nghiên cứu truyện ngắn alphonse daudet dưới góc độ tự sự học - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

HOÀNG OANH

NGHIÊN CỨU TRUYỆN NGẮN
ALPHONSE DAUDET
DƯỚI GÓC ĐỘ TỰ SỰ HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

HOÀNG OANH

NGHIÊN CỨU TRUYỆN NGẮN
ALPHONSE DAUDET
DƯỚI GÓC ĐỘ TỰ SỰ HỌC
Chuyên ngành: Văn học nước ngoài
Mã số: 60 22 02 45

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS NGUYỄN HỮU HIẾU

Thành phố Hồ Chí Minh - 2013



MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 1
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 2
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
DẪN NHẬP .................................................................................................................. 5
1. Lí do chọn đề tài ..............................................................................................................5
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .................................................................................6
3. Lịch sử vấn đề .................................................................................................................6
4. Phương pháp nghiên cứu ...............................................................................................9
5. Ý nghĩa của đề tài............................................................................................................9
6. Bố cục của luận văn ......................................................................................................10

CHƯỚNG 1 : TRUYỆN NGẮN ALPHONSE DAUDET VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ
SÁNG TẠO ................................................................................................................ 11
1.1. Tiền đề lịch sử - Văn hóa ...........................................................................................11
1.1.1. Tiền đề lịch sử ....................................................................................................... 11
1.1.2. Tiền đề văn hóa: .................................................................................................... 13
1.2. Cảm hứng từ lòng yêu thương ..................................................................................22
1.2.1. Cảm hứng từ lòng yêu thương con người ............................................................. 23
1.2.2. Cảm hứng từ lòng yêu thương loài vật .................................................................. 32

CHƯƠNG 2: NGÔI KỂ VÀ ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN
NGẮN ALPHONSE DAUDET ................................................................................ 36
2.1. Một ít giới thuyết về ngôi kể và điểm nhìn trong văn bản tự sự ...........................36
2.1.1. Ngôi kể trần thuật trong văn bản tự sự .................................................................. 36
2.1.2. Điểm nhìn trần thuật trong văn bản tự sự.............................................................. 38
2.2. Ngôi kể và điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn của Alphonse Daudet .........41
2.2.1. Truyện ngắn Alphonse Daudet với người trần thuật ở ngôi thứ nhất theo điểm
nhìn đơn tuyến và đa tuyến ............................................................................................. 42

là tập truyện Những vì sao (bản dịch của Trần Việt và Anh Vũ) bao gồm trên dưới
bốn mươi truyện ngắn mà theo lời dịch giả: “nó gồm những truyện rút từ các tác
phẩm đã cấu thành phần di sản đẹp nhất của nhà văn”đã để lại ấn tượngsâu sắc với
chúng tôi.Alphonse Daudet đã mất hơn mười một thập kỉ,“ông yên nghỉ dưới sương
mù của thành phố Pari nhưng những trang sách của ông vẫn rạng rỡ ánh nắng vĩnh
cửu của quê hương Provence, nơi từng là ngọn nguồn cảm hứng cho một sự nghiệp
văn chương” (theo Trần Việt).Ông từng được nhận xét là: “ người thầy đáng phục về
sự rung cảm, duyên dáng và trào lộng” – một cây bút ưu tú của văn học Pháp nửa
sau thế kỉ XIX. Truyện của ông phản ánh hiện thực, cái hiện thực nhầy nhụa của xã
hội thời ấy, nhưng đâu đó vẫn lấp lánh những dòng văn đầy thi vị, tình yêu thương và
những nỗi đau rất đỗi ngọt ngào...
Như thế, khi hướng đến nghiên cứu các sáng tác của Alphonse Daudet ta như đang
lục tìm trong quá khứ những viên ngọc tuyệt vời, chỉ muốn lau mờ vết bụi thời gian và
lưu giữ những gì tươi đẹp nhất, cho hiện tại và gởi đến tương lai.
Thứ hai, Alphonse Daudet là tác giả mà bản thân tôi rất yêu mến và muốn
tìm hiểu kĩ về những tác phẩm của ông đặc biệt là truyện ngắn. Tác phẩm của
Alphonse Daudet giàu chất thơ, đằm thắm, trữ tình, mang giá trị nhân văn sâu sắc. Và
bản thân tôi say mê những tác phẩm ấy.Mặt khác, Alphonse Daudet là một tác gia có
tác phẩm được chọn để giảng dạy trong nhà trường. Nên theo chúng tôi, việc nghiên
cứu về tác giả này là thật cần thiết. Hơn nữa dưới góc độ tự sự học hẳn tôi sẽ có cái
nhìn khác hơn, sâu sắc hơn về những tác phẩm của nhà văn này.
5


Thứ ba, “Tự sự học” là một lĩnh vực nghiên cứu khá thú vị. Theo GS. TS
Trần Đình Sử: “ Tự sự học là một lĩnh vực nghiên cứu đặc thù của lí luận văn học,
lấy nghệ thuật tự sự làm đối tượng, phần nào đó tương ứng “thi học” nghĩa hẹp, là
lĩnh vực lấy nghệ thuật thi ca làm đối tượng nghiên cứu. Thi học của Arixtote xuất
hiện đã hơn 2300 năm, mà tự sự học mãi đến đầu những năm 70 thế kỉ XX mới chính
thức xuất hiện. Điều đó chứng tỏ sự lĩnh hội về nghệ thuật tự sự muộn màng đến

Phạm…Trong ấn phẩm này Lê Nguyên Cẩn viết về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của
Daudet, đồng thời tác giả cũng đi phân tích thêm về một số tác phẩm của Daudet đã
được giảng dạy trong nhà trường. Trong Lịch sử văn học Pháp thế kỉ XVIII và XIX do
Phùng Văn Tửu, Lê Hồng Sâm chủ biên có viết về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của
Daudet. Tác giả Trần Hinh nhận định: “Trong số những nhà văn Pháp nửa sau thế kỉ
XIX mà tác phẩm in đậm nét về một vùng quê, bên cạnh Maupassant với vùng
Normandie, phải kể đến A. Daudet – nhà văn mà khi nói đến, người ta không thể nào
không nhắc tới vùng Provence, mảnh đất rực rỡ nắng gió của miền Nam nước Pháp”
[59, tr.586]. Với tập truyện Những bức thư viết từ cối xay gió của tôi Daudet đã nhận
được nhiều lời khen ngợi, trong Lịch sử văn học Pháp thế kỉ XVIII và XIX có viết : “
Những bức thư viết từ cối xay gió của tôi mở đầu trang tiểu sử rực rỡ của nhà văn, và
từ tác phẩm này Daudet mới thực sự nổi tiếng” [59, tr 593].
Cũng vậy, Nguyễn An trong Phê bình, bình luận văn học: La Fontaine, A.
Daudet, G. Maupassant, Molière cũng nói về Daudet: “Là một trong những tác giả
nổi tiếng của trào lưu hiện thực chủ nghĩa trong văn học Pháp và văn học thế giới
giữa thế kỉ XIX, Alphonse Daudet đã có những đóng góp riêng rất đáng quí cho trào
lưu văn học này và cho cả lịch sử phát triển của văn học Pháp, văn học thế giới nói
chung” [48, tr.13]. Trong Kể chuyện tác giả Văn học nước ngoài của Nxb Hội Nhà
văn (1990) có viết: “Chủ yếu, nhờ tự học, tự nghiên cứu và miệt mài làm việc,
Daudet đã có được những tác phẩm được dư luận khen ngợi. Khác với Gogol là
người thường rất thích sửa chữa, viết thêm, Daudet sáng tác có vẻ tùy hứng, sau khi
đã ngẫm nghĩ cẩn thận. Tác phẩm đã in, ông cho là ổn và rất ngại sửa chữa, vì e
rằng làm thế, chúng sẽ không còn vẻ hấp dẫn tự nhiên nữa”.
Đối với quy mô luận văn thạc sĩ, cho tới thời điểm này, người viết mới chỉ nghe
đến luận văn của Vũ Thanh Huyền: “Chất thơ trong truyện ngắn Alphonse Daudet”,

7


trường ĐH Sư Phạm Hà Nội, 2006. Luận văn này triển khai làm ba chương :Chủ thể trữ

Daudet dưới ánh sáng của lí thuyết tự sự học. Đây là hướng nghiên cứu được vận
dụng xuyên suốt quá trình thực hiện luận văn.
- Phương pháp so sánh – đối chiếu: đối chiếu, so sánh nghệ thuật trần thuật
trong tác phẩm truyện ngắn Alphonse Daudet với những nhà văn cùng thời để tìm
những nét tương đồng và những điểm khác biệt.
- Phương pháp lịch sử − xã hội: Được sử dụng khi tìm hiểu về tình hình lịch sử
- xã hội Pháp thế kỉ XIX với nhiều thăng trầm, biến động. Hoàn cảnh lịch sử đã ảnh
hưởng sâu sắc đến cuộc đời và tư tưởng của nhà văn Alphonse Daudet. Nhiều truyện
ngắn của ông cũng phản ánh về tình hình xã hội thời bấy giờ.
-Thao tác thống kê, phân loại: tiến hành khảo sát,thống kê và phân loại các tiền
đề sáng tạo trong truyện ngắn Alphonse Daudet. Đồng thời theo dự kiến phương pháp
này có thể hữu ích cho chúng tôi khi tìm hiểu về phương thức trần thuật và cấu trúc
trần thuật trong truyện ngắn Alphonse Daudet.
- Thao tác phân tích – tổng hợp: phân tích tác phẩm truyện ngắn dưới góc độ tự
sự học và và đưa ra những ý khái quát.
5. Ý nghĩa của đề tài
Đề tài luận văn Nghiên cứu truyện ngắn Alphonse Daudet dưới góc độ tự sự
học mà chúng tôi nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ một số đặc điểm nghệ thuật thuật
tự sự trong truyện ngắn của Alphonse Daudet.
Chúng tôi chỉ mong luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích cho học sinh,
sinh viên thuộc khối ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn.

9


6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Thư mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn sẽ gồm có 3 chương, được phân bố như sau:
Chương 1: Những tiền đề sáng tạo trong truyện ngắn Alphonse Daudet
Trong chương này, chúng tôi đi vào nghiên cứu những tiền đề sáng tạo trong truyện

Tháng chạp 1848, Louis Bonaparte trúng cử trong cuộc bầu cử Tổng thống
nước Cộng hòa Pháp. Tháng 11 năm 1852 trong một cuộc trưng cầu dân ý giả hiệu
thông qua việc thành lập Đế chế II, Louis Bonaparte lên ngôi hoàng đế, xưng là
Napoléon III. Sự kiện lịch sử này là một cột mốc quan trọng đánh dấu một bước phát
triển mới của xã hội tư sản. Nền kinh tế có những bước tiến vượt bậc, xã hội phồn
thịnh hơn, nhưng sự phồn thịnh ấy được xây dựng bằng những cuộc đàn áp, bóc
lột…Một xã hội của sự bất công được tô vẽ bởi lớp vỏ hoa mĩ, một xã hội thiếu thốn
tình người ! Đế chế II đưa ra khẩu hiệu “Đế chế là hòa bình” nhưng lại thường xuyên
gây chiến: cùng Đế quốc Anh tham gia chiến tranh Crưm (1854−1856), chống Nga
hoàng,

đánh

Trung

Quốc

(1857−1860),

tiến

hành

xâm

lược

Đông

Dương(1859−1862)…Tháng bảy năm 1870, Napoleon mạo hiểm tuyên chiến với

cười với A. Daudet” (dẫn theo Trần Hinh). Phản ứng trước bạo lực cách mạng,
Daudet dường như thu mình lại, ông không có thái độ dứt khoát ,“ông nghi ngờ, chán
ghét nền Cộng hòa nhưng không tán thành Công xã” . Đứng trước những biến động
của thời cuộc, Daudet “ca ngợi tính nhẫn nhục chịu đựng, ưa sự thầm lặng lẻ loi hơn
là sự ồn ào, bạo động, tìm lí tưởng sống trong sự êm ấm gia đình và hạnh phúc nhỏ
nhoi” [59, tr.591]. Con người ấy với tư tưởng hướng nội, dường như mỗi biến động
xảy ra đều tác động mạnh đến tâm hồn nhạy cảm của ông. Daudet bắt đầu hoài niệm
về quá khứ , nhiều trang viết của ông về thời kì này nhuốm màu u buồn, hoài nghi,
chán nản.
12


Alphonse Daudet đã phác họa bức chân dung của thời đại bằng những nét vẽ
chân thực nhất, xót xa nhất, đem đến cho người đọc cái nhìn cảm đầy cảm thông đối
với những người dân nghèo. Ông viết những câu chuyện cảm động về lòng yêu
nước, yêu những giá trị làm nên niềm tự hào dân tộc như Buổi học cuối cùng, Cuộc
vây hãm Berlin…Trong tác phẩm Buổi học cuối cùng, Daudet gián tiếp đưa vào đó
thông điệp của F. Mistral :“Nếu họ giữ vững tiếng nói của họ, họ giữ cái chìa khóa
để giải thoát họ khỏi xiềng xích”. Lòng yêu nước, yêu ngôn ngữ dân tộc qua nhân
vật thầy giáo Hamel thật cảm động.
Nền Cộng hòa III là thời kì bành trướng của chủ nghĩa tư bản Pháp. Công cuộc
chinh phục thuộc địa được chú trọng từ thời Đế chế II nay trở thành quốc sách. Đế
quốc Pháp áp đặt nền bảo hộ ở Tunisie năm 1881, ở Ai Cập năm 1882, ở Đông
Dương năm 1885, ở Madagascar năm 1895…Thực tế đây là một nền cộng hòa không
được nhân dân yêu mến và vấp phải nhiều cuộc khủng hoảng, trong đó nổi tiếng nhất
là vụ Dreyfus năm 1894, khi một sĩ quan người Do Thái trong quân đội Pháp bị bắt
lầm do tình nghi làm gián điệp cho Đức…Vụ án này đã làm bầu không khí nước
Pháp sôi sục, mãi đến mười hai năm sau vụ án mới kết thúc một cách công bằng.
Năm 1897, Alphonse Daudet – nhà văn của chúng ta đã “yên nghỉ dưới lớp sương mù
của thành phố Paris”, ông đã ra đi mãi mãi. Và sau đó, nước Pháp khẽ trở mình để

nằm ở nơi đây có phong cảnh hữu tình, với những ngọn đồi đầy hương thơm của thảo
mộc, rực rỡ ánh nắng là nguồn cảm hứng cho bao thi sĩ, văn nhân. Và mảnh đất
Provence này chính là quê hương yêu dấu của Alphonse Daudet.
Provence – một vùng đất xinh đẹp, nên thơ. Xứ sở này được biết đến với sự
yên bình, êm ả. Alphonse Daudet yêu tha thiết cảnh vật và con người ở miền Nam
nước Pháp. Ông lớn lên giữa những cành ô liu và dâu, giữa những vườn nho trĩu trái.
Ông hít thở một thứ không khí say người của hạnh nhân. “Ông yêu những thảm cỏ
dày, giữa những bóng cây, lớp bụi trắng của những con đường lớn, những dãy đồi
miên man dưới nắng. Ông say sưa với cuộc sống trên mảnh đất giống như xứ Hy Lạp
này. Đó là một cậu bé nồng nhiệt và hay giễu cợt, một thứ thần Điền dã nhỏ tuổi”
[48, tr.109]. Alphonse Daudet kể về nơi mình sinh sống – cái không gian đẹp như mơ
thế này: “Tôi sống cách xa sương mù Paris hàng ngàn dặm, trên một ngọn đồi rực rỡ
nắng vàng, giữa xứ sở của tiếng trống và rượu nho hương. Quanh tôi, toàn chỉ là
nắng và nhạc; tôi có dàn nhạc của chim bạc bụng; những cuộc hợp tấu của chích
14


chòe; buổi sáng chim mỏ nhát cất lời ca: Curơli ! Curơli!, buổi trưa đến lượt ve sầu,
rồi tiếng tiêu của mục đồng và tiếng cười của các cô gái tóc nâu xinh đẹp vang lên
trong vườn nho…” [9, tr.126]
Miền đất rực rỡ nắng và gió ấy phải chăng đã làm cho tâm hồn Daudet dịu
dàng hơn ? Tập truyện ngắn Những bức thư viết từ cối xay gió của tôiđược lấy cảm
hứng từ chính miền đấy Provence này. Ông đã viết những dòng văn du dương như
một bản nhạc trữ tình: “ Chính từ chỗ này đây mà tôi viết thư cho bạn, cánh cửa lớn
mở toang đón ánh mặt trời ấm áp. Một rừng thông xinh đẹp chói chang ánh sáng,
chạy thoai thoải trước mặt tôi đến tận chân đèo…Xa xa văng vẳng tiếng sáo, tiếng
chim mỏ nhát trong búi oải hương, tiếng nhạc la trên đường cái quan…Tất cả cảnh
vật nên thơ xứ Provence này chỉ sống nhờ ánh sáng [9, tr.16]. Chính thứ ánh sáng
diệu kì trên quê hương Provence đã nuôi dưỡng tâm hồn Daudet. Thứ ánh sáng tươi
đẹp ấy đã theo ông suốt cả cuộc đời và làm sáng lấp lánh những trang viết của ông.

qua tấm màn màu sáng và những bông hoa, những chiếc đàn vĩ cầm vẽ trên khắp các
ô tường đã phai màu.” [9, tr.106] Cảnh vật giản dị có sức lôi cuốn lạ kì. Miền Nam
nước Pháp – xứ sở đã đi vào thơ, vào nhạc; nơi đây người ta sống nhờ vào đất mẹ, họ
trồng trọt và chăn nuôi… Rồi cùng nhau tưng bừng mở hội: “Vào ngày lễ thánh Eloi,
ông tổ nội trợ. Cả trang trại tưng bừng vui chơi, có rượu nho Châteauneuf cho mọi
người và rượu vang chín uống như nước mưa từ trên trời đổ xuống. Rồi pháo nổ ran,
pháo bông sáng rực trên sân, đèn lồng rực rỡ treo đầy cành cây sên” [9, tr.60]. Điều
đó cho thấy thiên nhiên ưu đãi con người biết bao ! Đất đai màu mỡ nuôi dưỡng
những mầm cây, đem hoa thơm trái ngọt cho con người. Daudet biết ơn miền đất quê
hương mình. Ông lưu giữ tất cả những kỉ niệm tươi đẹp nơi đây.Và sau những
chuyến đi đến các miền đất khác, Daudet trở về với những hoài niệm không dứt
được. Những cảnh sắc thân quen, từng con đường nhỏ, từng khóm hoa, từng cánh
bướm nhỏ chao nghiêng…cũng làm nhà văn động lòng.
Trên quê hương yêu dấu của mình, Daudet đã được sống những tháng ngày
bình yên nhất. Ông tận hưởng và viết những gì mình say mê. Dịch giả Trần Việt nhận
xét về tập truyện ngắn Những lá thư viết từ cối xay gió của tôicủa Daudet:“Mỗi
trang ở đây là một bài thơ về quê hương − xứ Provence – trang này sáng láng cảnh

đẹp, trang kia đậm đà những truyện cổ dân gian, những tập tục, nhưng trang nào

cũng là những người phương Nam bình thường và chất phác làm nhân vật trung tâm
trong các đối tượng được miêu tả”. Truyện ngắn của Daudet chắt lọc tinh hoa văn
16


hóa của xứ sở quê hương. Có những bức tranh quê cổ kính, đẹp nhưng đượm buồn;
lại có những bức tranh tươi vui, mới lạ…được vẽ nên từ ngòi bút của một thiên tài.
Daudet nhận ra từng sự thay đổi, từng cái chuyển mình rất khẽ của vùng quê
Provence thân thương và dường như chúng ta nghe được cả tiếng thở dài của nhà văn
khi đọc những dòng ông viết trong tác phẩmCa khúc bằng văn xuôi : “Sớm nay, mở

Leconte de Lisle, Théophile Gautier…“Tuy không đồng nhất, không có một hệ thống
lí luận, nhóm Thi sơn vẫn qui tụ một số khuynh hướng chủ yếu trong thơ ca những
năm 60 của thế kỉ. Có thể thấy khá rõ bốn quan niệm chính, cũng là những phản ứng
chống chủ nghĩa lãng mạn bị coi là lỗi thời, dù nhiều thành viên của nhóm từng là
nhà thơ lãng mạn và vẫn giữ hoài niệm về trào lưu này: tách biệt khỏi xã hội và công
chúng, chống thái độ nhập cuộc và sứ mệnh lịch sử của nhà thơ; sự vô ngã, chống
việc lạm dụng cái Tôi, tôn sùng cái Đẹp tuyệt đối, chống lối hoa mĩ giả tạo, đề cao
lao động nghề nghiệp và khoa học, chống sự tự do, dễ dãi”[59, tr.336].Để hướng tới
cái đẹp, phái này chú trọng hoàn chỉnh hình thức nghệ thuật, tác phẩm ra đời đòi hỏi
có sự đầu tư hết sức kĩ lưỡng, công phu...
Chủ nghĩa tượng trưng là một thuật ngữ nhiều nghĩa chỉ một trào lưu không
thuần nhất, gồm những lực lượng cách tân trong nghệ thuật – thơ, kịch, tiểu thuyết,
hội họa – vào khoảng hai chục năm cuối thế kỉ XIX. Chủ nghĩa tượng trưng dựa trên
cái nhìn chủ quan tuyệt đối về thế giới, thơ ca không có nhiệm vụ miêu tả cái thế giới
gọi là “thực tại” mà ngược lại, lập nên một “thực tại” khác, thực hơn [59, tr.341].
Các nhà thơ đại diện cho trào lưu này là Charles Baudelaire, Arthur Rimbaud,
Stéphane Mallarmé, Paul Verlaine…
Thơ tượng trưng đi tìm cái mơ hồ, huyền ảo, là sự tìm kiếm không chỉ cho
người làm thơ mà còn cho người đọc. Thơ là gợi cảm, thơ là ám thị, “khả giải, bất
khả tận giải” (theo Chế Lan Viên). Những vần thơ đi theo chiều sâu của tâm linh…
Một trong những nét cơ bản của thơ tượng trưng là cảm quan tương ứng, xem thơ
như một thứ âm nhạc mới. Nhà thơ Paul Verlaine là người nói rất nhiều về vấn đề
“âm nhạc trong thơ tượng trưng”. Theo ông nhờ nhạc tính mà thơ có thể trực tiếp tác
động đến giác quan, người ta cảm nhận được âm nhạc trong thơ mơ hồ nhưng trọn
vẹn; quay về với âm nhạc là quay về với bản năng nguyên thủy của thơ. La Fontaine
cũng nói: “Chẳng có thơ nào không có nhạc”. Thơ tượng trưng gợi sự liên tưởng một

18



19


Sinh, mùa Vọng, mùa Thường niên. Ở mỗi mùa có những ngày lễ riêng, đặc biệt
quan trọng là những ngày : Lễ Giáng Sinh (kỉ niệm ngày con Thiên Chúa xuống thế
làm người); lễ Phục Sinh (kỉ niệm ngày Chúa Jesu chịu chết để cứu chuộc nhân loại
và đã sống lại vinh quang); lễ Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống; lễ kính Đức Mẹ; lễ
Các Thánh (kính trọng thể các thánh trên trời); lễ Cầu Hồn (cầu cho các linh hồn đã
qua đời). Ngoài ra còn có nhiều ngày lễ khác như lễ Lá, lễ Nến…đều được mừng
kính.
Niềm tin tôn giáo đã góp phần nâng đỡ con người, niềm tin vào những mầu
nhiệm của tôn giáo giúp con người hướng thiện, tránh xa tội lỗi, sửa đổi các tính hư nết
xấu. Niềm tin tôn giáo khiến những Tín hữu luôn tâm niệm rằng cuộc sống hiện tại trên
thế gian này chỉ là cuộc sống tạm, còn quê hương đích thực là ở trên Trời. Nếu họ sống
tốt lành, nhân đức và giữ vững lề luật của Thiên Chúa thì khi qua đời họ sẽ được lên
Thiên Đàng – nơi vô cùng hạnh phúc, ngược lại, họ sẽ phải sa vào luyện ngục hoặc hỏa
ngục chịu đau khổ muôn đời. (Luyện ngục là nơi thanh tẩy tội lỗi của con người. Còn
hỏa ngục là hình phạt cao nhất cho những linh hồn mà khi còn sống trên thế gian đã
phạm phải những tội trọng, gian ác, không biết ăn năn, hối cải…Nơi đây những linh
hồn ấy sẽ phải khóc lóc, nghiến răng và không còn được tha thứ nữa…).
Thời đại Khai Sáng (1684 – 1789) là thời đại gây chấn động trong lịch sử
Thiên Chúa giáo. Những nhà Cải cách tôn giáo quyết tâm nêu lên thắc mắc về những
học thuyết của giáo hội Thiên Chúa giáo. Theo quyển Lịch sử Thiên Chúa giáo của
Carol Smith và Roddy Smith : “Những lạm dụng của giáo hội mà những nhà cải
cách tôn giáo nêu ra là nghiêm trọng : buôn bán chức vụ, tham nhũng và đồi bại
trong giới giáo sĩ, giáo hoàng lạm dụng quyền hành và lạm dụng hệ xá tội. Ngay cả
những người mộ đạo nhất trong giáo hội Công giáo La Mã cũng nhận thức ra điều
đó. Công đồng Trent và nỗ lực của các tu sĩ dòng Tên là hai cố gắng nhằm sửa chữa
những vấn đề mà giáo hội xem là những vấn đề nội bộ” [50, tr.369]. Chính những sai
lầm của giới giáo chức trong giáo hội đã khiến niềm tin của nhiều giáo hữu bị lung

lạc” tìm đường quay đầu lại. Daudet lên lên tiếng mỉa mai Gaucher, kẻ đam mê thái
quá trò đua bò đến nỗi không còn muốn được lên thiên đường nữa, chỉ để được xem
đua bò (trong Giacgiai lọt vào nhà trời). Daudet cũng phê phán cả những linh mục
không làm tròn trách nhiệm của mình, không thể vượt qua được những cơn cám dỗ
tầm thường (trong Ba tiểu lễ). Tại sao Daudet lại viết nhiều về những câu chuyện
liên quan đến tôn giáo trong khi phần nhiều nhà văn cùng thời với ông xa rời tôn
21


giáo?! Theo cá nhân tôi, cũng dễ hiểu, bởi lẽ Daudet là một con người có tâm hồn
“hướng nội”, ông không dễ dàng tiếp nhận những tư tưởng mới mẻ. Tâm hồn nhạy
cảm của Daudet thường quay về với hồi ức và muốn lưu giữ những giá trị tinh thần
đã theo ông từ thủơ nhỏ. Chính tôn giáo đã góp phần nâng đỡ tâm hồn của Daudet.
Có thể nói thế giới quan của Daudet bị chi phối nhiều từ yếu tố tôn giáo.
1.2. Cảm hứng từ lòng yêu thương
Sophocle đã từng nói“Một từ có thể giải thoát chúng ta khỏi mọi đau khổ đó
là: yêu thương”. Yêu thương giúp đôi mắt có cái nhìn sâu sắc, vị tha hơn, yêu thương
làm trái tim con người trở nên ấm áp hơn, không còn đau khổ vì thù hận nữa. Tình
thương che phủ mọi nỗi đau đớn của con người, không còn cô đơn, không còn tranh
chấp, giành giật nữa! Mục đích của văn chương không phải là để con người tìm thấy
nhau, yêu thương và trân quí nhau sao? Tác giả văn học không phải là người thắp
ngọn lửa yêu thương cho người đọc hay sao? Có đôi khi chúng ta đưa ra những cái
nhìn phiến diện, những nhận xét vội vàng, hời hợt mà không biết rằng vô tình đã làm
tổn thương người khác; lúc đó chúng ta chưa thực sự yêu thương, chưa thực sự quan
sát bằng tất cả lòng mình…
Tác phẩm văn học thông tải cái nhìn chủ quan của tác giả về một vấn đề nào đó
mà họ quan tâm. Ta nhìn cuộc sống qua đôi mắt của nhà văn; và thông qua đôi mắt
ấy, chúng ta có thể chạm vào những khía cạnh mới lạ của cuộc sống. Lòng yêu
thương con người là đề tài muôn thuở của văn nhân, thi nhân; nhưng mỗi người có
cách viết riêng, có những cảm nhận riêng về tình thương. Không phải cứ nói thương

quyển tự thuật Chú nhóc. Thấm thía được cảnh lầm than vất vả của cuộc sống túng
thiếu, nhìn thấy đầy rẫy những bất công nên ông cảm thông sâu sắc đối với cảnh khổ
của những con người nghèo khó. Tình yêu thương con người là ngọn nguồn cảm
hứng, giúp ông sáng tác những câu chuyện xúc động, chân thật nhất… Như Evelyn
Underhill đã từng nói: “Tất cả mọi thứ đều có thể nhìn thấy dưới ánh sáng của lòng
nhân đức, và vì vậy, trong khía cạnh của cái đẹp; bởi cái đẹp là hiện thực giản đơn
được nhìn qua con mắt yêu thương.” Tác phẩm của Daudet đẹp, bởi lẽ nó được viết
ra từ lòng yêu thương.
Trong truyện ngắn của Daudet, ông thường viết về những con người bình
thường mà ông gặp gỡ trong cuộc sống hàng ngày có thể là những người nông dân ở
23


Trích đoạn Cốt truyện nghệ thuật trong truyện ngắn của Alphonse Daudet Không gian và thời gian trong truyện ngắn của Alphonse Daudet Thời gian trong truyện ngắn Alphonse Daudet Lối kể chuyện trữ tình trầm lắng và hài hước nhẹ nhàng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status