BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Bùi Thị Nguyên Hảo
THỰC TRẠNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP
SƯ PHẠM CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON
VỚI TRẺ Ở THỊ XÃ DĨ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Bùi Thị Nguyên Hảo
THỰC TRẠNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP
SƯ PHẠM CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON
VỚI TRẺ Ở THỊ XÃ DĨ AN
Chuyên ngành
: Giáo dục học (Mầm non)
Mã số
: 60 14 01 01
Xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc TS. Lê Xuân Hồng, cô là người hướng dẫn
khoa học cho đề tài của tôi. Xin chân thành cảm ơn và tỏ lòng tri ân về tất cả sự
tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài.
Ban giám hiệu trường Đại học Thủ Dầu Một, Khoa khoa học giáo dục của
trường đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khoá học.
Phòng giáo dục Thị xã Dĩ An cùng Ban Giám hiệu và giáo viên các trường:
MN Hoa Hồng 1, MN Hoa Hồng 2, MG Hoa Hồng 3, MN Hoa Hồng 4, MG Hoa
Hồng 5, MN Hoa Hồng 6, MG Anh Đào, MN Võ Thị Sáu đã nhiệt tình cộng tác
trong quá trình nghiên cứu đề tài.
Cùng tất cả các bạn bè đã giúp tôi rất nhiều trong quá trình học và thực
hiện đề tài của tôi.
Bình Dương, tháng 9 năm 2013
Học viên
Bùi Thị Nguyên Hảo
2
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .....................................................................................................1
LỜI CẢM ƠN ...........................................................................................................2
MỤC LỤC .................................................................................................................3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT .....................................................................5
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................6
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................................ 6
2. Mục đích nghiên cứu ................................................................................................. 8
3. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................................. 8
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu.......................................................................... 8
5. Giả thuyết khoa học ................................................................................................... 8
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu............................................................................... 9
2.3.1. Nhận thức của giáo viên mầm non về sự cần thiết của kỹ năng giao tiếp sư
phạm. .......................................................................................................................... 54
2.3.2. Đánh giá về kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ trong
hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ ........................................................................... 59
2.3.3. Những khó khăn giáo viên mầm non gặp phải trong quá trình giao tiếp sư
phạm với trẻ ............................................................................................................... 84
2.3.4. Nguyên nhân của thực trạng KNGTSP của GVMN với trẻ ở Thị xã Dĩ An ... 90
2.4. Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao kỹ năng giao tiếp sư phạm cho giáo
viên mầm non ở Thị xã Dĩ An ..................................................................................... 97
2.4.1. Cơ sở của việc đề xuất biện pháp ..................................................................... 97
2.4.2. Đề xuất một số biện pháp tác động .................................................................. 98
2.4.3. Kết quả khảo sát tính khả thi của các biện pháp nâng cao KNGTSP cho
GVMN...................................................................................................................... 103
KẾT LUẬN CHUNG VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM .........................................109
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................113
PHỤ LỤC ..............................................................................................................116
4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBQL
:
Cán bộ quản lý
ĐTB
:
Giáo viên mầm non
KN
:
Kỹ năng
KNĐH
:
Kỹ năng định hướng
KNĐK
:
Kỹ năng điều khiển
KNĐV
:
Kỹ năng định vị
KNGT
Giao tiếp không chỉ quan trọng đối với cuộc sống con người nói chung mà nó còn
ảnh hưởng rất lớn việc hình thành nhân cách nghề nghiệp. Đối với nghề giáo viên, giao
tiếp vừa có vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách người giáo viên
vừa là một bộ phận cấu thành hoạt động sư phạm, là thành phần chủ đạo trong cấu trúc
năng lực sư phạm của người giáo viên. Đồng thời giao tiếp của giáo viên với học sinh là
con đường giúp giáo viên truyền đạt những kiến thức đến với học sinh, đặc biệt nó có ảnh
hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển tâm lý, nhân cách…của học sinh, và hơn
hết là trẻ mầm non. Với trẻ mầm non, cô giáo là người có tầm ảnh hưởng rất lớn đối với
trẻ: cô giáo chính là khuôn mẫu, là chuẩn mực để trẻ bắt chước và noi theo, vì vậy không
khó để ta bắt gặp những cử chỉ, hành động, lời nói…mà trẻ hay bắt chước cô giáo của trẻ.
Như ta biết, hiện tượng khủng hoảng tuổi lên ba là thời kỳ mà tiền đề nhân cách của đứa
trẻ bắt đầu xuất hiện (sự tự ý thức). Và từ đây, mọi phẩm chất nhân cách của đứa trẻ chỉ
được hình thành trong giao tiếp với người xung quanh, chính trong giao tiếp trẻ lĩnh hội
những yêu cầu, nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội về cách ứng xử cho phù hợp với
6
các mối quan hệ xã hội, biết tự đánh giá mình và đánh giá người khác, cũng như biết rèn
luyện những phẩm chất nhân cách để được mọi người chấp nhận.
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân. Điều 22 Luật giáo dục (2005) đã xác định: “Mục tiêu giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển
về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách,
chuẩn bị cho trẻ vào lớp một”. Và để đạt được mục tiêu đó thì giáo viên mầm non là một
trong những nhân tố quyết định trực tiếp. Điều này đòi hỏi GVMN phải có năng lực sư
phạm, cần phải có những kiến thức và kỹ năng cần thiết, trong đó KNGTSP là một trong
những KN ảnh hưởng rất lớn đến công tác giáo dục. Bên cạnh đó, theo điều 7 – chương II
về “Các yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp GVMN“ cũng đã cho ta thấy rõ: KNGTSP của
GVMN là một trong những yêu cầu của nghề và cũng là một trong những tiêu chí đánh
giá năng lực của GVMN.
Nghề GVMN là nghề lao động rất đặc biệt, là một nghề đa năng, đòi hỏi người GV
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về kỹ năng, giao tiếp, kỹ năng giao tiếp sư
phạm, đặc điểm hoạt động sư phạm của giáo viên mầm non, giao tiếp sư phạm trong hoạt
động chăm sóc và giáo dục trẻ của giáo viên mầm non, yêu cầu về kỹ năng giao tiếp
trong chuẩn giáo viên mầm non.
- Khảo sát thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm trong hoạt động chăm sóc và giáo
dục của giáo viên mầm non với trẻ ở Thị xã Dĩ An.
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao kỹ năng giao tiếp sư phạm cho giáo viên
mầm non ở Thị xã Dĩ An.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ tại một số trường mầm
non trên địa bàn Thị xã Dĩ An.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ ở Thị xã Dĩ An.
5. Giả thuyết khoa học
Giáo viên mầm non ở Thị xã Dĩ An đã có kỹ năng giao tiếp sư phạm với trẻ nhưng vẫn
còn những hạn chế trong giao tiếp sư phạm giữa giáo viên mầm non với trẻ. Nếu nghiên
8
cứu và đánh giá đúng thực trạng KNGTSP của giáo viên mầm non với trẻ thì sẽ đưa ra
được những giải pháp góp phần nâng cao kỹ năng giao tiếp sư phạm cho giáo viên ở Thị
xã Dĩ An.
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu một số kỹ năng giao tiếp sư phạm của GVMN như: kỹ
năng định hướng, kỹ năng định vị, kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp.
Nghiên cứu kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo ở
Các số liệu thu được trong quá trình nghiên cứu được xử lý bằng toán thống kê theo
chương trình phần mềm SPSS for Windows 13.0.
Trong những phương pháp trên, phương pháp nghiên cứu tài liệu và điều tra bằng
bảng hỏi là phương pháp nghiên cứu chính, còn lại là các phương pháp hỗ trợ.
10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIAO TIẾP VÀ KỸ NĂNG
GIAO TIẾP SƯ PHẠM
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Ở nước ngoài
Giao tiếp là vấn đề đã được con người nghiên cứu từ thời cổ Hy Lạp. Tuy vậy, trước
thế kỷ XIX, giao tiếp chưa được nghiên cứu một cách sâu sắc như một chuyên ngành tâm
lý học. Giao tiếp chỉ được một số nhà triết học nhắc đến như là sự phản ánh mối quan hệ
giữa con người và con người.
Trong thời kỳ cổ Hy Lạp Xôcơrat (470-399 trước công nguyên) và Platon (428-347
trước công nguyên) đã nói tới đối thoại như là sự giao tiếp trí tuệ, phản ánh các mối quan
hệ giữa con người và con người.
Đến thời kỳ phục hưng, nhà bác học kiêm nghệ sĩ thiên tài Ý Lêôna Đêvanhxi
(1452-1512) đã mô tả sự giao tiếp mẹ con.
Đến thế kỷ XVIII nhà triết học Hà Lan M.P Hemtexlôxin đã viết một tiểu luận dưới
tiêu đề: “Một bức thư về con người và các quan hệ của nó với người khác”. Trong đó có
đoạn: “Muốn xem xét con người trong xã hội một cách chút ít thành công thì phải bất đầu
chú ý nghiên cứu một cái cơ quan mà cho đến nay chưa có tên riêng, mà thường được gọi
là trái tim, tình cảm, lương tâm… Tương tự như cơ quan thính giác hay thị giác nếu
không có không khí thì không thể hoạt động được, trái tim và lương tâm con người chỉ
bộc lộ khi người ấy cùng sống với người khác”. [4]
Đến thế kỷ XIX, giao tiếp được đánh giá có tầm quan trọng đặc biệt trong sự hình
1.1.2.1 Những nghiên cứu về giao tiếp
Ở Việt Nam vấn đề nghiên cứu giao tiếp chỉ được nghiên cứu từ những năm 1970
đến những năm 1980. Ngoài một vài bài lý luận như: “Các Mác và phạm trù giao tiếp”
của Đỗ Long (1963), phần lớn tập trung ở khoa tâm lý giáo dục trường Đại học sư phạm
12
Hà Nội I. Các bài của Trần Trọng Thủy như “Giao tiếp, tâm lý, nhân cách” (1981), “Giao
tiếp và sự phát triển nhân cách của trẻ” (1981), “Bàn về phạm trù giao tiếp” (1981) của
Bùi Văn Huệ, “Đặc điểm giao tiếp của sinh viên sư phạm” (1985), “Nhập môn khoa học
giao tiếp” (2006) của Nguyễn Sinh Huy, Trần Trọng Thủy. Nguyễn Sinh Huy, Trần
Trọng Thủy (2006), Nhập môn khoa học giao tiếp, NXB…các luận văn, khóa luận của
sinh viên khoa tâm lý giáo dục về giao tiếp và giao tiếp sư phạm đã có nhiều, song đều
mới dừng lại ở thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên.
Hiện nay, GT cũng là một nội dung quan trọng được giảng dạy trong các trường
trường Cao đẳng, Đại học…trong “Giáo trình TLH xã hội – những vấn đề lý luận” của
Mai Thanh Thế, “Giao tiếp và ứng xử sư phạm” (1992) của tác giả Ngô Công Hoàn,
“Giao tiếp sư phạm” (1997) của tác giả Hoàng Anh, “Giáo trình giao tiếp sư phạm”
(2002) của Lê Thanh Hùng (Đại học An Giang), “Khoa học giao tiếp” (2002) của
Nguyễn Ngọc Lâm (Đại học mở TP HCM), “Ứng xử sư phạm” (2006) của Trịnh Trúc
Lâm, … đã đề cập đến khái niệm GT, chức năng, vai trò của GT, phong cách GT, hệ
thống GT, … cũng như nguyên tắc, quy trình ứng xử và các tình huống ứng xử trong
GTSP, cung cấp cái nhìn hệ thống về các vấn đề lý luận và thực tiễn trong GTSP. Đây là
cơ sở quan trọng góp phần giúp cho đề tài hình thành các vấn đề lý luận trong nghiên cứu
KNGTSP của GVMN. [3], [12], [21],[22]
Bên cạnh đó, một số luận án, luận văn nghiên cứu về GT và các vấn đề liên quan
như:
Luận án tiến sĩ TLH giáo dục “Một số đặc điểm giao tiếp của trẻ mẫu giáo trong
nhóm chơi không cùng độ tuổi” của Lê Xuân Hồng (1996) đã hệ thống các lý luận về GT
của trẻ, nghiên cứu việc tổ chức chơi và những ảnh hưởng qua lại giữa trẻ trong nhóm
-
Năm 2004 có “Một số vấn đề về giao tiếp và giao tiếp sư phạm trong hoạt động của
giáo viên mầm non” của Lê Xuân Hồng.
-
Các tác giả đã đề cập đến vấn đề GT, ứng xử, GTSP, KNGTSP, những đặc điểm
phát triển nhu cầu giao tiếp của trẻ mầm non, đặc điểm GTSP của người lớn với trẻ,
những nguyên tắc và phương thức giao tiếp, ứng xử giữa cô và trẻ…Đây là những
cơ sở quan trọng góp phần giúp cho đề tài hình thành các vấn đề lý luận trong
nghiên cứu KNGTSP của GVMN.
Những năm cuối thế kỉ 20, ở trong nước đã có một số tác giả quan tâm nghiên cứu
vấn đề KNGT trong các lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là lĩnh vực sư phạm. Có thể kể đến
một số nghiên cứu như:
-
Luận án Tiến sĩ TLH “Kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên” (1992) của Hoàng
Thị Anh đã khái quát một số vấn đề lý luận cơ bản về GTSP và nghiên cứu thực
trạng KNGTSP theo các nhóm KN định hướng, KN định vị, KN điều khiển quá
trình giao tiếp… [4]
14
-
Các luận văn thạc sĩ nghiên cứu KNGTSP của sinh viên như: luận văn thạc sĩ TLH
“Kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo sinh người dân tộc trong trường trung học sư
phạm” (1995) của Lã Thị Thu Hà, “Tìm hiểu kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh
hưởng rất lớn về giáo dục (số lượng dân nhập cư cao). Do đó, việc nghiên cứu kỹ năng
giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ ở Thị Xã Dĩ An là rất cần thiết.
1.2. Một số vấn đề lý luận về kỹ năng, kỹ năng giao tiếp và kỹ năng giao tiếp
sư phạm
1.2.1. Kỹ năng
1.2.1.1. Khái niệm kỹ năng
Theo từ điển tiếng việt, kỹ năng là “Thói quen áp dụng vào thực tiễn những kiến
thức đã học hoặc là kết quả của quá trình luyện tập”.
Trong tiếng Anh, kỹ năng được dịch “Skill”. Từ điển Oxford định nghĩa “Skill” là
khả năng tìm ra giải pháp cho một vấn đề nào đó và có được nhờ rèn luyện.
Khái niệm kỹ năng được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau. Trong lịch sử nghiên
cứu các vấn đề về KN, có nhiều tác giả đã đưa ra những quan điểm khác nhau về KN.
Trong TLH tồn tại hai quan điểm khác nhau về kỹ năng:
Theo quan điểm thứ nhất: xem KN như vấn đề kỹ thuật hành động. Đại diện cho
quan niệm này là các tác giả như:
V.X. Cudin, V.A.Krutetxki, A.G Covalio, Trần Trọng Thủy… ” kỹ năng là phương
tiện thực hiện hành động phù hợp với mục đích, điều kiện hoạt động mà con người đã
nắm vững mà không cần tính đến kết quả của hành động”. [37]
Theo quan điểm thứ hai: xem xét kỹ năng không đơn thuần là mặt kỹ thuật của hành
động mà còn biểu hiện về năng lực của con người. Đại diện cho quan niệm này là các tác
giả như:
Nhà tâm lý học người Nga A.V.Barabasicoov (1963) cho rằng: “KN là khả
năng sử dụng tri thức và các kỹ xảo của mình một cách có mục đích và sáng tạo trong
quá trình của hoạt động thực tiễn. Khả năng này là khả năng tự tạo của con người:.[2]
N.D Lêvitov, K.I Kixegof, K.K Platonop, G.G Golubev, Nguyễn Quang Uẩn,
Ngô Công Hoàn, Nguyễn Ánh Tuyết, Trần Quốc Thành thì kỹ năng chính là năng lực
16
17
V.V Tsebucava khẳng định: “Các quá trình nhận thức trong học tập càng tích cực
bao nhiêu thì các kỹ năng, kỹ xảo càng hình thành nhanh chóng và hoàn thiện hơn bấy
nhiêu”. Vì vậy, nhà trường phải chú ý đúng mức đến chất lượng các kỹ năng cần hoàn
thiện.
Theo Levitov: “Người có kỹ năng hành động là phải nắm được và vận dụng đúng
đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả và để hình thành kỹ
năng con người không chỉ nắm lý thuyết về hành động mà phải biết vận dụng vào thực
tế”. [39] Bên cạnh đó, một số nhà khoa học Việt Nam cũng đưa ra khái niệm theo quan
điểm thứ hai:
Theo từ điển Tâm lý học của tác giả Vũ Dũng: “KN là năng lực vận dụng có kết quả
những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những
nhiệm vụ tương ứng. Ở mức độ KN, công việc được hoàn thành trong điều kiện hoàn
cảnh không thay đổi, chất lượng chưa cao, thao tác chưa thuần thục và còn phải tập trung
chú ý căng thẳng. KN được hình thành qua luyện tập”.[6]
Tác giả Lê Văn Hồng cho rằng: “KN là khả năng vận hành kiến thức (khái niệm,
cách thức, phương pháp…) để giải quyết một nhiệm vụ mới”. [2,tr97]
Tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng: “KN là khả năng thực hiện có kết quả một hành
động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động
phù hợp với những điều kiện cho phép”. [33]
Tác giả Trần Thị Quốc Minh và một số tác giả khác xác định kỹ năng là sự thực
hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh
nghiệm đã có để hành động phù hợp với hoàn cảnh cho phép. Kỹ năng không chỉ đơn
thuần về mặt kỹ thuật của hành động mà còn là biểu hiện năng lực của con người, muốn
hình thành phải luyện tập theo một quy trình nhất định. [26]
Từ những quan điểm trên, chúng tôi nhận thấy, KN vừa là mặt kỹ thuật của hành
động, vừa là biểu hiện năng lực của con người. Cơ sở của KN là tri thức, kinh nghiệm đã
có từ trước. KN được hình thành do luyện tập.
Đây là mức độ cao nhất của KN. Khi đó, con người nắm được đầy đủ hệ thống các
thao tác, hành động khác nhau, biết chọn lựa những thao tác, hành động cần thiết và ứng
19
dụng chúng một cách thành thạo trong các tình huống khác nhau mà không gặp khó khăn
gì.
Theo K.K. Platonov và G.G. Golubev thì KN được hình thành và phát triển qua năm
giai đoạn với năm hình thức biểu hiện và có cấu trúc tâm lý như sau:
Mức độ 1: Có KN sơ đẳng, hành động được thực hiện theo cách thử và sai, dựa trên
vốn hiểu biết và kinh nghiệm.
Mức độ 2: Biết cách thực hiện hành động nhưng không đầy đủ.
Mức độ 3: Có những KN chung nhưng còn mang tính chất rời rạc, riêng lẻ.
Mức độ 4: Có những KN chuyên biệt để hành động.
Mức độ 5: Vận dụng sáng tạo những KN trong các tình huống khác nhau.
Tác Giả Hoàng Thị Oanh cho rằng, KN được hình thành theo 4 giai đoạn sau:
Giai đoạn nhận thức
Giai đoạn làm thử
Giai đoạn kỹ năng bắt đầu hình thành
Giai đoạn kỹ năng bắt đầu hoàn thiện. [1]
Bên cạnh đó, một số nhà tâm lý học như: Cruchetxki, Levitov, Petropxki, Phạm
Minh Hạc…cho rằng, quá trình hình thành kỹ năng gồm 3 bước:
Bước 1: Nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức và điều kiện hành động.
Bước 2: Quan sát mẫu và làm thử theo mẫu.
Bước 3: Luyện tập để tiến hành các hành động theo đúng yêu cầu, điều kiện hành
động nhằm đạt được mục đích đặt ra. [26, tr41]
Nhìn chung, vấn đề hình thành kỹ năng thì có rất nhiều nhận định khác nhau, nhưng
những nhận định trên đều xác định là KN được hình thành trong hoạt động. Từ đây cho
thấy, để hình thành kỹ năng thì điều quan trọng và cần thiết là ta phải nắm được các giai
đoạn hình thành KN. Riêng đối với KNSP của GV thì được hình thành và hoàn thiện
các quan hệ người – người để hiện thực hóa các quan hệ xã hội người ta với nhau”. [9]
- Tác giả Ngô Công Hoàn cho rằng: “Giao tiếp là quá trình tiếp xúc giữa con người
với con người nhằm mục đích trao đổi tư tưởng, tình cảm, vốn sống, kỹ năng, kỹ xảo
nghề nghiệp”. [13]
21
- Tác Giả Hoàng Anh cho rằng: “Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý tạo nên quan hệ
giữa hai hoặc nhiều người với nhau, chứa đựng một nội dung lịch sử xã hội nhất định, có
nhiều chức năng tác động, hỗ trợ cùng nhau, thông báo, điểu khiển, nhận thức, hành động
và tình cảm… nhằm thực hiện một mục đích nhất định của một hoạt động nhất định”. [1]
- Tác giả Nguyễn Quang Uẩn cho rằng: “Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người
và người, thông qua đó con người trao đổi với nhau thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn
nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau. Hay nói khác đi giao tiếp là sự xác lập và
vận hành các quan hệ người – người, hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa chủ thể này
với chủ thể khác”. [40,tr49]
- Theo tác giả Lê Xuân Hồng: “Giao tiếp có thể là một quá trình, trong đó con người
trao đổi với nhau các ý tưởng, cảm xúc, và thông tin nhằm xác lập và vận hành các mối
quan hệ giữa người với người trong xã hội vì những mục đích khác nhau”.
- Theo tác giả Huỳnh Văn Sơn: “Giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các mối
quan hệ xã hội giữa người và người nhằm thỏa mãn những nhu cầu nhất định và nhằm
mục đích nào đó”. [33]
Ngoài các tác giả trên, còn rất nhiều khái niệm về giao tiếp của các tác giả như:
Nguyễn Thạc, Trần Tuấn Lộ, Diệp Quang Ban, Đinh Trọng Lạc, Trần Trọng Thủy,
Nguyễn Hữu Nghĩa, Nguyễn Ngọc Bích, Trần Hiệp, Vũ Dũng, Nguyễn Văn Đồng,
Nguyễn Khắc Viện.
Nhìn chung, các nhà tâm lý học trong và ngoài nước đều có điểm chung là đều công
nhận giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người và người, trong đó có sự trao đổi tư tưởng,
tình cảm, tác động và ảnh hưởng lẫn nhau.
đạt mục đích GT”. [2, tr201]
Theo tác giả Huỳnh Văn Sơn: “KNGT là khả năng vận dụng hiệu quả các tri thức và
kinh nghiệm về giao tiếp, các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ vào trong những
hoàn cảnh khác nhau của quá trình giao tiếp nhằm đạt mục đích GT”. [33]
Tham khảo các khái niệm về KNGT, chúng tôi nêu một định nghĩa về KNGT như
sau: KNGT là sự thực hiện có hiệu quả hoạt động giao tiếp, bằng cách vận dụng các tri
thức và kinh nghiệm về giao tiếp của bản thân trong quá trình giao tiếp nhằm đạt được
mục đích đề ra.
23