BM 01-Bia SKKN
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
PHÒNG TỔ CHỨC CÁN BỘ
Mã số: ................................
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP
VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC NỮ,
TỪNG BƯỚC BẢO ĐẢM SỰ THAM GIA BÌNH ĐẲNG GIỮA
NAM VÀ NỮ TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Người thực hiện: Nguyễn Thị Giang
Lĩnh vực nghiên cứu: Quản lý giáo dục
Có đính kèm: Các sản phẩm không thề hiện trong bản in SKKN
Mô hình
Phần mềm
Phim ảnh
Hiện vật khác
Năm học: 2012-2013
2
BM02-LLKHSKKN
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: NGUYỄN THỊ GIANG
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Bình đẳng giới là vấn đề được cả xã hội quan tâm. Nếu vấn đề giải phóng
phụ nữ là vấn đề cơ bản nhất trong các vấn đề của phụ nữ thì quyền bình đẳng
giữa nam và nữ lại là nội dung quan trọng nhất, cốt lõi nhất của vấn đề này.
Chính vì vậy mà Bác Hồ đã khẳng định: “Công dân đều bình đẳng trước pháp
luật. Đàn bà có quyền bình đẳng với đàn ông về các mặt chính trị, kinh tế, văn
hoá, xã hội và gia đình”. Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, vấn đề bình đẳng
giới càng có ý nghĩa sâu sắc.
Trong giáo dục và đào tạo, sự bất bình đẳng bén rể ngay trong hệ thống
giáo dục và biểu hiện ở tỉ lệ học sinh nữ tham gia cấp tiểu học và trung học cơ
sở thấp hơn tỉ lệ học sinh nam, nhất là ở các vùng nghèo và vùng dân tộc thiểu
số. Học sinh nam có nhiều cơ hội quay trở lại học tiếp hơn học sinh nữ. Tỉ lệ trẻ
em gái ở các tỉnh miền núi đi học còn thấp, chủ yếu là các em phải ở nhà phụ
giúp gia đình và một vài nơi vẫn còn tục lệ lấy chồng sớm. Báo cáo “Đánh giá
tình hình giới ở Việt Nam” do các tổ chức quốc tế: WB, ADB, DFID và CIDA
phối hợp thực hiện cho thấy, trong quá trình đổi mới nội dung, chương trình
sách giáo khoa, mặc dù có nhiều cố gắng trong việc lồng ghép giới vào chương
trình và các hoạt động ngoài giờ lên lớp, nhưng hiện nay vẫn còn có các định
kiến giới trong các tài liệu giáo dục và sách giáo khoa trong việc chia sẻ việc
nhà, phân biệt đối xử trong lực lượng lao động và các hành vi mang lại rủi ro
cho nam và nữ thanh niên.
Trong những năm gần đây, nhất là sau khi Luật Bình đẳng giới được
thông qua và có hiệu lực, việc thực hiện bình đẳng giới trong giáo dục nói chung
và trong quản lý giáo dục (QLGD) đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Tỉ
lệ nữ cán bộ QLGD ngày càng tăng, nhất là ở các cấp học cao, vị thế và vai trò
của nữ cán bộ quản lý ngày càng khẳng định rõ nét. Tuy nhiên, trong thực tế tỉ lệ
nữ cán bộ QLGD vẫn còn thấp, phần lớn chỉ giữ vị trí phó. Họ thường không
được tham gia vào quá trình đưa ra quyết định, không được tiếp cận các thông
tin và thiếu cơ hội trao đổi, thảo luận, nhất là ở những vùng khó khăn, vùng dân
tộc thiểu số.
- Các cơ hội tham gia đóng góp và hưởng lợi từ các nguồn lực xã hổi
và quá trình phát tiển
- Quyền tự do và chất lượng cuộc sống bình đẳng
- Được hưởng thành quả bình đẳng trong một lĩnh vực của xã hội
Mục tiêu bình đẳng giới là xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như
nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân
lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ
hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.
2. Thực trạng về bình đẳng giới trong giáo dục và đào tạo
2.1 Trên thế giới
Theo báo cáo của UNICEF, tháng 12/2006, nhân dịp kỷ niệm 60 năm ngày
thành lập của tổ chức này, việc loại bỏ sự phân biệt đối xử về giới và nâng cao
vị thế của phụ nữ sẽ tạo ra sự tác động sâu sắc và tích cực đến sự sống còn và
phát triển của trẻ em. Bà Ann M. Veneman- Giám đốc điều hành UNICEF phát
biểu: “Khi vị thế của người phụ nữ được nâng lên để có một cuộc sống đầy đủ
và hữu ích, trẻ em và giáo dục họ sẽ trở nên thịnh vượng”. Theo báo cáo này,
5
mặc dù trong những thập kỷ gần đây đã có một số tiến bộ về vị thế của phụ nữ
nhưng cuộc sống của hàng triệu “trẻ em gái và phụ nữ vẫn bị đe doạ bởi sự phân
biệt đối xử, việc bị tước quyền và nghèo khổ. Hậu quả của sự phân biệt đối xử là
trẻ em gái ít có cơ hội được học hơn. Ở các nước đang phát triển, gần như 1/100
trẻ em gái bị bỏ học ở trường tiểu học sẽ không theo học được hết cấp. Trình độ
học vấn, theo báo cáo, tương quan đến sự cải thiện về các nguồn lực đầu tư cho
sự sống còn và phát triển của trẻ em.
Sự phân biệt giới trong lĩnh vực giáo dục thường diễn ra trong nhóm nước
nghèo. Một nghiên cứu gần đây về tỉ lệ đến trường của các bé và bé trai ở 41
quốc gia đã cho thấy, trong những nước này, sự phân biệt về giới trong tỉ lệ đến
trường giữa nhóm nghèo thường lớn hơn giữa những nhóm không nghèo. Tuy
trong gia đình được cải thiện, số lượng và chất lượng đầu tư cho giáo dục đối
với con cái sẽ được cải thiện trực tiếp thông qua sự dạy dỗ của người mẹ cũng
6
như khả năng thuyết phục hoặc quyền của người mẹ trong việc đầu tư cho giáo
dục đối với con cái.
Ngoài ra, trình độ của người mẹ cao hơn, đóng vai trò quyết định trong việc
chăm sóc và dinh dưỡng đối với con cái. Về lâu dài, các tác động này sẽ làm
cho chất lượng nguồn nhân lực được cải thiện và năng suất lao động trung bình
của toàn xã hội sẽ được nâng lên.
Phụ nữ vả trẻ em gái được tạo điều kiện bình đẳng với nam giới trong nâng
cao trình độ văn hóa và trình độ học vấn. Tỉ lệ phụ nữ so với nam giới trong số
người biết chữ đã tăng lên đáng kể. Chênh lệch về tỉ lệ học sinh nam-nữ trong
tất cả các bậc học được thu hẹp. Về cơ bản, Việt Nam có thể đạt được mục tiêu
xóa bỏ cách biệt giới ở các cấp học trước năm 2015. Có bốn loại hình giáo dục
không chính quy chủ yếu dành cho người lớn, trong đó có phụ nữ. Các chương
trình này đã tạo nhiều cơ hội học tập đối với phụ nữ hơn.
Nhận thức được thực trạng và tầm quan trọng của người phụ nữ, đặc biệt là
vai trò của giáo dục đối với xã hội, ngành giáo dục và đào tạo đã thực hiện
tương đối tốt vấn đề bình đẳng giới. Nguyên thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
Đặng Huỳnh Mai đã khẳng định vai trò to lớn của giới nữ: “ Chiếm hơn 70%
đội ngũ toàn ngành, giới nữ đóng vai trò đáng kể vào sự phát triển của sự nghiệp
giáo dục và đào tạo nước nhà”. Một số cơ sở đào tạo lớn vốn có truyền thống
nam giới lãnh đạo như đại học Bách khoa Hà Nội nay đã có nữ giới giữ vị trí
phó hiệu trưởng. Nhiều nữ nhà giáo được phong danh hiệu Nhà giáo nhân dân,
được công nhận chức danh Phó giáo sư.
Đặc biệt, nhiều học sinh nữ, sinh viên nữ tự khẳng định vai trò của giới.
Trong các kỳ tuyển sinh vào cao đẳng, đại học nhiều thủ khoa là học sinh nữ. Số
lượng nữ sinh viên trúng tuyển vào các trường cao đẳng và đại học chính quy
ngoài bằng ngân sách Nhà nước. Trong chương trình học bổng của Chính phủ
Nhật bản năm 2010, trong 06 ứng viên trúng tuyển đại học tại Nhật Bản khối
ngành xã hội, có 5 là sinh viên nữ (chiếm 83%)…
7
2.3 Thực trạng về bình đẳng giới ở ngành giáo dục và đào tạo tỉnh
Đồng Nai
2.3.1 Về ưu điểm:
Đối với ngành giáo dục và đào tạo tỉnh Đồng Nai, nữ cán bộ quản lý giáo
dục và giáo viên đã đóng góp công sức rất lớn trong sự nghiệp giáo dục và đào
tạo. Trong những năm qua, có nhiều nữ CBQL được Bộ Giáo dục và Đào tạo
tặng bằng khen. Trong tổng số 96 nhà giáo được phong tặng Nhà giáo ưu tú có
41 nữ nhà giáo (tỉ lệ 42,7%). Nhiều nữ giáo viên đạt thành tích cao trong giảng
dạy: có 10/21 nữ giáo viên đạt giáo viên dạy giỏi cấp toàn quốc (tỉ lệ 47,6%).
Nhiều nữ cán bộ, giáo viên đạt thành tích được UNBD tỉnh, Sở Giáo dục và Đào
tạo tặng bằng khen, giấy khen. Nữ CBQL trong các trường học chiếm tỉ lệ cao:
trên 60%, có trường hiệu trưởng, phó hiệu trưởng hoàn toàn là nữ (trường mầm
non).
Nhiều nữ giáo viên, nhân viên phấn đấu học tập nâng cao trình độ chuyên
môn nghiệp vụ. Toàn ngành có: 03 cán bộ, giáo viên có trình độ tiến sĩ (có 01/3
nữ; tỉ lệ 33,3%); 223 CB-GV có trình độ thạc sĩ trong đó có 61/223; tỉ lệ
27,3%. có 67 chị em đang học cao học và 05 nghiên cứu sinh. Năm 2012 có 28
người tốt nghiệp thạc sĩ, trong đó nữ: 16 người; tỉ lệ 57,14% .
Giáo viên đạt trên chuẩn: mầm non 1.637 (nữ 1.637; tỉ lệ 100%); tiểu học
6.223 (nữ 2.983/6.223; tỉ lệ 47,93%); trung học cơ sở 3.099 (nữ 1.499/3.099; tỉ
lệ 48,37%); trung học phổ thông 108 ( nữ 23/108; tỉ lệ 21,29%); trung cấp CN
15( nữ 5/15; tỉ lệ 33,3%).
Thống kê tỉ lệ biết chữ của nam và nữ trong độ tuổi từ 15 đến 40 tuổi ở
vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn
cực học tập rèn luyện, đạt kết quả xuất sắc. Trong các kỳ tuyển sinh vào cao
đẳng và đại học nhiều thủ khoa là học sinh nữ.
2.3.2 Về tồn tại:
Thực chất bình đẳng giới trong giáo dục và đào tạo còn nhiều vấn đề cần
xem xét. Về khách quan, việc nhìn nhận vai trò của nữ giáo viên chưa đúng,
nhiều hiệu trưởng không muốn nhận giáo viên là nữ vì sợ liên quan đến chế độ
8
nghỉ thai sản, con đau ốm ảnh hưởng đến việc giảng dạy hoặc khi đề bạt, cử đi
học còn e dè trong việc chọn nữ giáo viên.
Quy chế phối hợp giữa cấp ủy, chính quyền và các đoàn thể chưa thật sự
phát huy vai trò của phụ nữ trong giai đoạn hiện nay.
Công tác tuyên truyền, giáo dục chủ yếu lồng ghép vào các đợt sinh hoạt
chuyên môn, họp hội đồng, sinh hoạt đảng, đoàn thể, nên nội dung còn cô đọng
thiếu tính sáng tạo chưa đem lại hiệu quả.
Một số địa phương thuộc vùng sâu, vùng xa trẻ em gái ít cơ hội được đến
trường so với nam giới.
Về chủ quan, nhiều chị em chưa thoát ra khỏi tâm lí tự ti, an phận, không
cần phấn đấu, không chịu khó học tập để nâng cao trình độ, chưa nhận thức hết
vai trò và chưa thay đổi cách nhìn mới về chính mình. Mặt khác, các chính sách
trong giáo dục và đào tạo ngoài ảnh hưởng chung đối với xã hội còn có ảnh
hưởng trực tiếp đến bình đẳng giới. Ví dụ, việc tăng giảm học phí ảnh hưởng rất
nhiều đến quyền lợi của trẻ em gái. Bởi vì trẻ em gái có nguy cơ bị buộc nghỉ
học cao hơn bé trai khi điều kiện gia đình khó khăn.
2.3.3 Giải pháp thực hiện bình đẳng giới trong giáo dục và đào tạo
Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, từng bước bảo đảm sự tham
gia bình đẳng giữa nam và nữ trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo của tỉnh nhà,
ngành Giáo dục và Đào tạo cần chủ trì, phối hợp với các ngành chức năng:
- Tổ chức tuyên truyền phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng và
ở các cấp.
- Tuyên truyền, động viên và ban hành chế độ hỗ trợ khuyến khích phụ nữ
tham gia học tập, đào tạo để tăng nhanh tỷ lệ phụ nữ được đào tạo sau đại học.
Mở lớp đào tạo, phổ cập tin học cho giáo viên nữ ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó
khăn.
- Động viên các chị em phải tự lực tự cường phấn đấu để vươn lên, rèn
luyện theo các tiêu chí: có sức khoẻ, tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng động
sáng tạo, có lối sống văn hoá, có lòng nhân đạo để khẳng định mình.
III . HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Nghiên cứu vấn đề bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo là
một việc làm cần thiết trong xã hội hiện nay, nhằm mục đích đưa ra các biện
pháp nâng cao bình đẳng giới trong giáo dục và đào tạo. Sự nghiệp phát triển
giáo dục hiện nay không thể không tính đến vấn đề giới. Chính vì những lý do
cấp thiết đó mà tôi chọn nghiên cứu vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
nữ, từng bước bảo đảm sự tham gia bình đẳng giữa nam và nữ trong lĩnh vực
giáo dục - đào tạo, mong góp một vài giải pháp của mình vào việc xây dựng kế
hoạch quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhằm nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực nữ của ngành giáo dục - đào tạo tỉnh nhà trong thời gian tới.
IV ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Có thể nói rằng bình đẳng giới trong giáo dục và đào tạo có tầm quan
trọng to lớn đối với sự phát triển của đất nước. Vì vậy, có một nhà giáo dục đã
viết: Giáo dục một người đàn ông, ta được một gia đình, giáo dục một người
phụ nữ ta được cả một thế hệ. Lợi ích trăm năm trồng người chính là xuất phát
từ việc bình đẳng giới trong giáo dục. Vì thế, đề nghị:
Các cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp quan tâm, tăng cường sự lãnh đạo chỉ
đạo nhằm thực hiện các quyền hợp pháp của nữ nhà giáo, nữ học sinh, sinh viên;
Thu hẹp khoảng cách giới trong giáo dục, hướng tới một nền giáo dục có trách
nhiệm giới.
Chăm lo, tạo điều kiện cho sự tiến bộ của nữ cán bộ, giáo viên, nhân viên,
thúc đẩy mục tiêu bình đẳng giới vì sự phát triển của phụ nữ; phát huy vai trò, trí
- Quyết định số 970/QĐ-BGDĐT ngày 09 tháng 3 năm 2012 của Bộ Giáo
dục và Đào tạo về việc ban hành Kế hoạch hành động về Bình đẳng giới của
ngành giáo dục giai đoạn 2012-2015;
- TS. Trần Thị Kim Xuyến, tài liệu giảng dạy: “Giới và các vấn đề đô thị”.
- Báo tuổi trẻ
NGƯỜI THỰC HIỆN
(Ký tên và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Thị Giang
11
BM04-NXĐGSKKN
SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI
Đơn vị .....................................
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
................................, ngày
tháng 5
năm 2013
PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2012 - 2013
–––––––––––––––––
Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có
2. Hiệu quả (Đánh dấu X vào 1 trong 4 ô dưới đây)
-
Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng
trong toàn ngành có hiệu quả cao
-
Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng tại
đơn vị có hiệu quả
3. Khả năng áp dụng (Đánh dấu X vào 1 trong 3 ô mỗi dòng dưới đây)
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách:
Tốt
Khá
Đạt
- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện và
dễ đi vào cuộc sống:
Tốt
Khá
Đạt
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu