng tạo. Tự học, tự nghiên cứu, tự khám phá là phương pháp cơ bản, chủ đạo. Tự
học của SV diễn ra theo nhiều cách khác nhau. Trong đó, khai thác nguồn thông tin trên
Internet là con đường tự học hiệu quả. Nó vừa giúp SV lĩnh hội tri thức đồng thời cũng giúp
họ rèn luyện KN.
- Về phương tiện học tập: Phương tiện học tập được mở rộng và phong phú với thư
viện, phòng đọc, phòng thí nghiệm, phòng bộ môn đa chức năng. Với sự phát triển nhanh
chóng của CNTT, Internet là phương tiện học tập không thể thiếu. Hơn nữa, dạy học trực
tuyến đang có xu hướng phát triển mạnh mẽ, vì thế Internet là một trong những phương tiện
học tập hữu ích của SV hiện nay.
Học tập của SV là hoạt động trí tuệ, căng thẳng, có cường độ cao và có tính lựa chọn
rõ rệt. Hoạt động trí tuệ này vẫn lấy tài liệu của quá trình nhận thức cảm tính làm cơ sở,
song các thao tác trí tuệ đã phát triển ở trình độ cao, đặc biệt có sự phối hợp tinh tế, uyển
chuyển và linh động tùy theo hoàn cảnh. HĐHT của SV thể hiện sự tự ý thức cao. Họ tự ý
thức về mục đích, động cơ học tập, chương trình kế hoạch, lựa chọn phương pháp, cách thức
học tập phù hợp để đạt hiệu quả cao.
- Hành động học tập:
Đề chiếm lĩnh được hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo thì SV phải tiến hiện các hành
động học tập khác nhau. Mỗi hành động học tập có mục đích nhất định nhằm thực hiện được
động cơ. Trong hoạt động học tập, SV phải tiến hành nhiều hành động học tập khác nhau,
trong đó có một số hành động cơ bản như: Phân phối và sắp xếp thời gian học tập, chuẩn bị
bài mới, nghe và ghi chép bài giảng, sử dụng giáo trình và tài liệu tham khảo, chuẩn bị và
tiến hành seminar, ôn tập…
- Thao tác học tập:

quốc phòng….
Như vậy, đối tượng học tập của SV Sư phạm là hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và
cách thức chiếm lĩnh chúng thuộc các lĩnh vực khoa học chuyên ngành và nghiệp vụ sư
phạm.
Thứ hai, trong thời đại ngày nay, với sự bùng nổ của khoa học - kỹ thuật, sự phát
triển mọi mặt của đời sống xã hội, xu thế toàn cầu hóa… đã đặt ra nhiều yêu cầu mới cho
giáo dục Việt Nam, đặc biệt là giáo dục ở bậc cao đẳng, đại học. Vì vậy, vai trò, vị trí của
người thầy cũng có sự thay đổi, yêu cầu chuyên môn và nghiệp vụ cũng cao hơn để đáp ứng
yêu cầu. Từ đó, đòi hỏi SV Sư phạm trong quá trình học tập không chỉ học tri thức mà còn
phải học cách dạy, cách chuyển tải tri thức, tổ chức cho người học lĩnh hội tri thức một cách
dễ dàng và có hệ thống. Đồng thời, để có thể thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học và giáo dục,
SV Sư phạm cần phải tích cực học tập, rèn luyện kỹ năng giao tiếp sư phạm, năng lực cảm
hóa học sinh…
Tóm lại, HĐHT của SV Sư phạm là một quá trình vất vả, học tập và rèn luyện về
18


nhiều mặt để có thể đáp ứng được yêu cầu của nghề là “dạy chữ, dạy người”, đồng thời đáp
ứng được những yêu cầu của xã hội đặt ra. Vì thế, trong quá trình học tập, SV Sư phạm phải
thực sự tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo trong học tập, biến quá trình đào tạo thành tự
đào tạo.
1.2.1.4. Hoạt động học tập môn Tâm lý học của sinh viên
- Vai trò của môn học: TLH là bộ môn khoa học cơ bản trong hệ thống các khoa học
về con người. Đồng thời, TLH là bộ môn nghiệp vụ trong hệ thống các khoa học tham gia vào
việc đào tạo con người, hình thành nhân cách con người nói chung và nhân cách nghề nghiệp
nói riêng. TLH là môn học bắt buộc trong chương trình đào tạo của các trường sư phạm,
không những cung cấp kiến thức mà còn giúp người học biết cách vận dụng để quan sát, phân
tích các biểu hiện tâm lý của học sinh, từ đó có phương pháp dạy học phù hợp, ứng xử mang
tính mô phạm, nhằm đem lại hiệu quả giáo dục.
- Nội dung học tập môn Tâm lý học: Nội dung học tập bao gồm việc nghiên cứu các

Internet là một sự mất mát lớn cho sự phát triển
Internet là thuật ngữ viết tắt của Internetwork, có nghĩa là liên mạng trong truyền
thông, tập hợp các mạng máy tính, có thể khác nhau, nối với nhau bằng các cổng nối vốn
điều khiển sự truyền dữ liệu và sự biến đổi các thông báo từ mạng gửi thành các giao thức
do mạng nhận sử dụng. [32]
Mạng Internet ngày nay là một mạng liên kết toàn cầu, được hình thành vào cuối
thập kỷ 60 từ một thí nghiệm của Bộ quốc phòng Mỹ. Thời điểm ban đầu, nó là mạng
ARPANET (Advanced Research Projects Agency Network) do ban quản lý dự án thử
nghiệm, phục vụ các nghiên cứu quốc phòng. Một trong những mục đích của nó là xây dựng
mạng máy tính có khả năng chịu đựng các sự cố, cho phép một máy tính bất kỳ trên mạng
liên lạc với mọi máy tính khác. Từ chỗ đơn thuần là một mạng máy tính của Bộ quốc phòng
Mỹ và một số cơ quan nghiên cứu khoa học, nội dung thông tin và dịch vụ trên mạng không
còn là các thông tin riêng của nơi tạo ra nó. Mạng ARPANET dần dần lan rộng và được
tách thành MILNET (Military Network) vào năm 1983. Năm 1990, nó chính thức chấm dứt,
Internet tiếp tục phát triển dựa vào TCP/IP (Transmission Control Protocol/ Internet
Protocol), một giao thức truyền thông mở giữa các mạng. [32]
1.2.2.2. Khái niệm trang web (website)
Một trong những mục tiêu của Internet là chia sẻ thông tin giữa người dùng trên
nhiều lĩnh vực khác nhau như sự trao đổi kinh nghiệm, thành tựu, kết quả nghiên cứu giữa
các nhà khoa học, SV các trường đại học. Trong lĩnh vực thương mại, các công ty, tổ chức
có thể dùng Internet để cung cấp thông tin, dịch vụ, quảng cáo bán hàng … Để thực hiện
20


mục tiêu này, Internet có rất nhiều dịch vụ thông tin đa dạng như dịch vụ truyền tập tin (File
Transfer Protocol - FTP), dịch vụ thư điện tử (Email), dịch vụ bản tin (Bulletin boards), dịch
vụ WAIS (Wide Area Information Servers) dùng để tìm kiếm thông tin dữ liệu … Thế
nhưng dịch vụ thông tin mới nhất, mạnh nhất và phát triển nhanh nhất trên Internet là mạng
nhện thế giới World Wide Web (WWW). Điểm mạnh của nó là khả năng tích hợp các dịch
vụ thông tin khác nhau, nghĩa là ta có thể sử dụng tất cả các dịch vụ kể trên qua WWW.

học. Vì thế, Internet được khẳng định là không có khoảng cách truy cập. Ngoại trừ những
thông tin được mã hóa bảo vệ với những lý do như bí mật chính trị, thương mại hay bị ngăn
cách bởi các “bức tường lửa” (Firewall) nhằm mục đích ngăn chặn web xấu … thì người sử
dụng đang online trên mạng đều có thể truy cập và khai thác bất cứ thông tin nào ở mọi lĩnh
vực của cuộc sống từ các website. Sự chia sẻ tài nguyên, thông tin đến tận nơi cho dù thông
tin đó được đặt ở các cụm máy chủ (Server) tại Nga, Mỹ hay Trung Quốc … tạo nên môi
trường làm việc lý tưởng cho tất cả mọi người. Điều này khó đạt được với các nguồn thông
tin tại các thư viện, cơ quan lưu trữ, báo chí. Môi trường làm việc này giúp chúng ta tiếp cận
được nhiều nguồn tư liệu, nhiều công trình nghiên cứu của các nước khác nhau mà không
cần di chuyển về mặt địa lý.
Nhờ có Internet mà mọi người có thể mở rộng quan hệ đến bạn bè khắp nơi trên thế
giới một cách nhanh chóng và rẻ tiền, giúp họ có cơ hội để trao đổi, thảo luận, bày tỏ ý kiến
quan điểm của mình khi tham gia các diễn đàn, chia sẻ buồn vui trên Blog…Họ được học
hỏi rất nhiều thứ tứ người khác và mọi người trở nên gần gũi, thân thiết, gắn bó với nhau
hơn.
Internet giúp cho con người học tập tốt hơn. Nhờ Internet mọi người có thể tham gia
học tập thông qua hình thức học tập trực tuyến . Học viên có thể học bất cứ lúc nào vào thời
gian rãnh và trao đổi trực tiếp với giáo viên trên Internet, vừa tiết kiệm được chi phí, vừa
tiết kiệm được thời gian.
Internet là kênh truyền thông đa phương tiện, sinh động và hấp dẫn có khả năng lôi
kéo đông đảo người tham gia, là sân chơi giải trí bổ ích, mọi người có thể vào Internet để
nghe nhạc, xem phim, hài kịch…giúp con người cảm thấy thoải mái, thư giãn hơn sau khi
làm việc, học tập vất vả. Nó còn là đòn bẩy giúp phát huy sức mạnh cộng đồng, trong đó có
sức mạnh của những người trẻ, góp phần xây dựng và phát triển kinh tế, tri thức.
Thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, các phương tiện thông tin đại chúng ngày càng
phát triển, trong đó phát triển mạnh mẽ nhất phải kể đến đó là Internet. Với những ưu thế
vượt trội, từ khi ra đời cho đến nay Internet luôn đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong
đời sống xã hội, nó tác động đến mọi mặt, mọi lĩnh vực của cuộc sống. Bất kỳ một lĩnh vực
nào cũng sử dụng Internet. Nhờ có Internet mà xã hội phát triển nhanh hơn, mạnh hơn. Xã
22

/>
/>
/>
/>
/>23


Trích đoạn Một số biện pháp góp phần rèn luyện kỹ năng sử dụng Internet trong học tập môn Tổ chức và phương pháp tác động thử nghiệm biện pháp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status