BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Bùi Khiếu Ngọc Lệ Hằng
THỰC TRẠNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP SƯ PHẠM
CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON VỚI TRẺ
Ở THÀNH PHỐ CÀ MAU
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Bùi Khiếu Ngọc Lệ Hằng
THỰC TRẠNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP SƯ PHẠM
CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON VỚI TRẺ
Ở THÀNH PHỐ CÀ MAU
Chuyên ngành
Mã số
: Tâm lý học
: 60 31 80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
MN Phường 4; Măng Non 2, P8; MN Tư Thục Dầu Khí; MN Tư thục Phổ Trí
Nhân, P5; MN tư thục Tân Hương, P8; MG Phường 7 đã nhiệt tình cộng tác trong
quá trình nghiên cứu đề tài.
Xin cảm ơn các bạn học viên lớp Tâm lý học K21 đã quan tâm chia sẻ, động
viên tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Cuối cùng xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong hội đồng chấm luận văn đã
cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn này.
Cà Mau, tháng 9 năm 2012
Học viên
Bùi Khiếu Ngọc Lệ Hằng
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIAO TIẾP VÀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP
SƯ PHẠM ..............................................................................................6
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề................................................................................6
1.1.1. Ở nước ngoài..............................................................................................6
1.1.2. Ở Việt Nam ................................................................................................7
1.2. Một số vấn đề lý luận về kỹ năng, kỹ năng giao tiếp và kỹ năng giao tiếp sư
phạm ...............................................................................................................12
1.2.1. Kỹ năng ....................................................................................................12
1.2.2. Giao tiếp và kỹ năng giao tiếp ................................................................16
1.2.3. Kỹ năng giao tiếp sư phạm ......................................................................21
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBQL
: Cán bộ quản lý
ĐTB
: Điểm trung bình
GDMN
: Giáo dục mầm non
GT
: Giao tiếp
GTSP
: Giao tiếp sư phạm
GV
: Giáo viên
GVMN
TLH
: Tâm lý học
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 : Đặc điểm nhóm khách thể nghiên cứu ................................................ 55
Bảng 2.2 : Mức độ đánh giá của GVMN về vai trò của KNGTSP ....................... 60
Bảng 2.3 : Nhận thức của GV về tầm quan trọng của các KN bộ phận của
KNGTSP ............................................................................................. 61
Bảng 2.4 : Nhận thức của GV về tầm quan trọng của KNGTSP .......................... 63
Bảng 2.5 : Tự đánh giá kỹ năng định hướng giao tiếp của GVMN ...................... 65
Bảng 2.6 : Thực trạng nhận thức về KNĐH giao tiếp của GVMN ...................... 67
Bảng 2.7 : Thực trạng biểu hiện KNĐH giao tiếp của GVMN ............................ 68
Bảng 2.8 : Cách ứng xử tình huống cụ thể của KNĐH của GVMN .................... 72
Bảng 2.9 : Tự đánh giá KNĐV của GVMN ......................................................... 74
Bảng 2.10 : Thực trạng nhận thức về KNĐV của GVMN ..................................... 75
Bảng 2.11 : Thực trạng biểu hiện KNĐV của GVMN ........................................... 77
Bảng 2.12 : Cách ứng xử tình huống cụ thể của KNĐV của GVMN .................... 80
Bảng 2.13 : Tự đánh giá KNĐK quá trình giao tiếp của GVMN ........................... 82
Bảng 2.14 : Thực trạng nhận thức về KNĐK quá trình GT của GVMN................ 83
Bảng 2.15 : Thực trạng biểu hiện KNĐK quá trình GT của GVMN ..................... 84
Bảng 2.16 : Cách ứng xử tình huống cụ thể của KNĐK quá trình GT của
GVMN ................................................................................................. 92
Bảng 2.17 : Đánh giá chung thực trạng KNGTSP của GVMN với trẻ ở Tp
Cà Mau ................................................................................................ 94
Bảng 2.18 : Thực trạng nhận thức vai trò của KNGTSP của GVMN theo thâm
niên ...................................................................................................... 95
Bảng 2.19 : Thực trạng nhận thức về các KNGTSP của GVMN theo thâm niên .. 98
… đã đi vào từng học sinh thông qua GT. Đặc biệt trong môi trường sư phạm của
trường mầm non, GTSP của GVMN có vai trò vô cùng quan trọng đối với việc hình
thành và phát triển xúc cảm, hình thành những phẩm chất nhân cách cho trẻ. Bởi vì,
đối với trẻ mầm non, cô giáo chính là khuôn mẫu, là chuẩn mực để trẻ bắt chước.
Mọi phẩm chất nhân cách của đứa trẻ chỉ được hình thành trong GT với người xung
quanh, chính trong quá trình GT trẻ lĩnh hội được những yêu cầu, nguyên tắc, chuẩn
mực đạo đức xã hội về các cách ứng xử cho phù hợp với các mối quan hệ xã hội,
biết tự đánh giá mình và đánh giá người khác, cũng như biết tự rèn luyện những
phẩm chất của nhân cách để được mọi người chấp nhận.
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống Giáo dục Quốc dân.
Điều 22, Luật giáo dục (2005) đã xác định: “Mục tiêu của giáo dục mầm non là
giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu
tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào học lớp một” [30]. Muốn đạt được
2
mục tiêu này thì mỗi giáo viên phải nổ lực thực hiện nhiệm vụ của mình, phải chăm
lo rèn luyện, phát triển năng lực sư phạm cho bản thân, bởi vì giáo viên là nhân tố
quyết định trực tiếp đến kết quả thực hiện mục tiêu giáo dục. Để có được năng lực
sư phạm người giáo viên cần phải có những kiến thức và KN cần thiết, trong đó
KNGTSP là một trong những KN ảnh hưởng rất lớn đến kết quả của công tác dạy
học và giáo dục. Chính vì vậy, đòi hỏi người GVMN phải có KNGTSP phù hợp với
yêu cầu giáo dục trẻ.
Nghề giáo viên mầm non là một nghề lao động đa năng, hoạt động sư phạm
của GVMN có một sắc thái riêng, khác hẳn so với giáo viên của các bậc học khác là
tạo bước đầu quan trọng trong việc hình thành phát triển nhân cách của con người.
Trong nhân cách của họ vừa có cả những nét của người mẹ vừa có cả những nét của
nhà giáo dục, của người nghệ sĩ, người thầy thuốc, người cấp dưỡng,…và người bạn
của trẻ mầm non. Đặc điểm quan trọng nhất của lao động sư phạm mầm non là
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ
ở Thành phố Cà Mau. Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao kỹ
năng giao tiếp sư phạm cho giáo viên mầm non ở Thành phố Cà Mau.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giao tiếp sư
phạm, đặc điểm hoạt động sư phạm của giáo viên mầm non, giao tiếp sư phạm trong
hoạt động của giáo viên mầm non.
3.2. Khảo sát thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm trong hoạt động của giáo viên
mầm non với trẻ ở Thành phố Cà Mau.
3.3. Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao kỹ năng giao tiếp sư phạm cho giáo
viên mầm non ở Thành phố Cà Mau.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ ở Tp Cà Mau.
4.2 Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu chính: 150 giáo viên đang công tác tại một số trường
mầm non trên địa bàn Thành phố Cà Mau.
4
Khách thể nghiên cứu bổ trợ: 20 cán bộ quản lý các trường mầm non ở Thành
phố Cà Mau.
5. Giả thuyết khoa học
Giáo viên mầm non ở Thành phố Cà Mau đã có kỹ năng giao tiếp sư phạm
với trẻ nhưng thể hiện trong thực tế chỉ đạt mức trung bình do nhiều nguyên nhân
khác nhau. Nếu nghiên cứu và đánh giá đúng thực trạng KNGTSP của giáo viên
mầm non với trẻ thì sẽ đưa ra được những biện pháp góp phần nâng cao kỹ năng
giao tiếp sư phạm cho giáo viên mầm non ở Tp Cà Mau.
hiểu rõ hơn về thực trạng KNGTSP của giáo viên mầm non với trẻ.
7.2.3. Phương pháp phỏng vấn
Tiến hành phỏng vấn một số GV và CBQL trường mầm non nhằm tìm hiểu
thêm về thực trạng KNGTSP của GVMNvới trẻ, đặc biệt là nguyên nhân của thực
trạng và đề xuất các biện pháp cần thực hiện để nâng cao KNGTSP cho GVMN.
7.3. Phương pháp thống kê toán học
Các số liệu thu được trong quá trình nghiên cứu được xử lý bằng toán thống kê
theo chương trình phần mềm vi tính: SPSS for windows 13.0
6
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIAO TIẾP VÀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP
SƯ PHẠM
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Ở nước ngoài
Vấn đề giao tiếp đã được con người xem xét từ thời cổ đại, nhà triết học
Socrate (470 - 399 TCN) và Platôn (428 - 347 TCN) đã coi đối thoại như là sự GT
trí tuệ, phản ảnh các mối quan hệ giữa con người với con người. [2,tr.161]
Đến thời kỳ Phục Hưng (1452 – 1512), Leonardo De Vince, họa sĩ thiên tài
người Ý, đã mô tả sự GT mẹ con.
Đến thế kỉ 18, nhà triết học Hà Lan M.Phemtecloi đã viết một tiểu luận dưới
nhan đề “Một bức thư về con người và các quan hệ của nó với người khác”, trong
đó có đoạn: “… trái tim và lương tâm trong con người chỉ bộc lộ khi người ấy cùng
sống với người khác”. [2]
Đến thế kỉ 19, nhà triết học Đức Phơbach (1804 – 1872) đã viết: “Bản chất
người chỉ biểu hiện trong GT, trong sự thống nhất của con người, trong sự thống
nhất dựa trên tính hiện thực của sự khác biệt giữa tôi và bạn”. [2]
Đến thế kỉ 20, vấn đề GT ngày càng được các nhà triết học, xã hội học, tâm lý
học quan tâm nhiều hơn. Có thể kể đến một vài hướng nghiên cứu sau đây:
1.1.2. Ở Việt Nam
1.1.2.1. Những nghiên cứu về giao tiếp
Nhiều tác giả nghiên cứu vấn đề GT với các khía cạnh khác nhau về bản chất
của GT, vai trò, vị trí của GT trong sự hình thành nhân cách như “Các Mác và phạm
trù giao tiếp” (1963) của Đỗ Long, “Giao tiếp, tâm lý, nhân cách” (1981), “Giao
tiếp và sự phát triển nhân cách của trẻ” (1981), “Bàn về phạm trù giao tiếp” của Bùi
Văn Huệ, “Nhập môn khoa học giao tiếp” (2006) của Nguyễn Sinh Huy, Trần
Trọng Thủy. [21], [50]
Hiện nay, GT cũng là một nội dung quan trọng được giảng dạy trong các
trường Cao đẳng, Đại học… Trong “Giáo trình TLH xã hội – những vấn đề lý luận”
của Mai Thanh Thế, “Đặc điểm giao tiếp sư phạm” (1985) của tác giả Trần Trọng
Thủy, “Giao tiếp và ứng xử sư phạm” (1992) của tác giả Ngô Công Hoàn, “Giao
tiếp sư phạm” (1997) của tác giả Hoàng Anh, “Giáo trình giao tiếp sư phạm” (2002)
của Lê Thanh Hùng (Đại học An Giang), “Khoa học giao tiếp” (2002) của Nguyễn
8
Ngọc Lâm (Đại học mở Tp HCM), “Ứng xử sư phạm” (2006) của Trịnh Trúc Lâm,
… đã đề cập đến khái niệm GT, chức năng, vai trò của GT, phong cách GT, hệ
thống GT,… cũng như nguyên tắc, quy trình ứng xử và các tình huống ứng xử trong
GTSP, cung cấp cái nhìn hệ thống về các vấn đề lý luận và thực tiễn trong GTSP.
Đây là cơ sở quan trọng góp phần giúp cho đề tài hình thành các vấn đề lý luận
trong nghiên cứu KNGTSP của GVMN. [1], [11], [24], [25]
Bên cạnh đó, một số luận án, luận văn nghiên cứu về GT và các vấn đề liên
quan như:
Luận án Tiến sĩ TLH giáo dục “Một số đặc điểm giao tiếp của trẻ mẫu giáo
trong nhóm chơi không cùng độ tuổi” của Lê Xuân Hồng (1996) đã hệ thống các lý
luận về GT của trẻ, nghiên cứu việc tổ chức chơi và những ảnh hưởng của tác động
qua lại giữa trẻ trong nhóm chơi không cùng lứa tuổi ở trường mẫu giáo. Những
Trần Trọng Thủy với bài “Tình người, giao tiếp và văn hóa giao tiếp” (1998)
đã phân tích mối quan hệ giữa tình người, văn hóa và giao tiếp. GT là phương tiện
thể hiện tình người, là hình thức tác động qua lại của con người trong quá trình sống
và hoạt động cùng nhau… Thông qua GT, bản chất con người được thể hiện, thu
nhận được các tri thức về thế giới, về người khác, về bản thân… Tác giả đã đề cập
đến một số KNGT như KN chỉnh sửa các ấn tượng ban đầu của mình về người khác
khi mới quen họ, KN bước vào GT với người khác một cách không có định kiến.
[50,tr.20]
Tác giả Nguyễn Đình Xuân nghiên cứu GT trong quản lý, tác giả đã đề cập
đến một số KNGT như KN lựa chọn địa điểm, thời gian tiếp khách, KN làm chủ
cảm xúc của mình trong GT,… [50,tr.21]
Tác giả Nguyễn Văn Đính đề cập đến một số KNGT mà người hướng dẫn viên
cần có khi tiếp xúc với khách du lịch trong “Giáo trình tâm lý và nghệ thuật giao
tiếp ứng xử trong kinh doanh du lịch” (1997) như KN định hướng, KN định vị,
KNĐK giao tiếp. [50]
Tác giả Nguyễn Đình Chỉnh, Phạm Ngọc Uyển trong “Tâm lý học quản lý”
(1998) đề cập đến vấn đề GT, GTSP và GT quản lý trong đó nêu lên KNGTSP với
cấu trúc bao gồm các thành phần như biết định hướng, hiểu được các dấu hiệu bên
ngoài của ngôn ngữ trong GT, biết điều kiển quá trình GT. [50]
Bên cạnh đó, các luận án, luận văn nghiên cứu KNGT có thể kể đến như:
10
Luận án Tiến sĩ TLH “Kỹ năng giao tiếp nghiệp vụ của trinh sát an ninh và
phương pháp đánh giá chúng” (2002) của Võ Sĩ Lục. Đề tài đã trình bày những
KNGT nghiệp vụ cần thiết cho hoạt động nghiệp vụ an ninh theo các nhóm KN
định hướng, KN định vị, KNĐK trong GT. [50]
Đề tài nghiên cứu khoa học (mã số CS.2000-04) “Tìm hiểu những khó khăn
(về mặt kỹ năng) trong giao tiếp của trẻ 4-5 tuổi với bạn cùng độ tuổi và biện pháp
cho sinh viên Cao đẳng sư phạm. [23], [50]
1.1.2.3. Những nghiên cứu về giao tiếp sư phạm ở ngành giáo dục mầm non
Các công trình nghiên cứu về GTSP ở ngành GDMN đã được các nhà
nghiên cứu quan tâm từ những năm thập niên 30. Nổi bật nhất về vấn đề này vẫn là
các nhà nghiên cứu Liên Xô cũ như: A.G.Ruzxkaia: “Hành vi của trẻ mầm non
trong điều kiện tác động ngôn ngữ và phi ngôn ngữ của người lớn” (Kỹ yếu hội
nghị TLH lần thứ 3 Liên Xô – NXB GD 1968), A.V. Daporpzet –M.I. Lixina: “ Sự
phát triển giao tiếp ở trẻ mầm non” (1974), ….các tác giả này đã nói lên được các
đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mầm non và cách giao tiếp với trẻ.
Ở trong nước vấn đề GTSP trong ngành mầm non mới chỉ được chú trọng
những năm gần đây. Các tác giả Lê Xuân Hồng và Vũ Thị Ngân biên dịch “Những
vấn đề về giao tiếp sư phạm mầm non” (1994); Ngô Công Hoàn “Giao tiếp và ứng
xử sư phạm (dùng cho giáo viên mầm non)” (1997); Lê Xuân Hồng “Những kỹ
năng sư phạm của giáo viên mầm non” (2000); “Một số vấn đề về giao tiếp và giao
tiếp sư phạm trong hoạt động của giáo viên mầm non” (2004); Vũ Mạnh Huỳnh
“Tư vấn ứng xử sư phạm với trẻ ở độ tuổi mẫu giáo” (2006), đã đề cập đến vấn đề
GT, ứng xử, GTSP, KNGTSP, những đặc điểm phát triển nhu cầu GT của trẻ mầm
non, đặc điểm GTSP của người lớn với trẻ, những nguyên tắc và phương thức GT,
ứng xử giữa cô giáo và trẻ …Đây là cơ sở quan trọng góp phần giúp cho đề tài hình
thành các vấn đề lý luận trong nghiên cứu KNGTSP của GVMN. [10], [13], [19]
Nhìn chung vấn đề KNGT và KNGTSP được quan tâm nghiên cứu trên các
khía cạnh khác nhau, với các khách thể và thời điểm nghiên cứu khác nhau đã cho
thấy tầm quan trọng của KNGT trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên,
trong các công trình nghiên cứu trên vẫn chưa có nhiều đề tài nghiên cứu về
KNGTSP của GVMN. Do đó, việc nghiên cứu kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo
viên mầm non với trẻ ở thành phố Cà Mau là rất cần thiết.
12
13
hành động.
- Quan niệm thứ hai: cho rằng KN không đơn thuần là mặt kỹ thuật của hành
động mà còn là một biểu hiện về năng lực của con người. Theo quan niệm này, KN
vừa có tính ổn định, lại vừa có tính mềm dẻo, tính linh hoạt, và tính mục đích. Đại
diện cho quan điểm này có các tác giả:
N.D.Lêvitôv cho rằng: “KN là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó
hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức
đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định” [2, tr.96].
Tác giả V.V.Bôgxloxki (1973) cho rằng, KN có hai mức độ: KN sơ đẳng và
KN thành thạo. KN sơ đẳng ban đầu là những KN hành động - những cái được hình
thành trên cơ sở của các tri thức hay là kết quả của sự bắt chước. Còn KN thành
thạo được hình thành trên cơ sở của các tri thức và kỹ xảo – những cái được lĩnh hội
từ trước. X.I.Kixegof cũng có quan niệm như V.V.Bôxloxki. Theo ông thì có hai
loại KN: KN bậc thấp (kỹ năng nguyên sinh) và KN bậc cao (kỹ năng thứ sinh).
“KN nguyên sinh” được hình thành lần đầu tiên qua các hành động đơn giản, nó là
cơ sở để hình thành kỹ xảo. Còn “KN thứ sinh” là kỹ năng nảy sinh lần thứ hai sau
khi đã có các tri thức và kỹ xảo. [2,tr.97]
Các tác giả K.K.Platônôv và G.G.Golubev cho rằng: “KN là khả năng của con
người thực hiện một hành động bất kỳ nào đó hay các hành động trên cơ sở của
kinh nghiệm – những cái đã được lĩnh hội từ trước. Hay nói cách khác, KN được
hình thành trên cơ sở của các tri thức và các kỹ xảo”. [2]
Nhà Tâm lý học người Nga A.V.Barabasicoov (1963) cho rằng: “KN là khả
năng sử dụng tri thức và các kỹ xảo của mình một cách có mục đích và sáng tạo
trong quá trình của hoạt động thức tiễn. Khả năng này là khả năng tự tạo của con
người”. [2]
A.V.Petrovxki cho rằng: “KN là cách thức cơ bản để chủ thể được thực hiện
Vì vậy, trong luận văn này, chúng tôi thống nhất sử dụng khái niệm KN của tác
giả Vũ Dũng trình bày trong từ điển Tâm lý học vì khái niệm này có sự kết hợp của cả hai
quan điểm trên.
1.2.1.2. Các mức độ và quá trình hình thành kỹ năng
Mỗi nhà nghiên cứu có một cách phân chia khác nhau về giai đoạn hình thành
và phát triển KN. Nhưng đa phần các tác giả đều phân chia KN thành năm mức độ
15
từ KN ban đầu đến KN đạt ở mức độ hoàn hảo. Theo quan điểm của V.P.Bexpalko,
có năm mức độ sau: [42, tr.106]
- Mức độ 1: Kỹ năng ban đầu
Người học đã có kiến thức về nội dung một dạng KN nào đó, và trong những
tình huống cụ thể khi cần thiết, sẽ có thể tái hiện được những thao tác, hành động
nhất định. Tuy nhiên, ở mức độ KN ban đầu này thì người học thường chỉ thực hiện
được yêu cầu của KN này dưới sự hướng dẫn của người dạy.
- Mức độ 2: Kỹ năng mức thấp
Khác với ở mức 1, ở mức độ KN mức thấp, con người có thể tự thực hiện
được những thao tác, hành động cần thiết theo một trình tự đã biết. Song, ở mức độ
KN này, người học chỉ thực hiện được những thao tác, hành động trong những tình
huống quen thuộc và chưa di chuyển được sang những tình huống mới.
- Mức độ 3: Kỹ năng trung bình
Ở mức này, con người tự thực hiện thành thạo các thao tác đã biết trong các
tình huống quen thuộc. Tuy vậy, việc di chuyển của các KN sang tình huống mới
còn hạn chế.
- Mức độ 4: Kỹ năng cao
Một sự khác biệt thể hiện KN ở mức độ cao là người học đã tự lựa chọn hệ
thống các thao tác, các hành động cần thiết trong các tình huống khác nhau. Bên
cạnh đó, người học đã biết di chuyển KN trong phạm vi nhất định.
này đều thống nhất là KN được hình thành trong hoạt động. Do đó, người GV cần nắm
được các giai đoạn hình thành KN để tổ chức và điều khiển hoạt động giáo dục của mình
sao cho hình thành được những KN sư phạm là điều cần thiết và quan trọng. Các KN sư
phạm của người GV được hình thành và hoàn thiện trong quá trình dạy học và chúng ta
hoàn toàn có thể nâng cao mức độ KN cho từng cá nhân thông qua các phương pháp cụ
thể.
1.2.2. Giao tiếp và kỹ năng giao tiếp
1.2.2.1. Khái niệm giao tiếp
GT là một hiện tượng tâm lý rất phức tạp biểu hiện ở nhiều mặt, nhiều cấp độ
khác nhau. Có nhiều định nghĩa khác nhau về GT. Mỗi định nghĩa đều dựa trên một
quan điểm riêng. Có thể kể đến một số quan điểm:
17
Ở góc độ tiếp cận nhận thức, K.K.Platonôv cho rằng: “GT là những mối liên
hệ có ý thức của con người trong cộng đồng loài người”. Và L.X.Vưgotxki cho rằng
“GT là quá trình chuyển giao tư duy và cảm xúc”. [2], [42].
Dưới góc độ nhân cách, V.N.Miaxixev cho rằng: “GT là một quá trình quan hệ
tác động qua lại lẫn nhau giữa các nhân cách cụ thể”. A.Ph.Lomov cho rằng: “GT là
mối quan hệ tác động qua lại giữa con người, với tư cách là chủ thể”. Theo
Ia.L.Kolôminxki: “GT là sự tác động qua lại có đối tượng và thông tin giữa con
người với con người, trong đó những quan hệ nhân cách được thực hiện, bộc lộ và
hình thành”. [32], [42]
Ở góc độ tiếp cận về chức năng giao tiếp, B.D.Đarưghin: “GT là quá trình tác
động lẫn nhau, trao đổi thông tin ảnh hưởng lẫn nhau, hiểu biết và nhận thức lẫn
nhau”. [42]
Ở góc độ xem xét GT là một dạng hoạt động, A.N.Lêônchiev cho rằng: “GT là
một hệ thống những quá trình có mục đích và động cơ, bảo đảm sự tương tác giữa
người này với người khác trong hoạt động tập thể, thực hiện các quan hệ xã hội của