BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Trọng Hiếu
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Trọng Hiếu
Chuyên ngành : Địa Lý học (Trừ Địa lý tự nhiên)
Mã số
: 60 31 95
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. PHẠM XUÂN HẬU
Thành phố Hồ Chí Minh - 2011
Lời cảm ơn
Tôi xin chân thành cám ơn lãnh đạo Trường Đại học Sư Phạm TP.HCM,
Phòng Khoa học Công nghệ & Sau Đại học, các thầy cô giáo khoa Địa Lý
Trường Đại học Sư Phạm TP.HCM.
1.2.1. Tình hình phát triển du lịch ở Việt Nam..................................................31
1.2.2. Du lịch tiểu vùng du lịch Đông Nam Bộ .................................................33
Chương 2. TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH
TÂY NINH THỜI KÌ HỘI NHẬP.........................................................................36
2.1. Tiềm năng phát triển.......................................................................................36
2.1.1. Vị trí địa lý ...............................................................................................36
2.1.2. Tài nguyên du lịch tự nhiên .....................................................................39
2.1.3 .Tài nguyên du lịch nhân văn ....................................................................45
2.1.4. Cơ sở hạ tầng- vật chất kỹ thuật du lịch ..................................................55
2.1.5. Đánh giá chung về tiềm năng du lịch Tây Ninh ......................................62
2.2. Hiện trạng phát triển .......................................................................................66
2.2.1. Lượng khách và nguồn khách .................................................................66
2.2.2. Doanh thu .................................................................................................71
2.2.3. Cơ sở vật chất kĩ thuật .............................................................................74
2.2.4. Lao động và sử dụng lao động du lịch .....................................................77
2.2.5. Đầu tư phát triển du lịch ..........................................................................79
2.2.6. Các loại hình du lịch đang hoạt động ở Tây Ninh hiện nay ...................83
2.2.7. Các điểm du lịch ......................................................................................86
2.2.8. Các tuyến du lịch chính ...........................................................................95
2.3 Đánh giá chung về thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh ......................98
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH
TÂY NINH THỜI KÌ HỘI NHẬP.......................................................................106
3.1. Những căn cứ đưa ra định hướng .................................................................106
3.1.1. Chiến lược phát triển du lịch quốc gia ..................................................106
3.1.2. Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội Tây Ninh đến năm 2020 .............108
3.1.3. Chiến lược phát triển du lịch của tỉnh....................................................110
3.1.4. Thực trạng phát triển du lịch ................................................................112
3.1.5. Nhu cầu du lịch của xã hội ....................................................................113
CSHT- CSVCKT
Cơ sở hạ tầng- Cơ sở vật chất kĩ thuật
DT LSVH
Di tích lịch sử văn hóa
GTVT
Giao thông vận tải
KT –XH
Kinh tế- xã hội
PATA
Hiệp hội Du lịch Châu Á- Thái Bình Dương
TCLT
Tổ chức lãnh thổ
TTLL
Thông tin liên lạc
UBND
Hình 2.4. Biểu đồ thể hiện số lao động của ngành du lịch Tây Ninh giai đoạn
2000- 2009 ............................................................................................... 78
Hình 2.5. Biểu đồ thể hiện số lượng khách du lịch đến Núi Bà từ năm
2003- 2010 ............................................................................................... 87
DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ
Bản đồ 2.1. Vị trí Tây Ninh trong địa giới các tỉnh miền Đông Nam Bộ ............. 35b
Bản đồ 2.2. Hành chính tỉnh Tây Ninh ................................................................. 37b
Bản đồ 2.3. Hiện trạng tài nguyên và cơ sở hạ tầng du lịch tỉnh Tây Ninh .......... 73b
Bản đồ 2.4. Thương mại- du lịch- dịch vụ Tây Ninh ............................................ 76b
Bản đồ 3.
Định hướng tổ chức không gian tuyến, điểm du lịch Tây Ninh
đến năm 2020 ................................................................................... 117b
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam đã có khá nhiều nỗ lực trong tạo dựng và quảng bá hình ảnh ra khu
vực và thế giới. Những thành tựu của sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa- hiện đại
hóa đất nước và trong công tác đối ngoại đã góp phần làm cho các nước trên thế
giới biết đến Việt Nam như một nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, chính trị ổn
định, với lực lượng lao động trẻ, thông minh sáng tạo. Đặc biệt trong lĩnh vực du
lịch, Việt Nam được biết đến là một điểm đến hấp dẫn với phong cảnh thiên nhiên
hùng vĩ, có nhiều di sản thiên nhiên, văn hóa, người dân thân thiện, mến khách, giàu
truyền thống văn hóa. Trong những năm đầu thế kỉ XXI, với khẩu hiệu “Việt NamĐiểm đến của thiên niên kỷ mới”và hiện nay là “Việt Nam- Vẻ đẹp tiềm ẩn”đã tạo
nên sức cuốn hút đối với khách du lịch nước ngoài.
Những cố gắng này đã đem lại những kết quả đáng khích lệ, lượng khách du
trọng như điểm cầu nối giữa TP. Hồ Chí Minh và thủ đô Phnom Penh, do đó việc
thông thương theo tuyến này có nhiều thuận lợi và là cơ hội để phát triển du lịch.
Tiềm năng du lịch của Tây Ninh khá phong phú, với những điểm đến có giá
trị lớn về tự nhiên và nhân văn, với các điểm du lịch như hồ Dầu Tiếng – một trong
những hồ nước lớn nhất khu vực Nam Bộ và Việt Nam; Núi Bà Đen với những di
tích lịch sử - văn hóa, chùa chiền, các hang động hoang sơ cùng với một trong
những lễ hội lớn nhất Việt Nam, năm 2009 thu hút hơn 2 triệu lượt khách; Vườn
Quốc gia Lò Gò – Xa Mát với thiên nhiên phong phú, đa dạng; Các di tích lịch sử
cách mạng như Căn cứ mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam, căn cứ Trung ương
cục Miền Nam; Các di tích văn hoá khác như Toà Thánh Cao Đài, Tháp Chóp Mạt,
Tháp Bình Thạnh… tất cả làm nên lợi thế về du lịch mà không phải địa phương nào
tại Việt Nam cũng có được.
Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, các thành quả đã đạt được của du lịch Tây
Ninh vẫn chưa tương xứng với tiềm năng do những yếu tố mang tính khách quan
cũng như chủ quan mang lại. Tài nguyên du lịch khai thác gần như đơn lẻ. Đóng
góp của du lịch trong GDP còn khiêm tốn, cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ cho kinh
doanh du lịch chưa đồng bộ, chưa có các loại hình kinh doanh lữ hành quốc tế.
Trong thời kì nước ta đang hội nhập với thế giới hiện nay, sự phát triển kinh tế địa
phương đã có nhiều chuyển biến, đời sống nhân dân được nâng cao tạo ra tiềm năng
3
và nhu cầu mới đối với ngành du lịch thì đòi hỏi việc khai thác và phát triển du lịch
của tỉnh cần mang tính chiến lược và hiệu quả hơn.
Xuất phát từ những nhu cầu cấp bách của thực tiễn, trên cơ sở kế thừa những
kết quả nghiên cứu đi trước về vấn đề du lịch, tác giả đã lựa chọn đề tài “Phát triển
du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập”.
2. Mục đích nghiên cứu
Vận dụng cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển du lịch để phân tích tiềm năng
Bộ”, 2001; “Quy hoạch phát triển vùng Đông Bắc”, 1995; “Quy hoạch tổng thể phát
triển du lịch vùng trung du miền núi phía Bắc”, 2006…
Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu có giá trị khác như: Đề tài “Tổ chức
lãnh thổ du lịch Việt Nam”do Vũ Tuấn Cảnh và cộng sự thực hiện, 1991; Luận án
PTS Đặng Duy Lợi, 1992, “Đánh giá và khai thác các điều kiện tự nhiên huyện Ba
Vì, tỉnh Hà Tây phục vụ mục đích du lịch”; Luận án PTS Trần Đức Thanh, 1995,
“Cơ sở khoa học cho việc xây dựng bản đồ phục vụ mục đích du lịch cấp tỉnh ở
Việt Nam- lấy ví dụ tỉnh Ninh Bình”; “Địa lý du lịch”do Nguyễn Minh Tuệ chủ trì,
1994; “Tổ chức lãnh thổ du lịch”của Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ, 1999; “Tài
nguyên và môi trường du lịch Việt Nam”do Phạm Trung Lương chủ biên, 2000;…
Nhiều địa phương cũng đã xây dựng quy hoạch tổng thể cho phát triển du lịch dưới
sự giúp đỡ và hướng dẫn của Tổng cục du lịch như Thái Nguyên, Hải Phòng, Hà
Nội, Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Bình Định, Phú yên, Khánh
Hòa, TP.HCM… với sự tham gia của các nhà khoa học có uy tín trong và ngoài
nước.
Ở Tây Ninh, đã có một số báo cáo, tổng kết ban đầu về du lịch như: Chương
trình xúc tiến du lịch năm 2009; Các báo cáo hoạt động du lịch hàng năm và kế
hoạch năm sau; Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch tỉnh Tây Ninh thời kỳ
1995 – 2010 do Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch lập năm 1994 (Quy hoạch
1995). Nổi bật nhất là công trình nghiên cứu quy hoạch về du lịch : Điều chỉnh quy
hoạch tổng thể phát triển Du lịch tỉnh Tây Ninh đến năm 2010 và định hướng đến
năm 2020 do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tây Ninh chủ trì. Ngoài ra, còn có
thể kể đến công trình nghiên cứu về hoạt động marketing có liên quan đến du lịch
“Phát triển hoạt động marketing trong du lịch quốc tế tại tỉnh Tây Ninh giai đoạn
2010-2015”(2009).
5
“Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập”là đề tài đầu tiên nghiên
6
tố: tự nhiên, văn hóa, lịch sử, con người có mối quan hệ qua lại gắn bó mật thiết với
nhau một cách hoàn chỉnh. Vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá các nguồn lực du lịch
thường được nhìn nhận trong mối quan hệ về mặt không gian hay lãnh thổ nhất định
để đạt được những giá trị đồng bộ về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường. Để
mang lại hiệu quả tổ chức, kinh doanh du lịch cần tìm ra được sự khác biệt trong
từng đơn vị lãnh thổ và mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các yếu tố trong cùng
một lãnh thổ cũng như mối quan hệ mở với các lãnh thổ khác.
- Quan điểm lịch sử- viễn cảnh:
Tây Ninh là vùng đất có nền văn hóa lâu dài theo chiều dài lịch sử dân tộc.
Đến nay Tây Ninh vẫn giữ được những nét đặc sắc, độc đáo về tự nhiên, văn hóa
của một tỉnh nằm ở biên giới tây nam của tổ quốc. Sử dụng quan điểm lịch sử- viễn
cảnh để tìm hiểu nguồn gốc phát sinh, diễn biến quá trình và kết quả khai thác của
các hoạt động du lịch diễn ra trên địa bàn tỉnh. Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm, kế
thừa có chọn lọc và phát huy những thành quả đạt được để có kế hoạch phát triển du
lịch bền vững và hợp lí hơn.
- Quan điểm phát triển bền vững:
Du lịch hiện nay đang trở thành một ngành mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Tuy nhiên việc phát triển du lịch phải gắn với việc bảo vệ và tôn tạo nguồn tài
nguyên, môi trường sinh thái bền vững. Từ đó có những kế hoạch và biện pháp phù
hợp để khai thác có hiệu quả tài nguyên du lịch cũng như làm tốt công tác bảo tồn
và tôn tạo. Phát triển du lịch ở Tây Ninh cần phải gắn với việc bảo vệ môi trường
trong sạch, có những biện pháp kịp thời ngăn chặn những ảnh hưởng tiêu cực từ các
hoạt động du lịch đến môi trường tự nhiên, văn hóa, xã hội của tỉnh.
Theo Hội đồng thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED), cũng như
khoản 21 (điều 2, chương I) luật du lịch Việt Nam năm 2005 thì phát triển du lịch
bền vững được quan niệm là: “Sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện
tại mà không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong đáp ứng các
nhu cầu của họ”[31]
phương…
8
- Phương pháp bản đồ- biểu đồ:
Để kết quả nghiên cứu được thể hiện một cách trực quan, đề tài đã áp dụng
phương pháp bản đồ- biểu đồ trên cơ sở phân tích, đánh giá tổng hợp các chỉ tiêu
định lượng, định tính. Đây là phương pháp quan trọng xác định sự phân bố, mức độ
tập trung theo lãnh thổ của các đối tượng nghiên cứu (điểm, tuyến, cụm du lịch)
trong không gian, đồng thời thể hiện mối liên hệ với các khu vực lân cận của địa
bàn nghiên cứu.
- Phương pháp chuyên gia:
Phương pháp này góp phần quan trọng trong việc định hướng đưa ra các kết
luận, các kiến nghị và lựa chọn các phương án phát triển với những thông tin chính
xác. Với việc có cơ hội trao đổi ý kiến với lãnh đạo các cấp địa phương nghiên cứu,
các ngành, lĩnh vực có liên quan, tác giả đã vận dụng vào đề tài nghiên cứu. Từ đó
đề tài góp phần đánh giá và phân tích tiềm năng, thực trạng của hoạt động du lịch
cũng như mạnh dạn đề xuất các giải pháp cho việc phát triển du lịch ở tỉnh Tây
Ninh.
7. Cấu trúc đề tài
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch
Chương 2: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì
hội nhập
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì
hội nhập
9
hóa”[29]
Theo luật du lịch Việt Nam (2005), “Du lịch là các hoạt động có liên quan
đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp
10
ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian
nhất định”(Điểm 1, điều 10) [31]
1.1.1.2. Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch được xem như là tiền đề để phát triển du lịch. Tài nguyên
du lịch càng phong phú đặc sắc, có mức độ tập trung cao thì càng có sức hấp dẫn
với khách và có hiệu quả kinh doanh du lịch cao.
“Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử
văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác
có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch; Là yếu tố cơ bản để hình thành
các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch” [31]
Tài nguyên du lịch được chia làm hai nhóm : tài nguyên du lịch tự nhiên và
tài nguyên du lịch nhân văn
“Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa
mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan tự nhiên đang được khai thác hoặc
có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”[31]
Tài nguyên du lịch nhân văn do con người tạo ra hay nó là đối tượng và
hiện tượng được tạo ra một cách nhân tạo, nó có những đặc điểm khác biệt so với
tài nguyên tự nhiên. Những đặc tính cơ bản của tài nguyên du lịch nhân văn :
- Mang tính phổ biến
- Mang tính tập trung dễ tiếp cận
- Có tính truyền đạt nhận thức nhiều hơn là hưởng thụ, giải trí.
1.1.1.3. Sản phẩm du lịch
Theo luật du lịch Việt Nam (2005) : “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch
đưa ra [29]
- Dựa theo mục đích chuyến đi, du lịch được chia thành : du lịch tham quan;
du lịch nghỉ ngơi, giải trí; du lịch khám phá; du lịch thể thao; du lịch văn hóa; du
lịch tôn giáo; du lịch hội nghị; du lịch mạo hiểm; du lịch thăm thân; du lịch công
vụ, du lịch tôn giáo, du lịch thăm hỏi….
- Dựa theo lãnh thổ hoạt động, du lịch được chia thành : du lịch quốc tế và
du lịch nội địa
- Ngoài ra còn có các cách phân loại khác như :
12
+ Dựa theo đặc điểm địa lý của điểm du lịch, có thể chia ra : du lịch miền
biển, du lịch miền núi, du lịch đô thị, du lịch thôn quê…
+ Dựa theo phương tiện giao thông, có thể chia ra : du lịch bằng xe đạp, du
lịch bằng xe máy, du lịch bằng ô tô, du lịch bằng tàu hỏa, du lịch bằng tàu thủy, du
lịch máy bay…
+ Dựa theo lứa tuổi của du khách, có thể chia ra : du lịch thiếu niên, du lịch
thanh niên, du lịch trung niên, du lịch cao tuổi…
+ Dựa theo độ dài chuyến đi, có thể chia thành : du lịch ngắn ngày, du lịch
dài ngày…
+ Dựa theo hình thức tổ chức, có thể chia thành : du lịch có tổ chức, du lịch
cá nhân…
1.1.1.6. Chương trình du lịch- Tour du lịch
Luật du lịch Việt Nam (2005) đưa ra khái niệm : “Chương trình du lịch là
lịch trình, các dịch vụ và giá bán chương trình được định trước cho chuyến đi của
du khách từ nơi xuất phát đến điểm kết thúc chuyến đi”[31]
Nội dung của chương trình du lịch bao gồm :
- Tổng quỹ thời gian : n ngày và n-1 đêm
- Lộ trình
khác nhằm đạt hiệu quả (kinh tế, xã hội, môi trường) cao nhất. Đối với phân vùng
du lịch Việt Nam có năm cấp:
♦ Điểm du lịch: điểm du lịch là cấp thấp nhất trong hệ thống phân vị. Về
mặt lãnh thổ, điểm du lịch có quy mô nhỏ. Trên bản đồ các vùng du lịch, người ta
thể hiện điểm du lịch là những điểm riêng biệt. Tuy nhiên, trong thực tế dù quy mô
rất nhỏ nhưng cũng chiếm một diện tích nhất định trong không gian. Sự chênh lệch
về diện tích giữa các điểm du lịch tương đối lớn.
Điểm du lịch là nơi tập trung một loại tài nguyên nào đó (tự nhiên, văn hóalịch sử hoặc kinh tế- xã hội) hay một loại công trình riêng biệt phục vụ du lịch hoặc
kết hợp cả hai với quy mô nhỏ. Vì thế điểm du lịch có thể phân thành hai loại : điểm
tài nguyên và điểm chức năng.
14
Thời gian lưu lại của khách du lịch tương đối ngắn (không quá 1- 2 ngày) vì
sự hạn chế của đối tượng du lịch, trừ một vài trường hợp ngoại lệ (điểm du lịch với
chức năng chữa bệnh, nhà nghỉ cơ quan…)
Các điểm du lịch được nối với nhau bằng tuyến du lịch. Trong trường hợp
cụ thể, các tuyến du lịch có khả năng là tuyến nội vùng (á vùng, tiểu vùng, trung
tâm) hoặc tuyến liên vùng (giữa các vùng).
♦ Trung tâm du lịch: là sự kết hợp lãnh thổ của các điểm du lịch cùng loại
hay khác loại. Trên lãnh thổ trung tâm du lịch tập trung nhiều điểm du lịch. Nói
cách khác, mật độ điểm du lịch trên lãnh thổ tương đối dày đặc. Mặt khác, trung
tâm du lịch gồm các điểm chức năng được đặc trưng bởi sự gắn kết lãnh thổ về mặt
kinh tế- kĩ thuật và tổ chức . Nó có khả năng và sức thu hút khách du lịch rất lớn
Nguồn tài nguyên du lịch tương đối tập trung và được khai thác một cách
cao độ. Có thể nguồn tài nguyên không thật đa dạng (về loại hình), song điều kiện
cần thiết là phải tập trung và có khả năng lôi cuốn khách du lịch.
Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất- kĩ thuật khá phong phú để đón, phục vụ và
lưu khách trong một thời gian dài.
Trong á vùng du lịch có nhiều loại tài nguyên. Trong chừng mực nhất định,
chuyên môn hóa bắt đầu được thể hiện, dù có thể chưa đậm nét. Sự hình thành và
phát triển á vùng du lịch phụ thuộc nhiều yếu tố. Có thể trong một số vùng du lịch,
sự phân hóa lãnh thổ chưa dẫn đến việc hình thành các á vùng. Trong trường hợp
ấy, hệ thống phân vị chỉ còn bốn cấp : Điểm du lịch- Trung tâm du lịch- Tiểu vùng
du lịch- Vùng du lịch.
♦ Vùng du lịch: là cấp cao nhất trong hệ thống phân vị. Đó là một sự kết
hợp lãnh thổ của các á vùng (nếu có), tiểu vùng, trung tâm và điểm du lịch có những
đặc trưng riêng về số lượng và chất lượng. Nói cách khác, vùng du lịch như một
tổng thể thống nhất của các đối tượng và hiện tượng tự nhiên, nhân văn và xã hội…
bao gồm hệ thống lãnh thổ du lịch và môi trường kinh tế- xã hội xung quanh với
chuyên môn hóa nhất định trong lĩnh vực du lịch.
Nói đến vùng du lịch phải nói đến chuyên môn hóa. Nó chính là bản sắc của
vùng, làm cho vùng này khác hẳn với vùng kia. Ở nước ta, chuyên môn hóa các
vùng du lịch đang trong quá trình hình thành. Tuy nhiên, mỗi vùng chuyên môn hóa
16
gì và xu hướng phát triển như thế nào thì cần nghiên cứu sâu hơn.
Các mối liên hệ nội, ngoại vùng đa dạng dựa trên nguồn tài nguyên, cơ sở hạ
tầng và cơ sở vật chất- kĩ thuật sẵn có của vùng. Về phương diện lãnh thổ, vùng du
lịch có diện tích rất lớn, bao gồm nhiều tỉnh. Ngoài ra, với hoạt động du lịch mạnh
mẽ, nó còn bao chiếm cả các khu vực không du lịch (điểm dân cư, các khu vực
không có tài nguyên và cơ sở du lịch nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với kinh tế du
lịch)
Cũng như các tiểu vùng, người ta chia ra vùng du lịch đang hình thành
(vùng du lịch tiềm năng) và vùng du lịch đã hình thành (vùng du lịch thực tế). Ở
nước ta, có thể có tiểu vùng du lịch thực tế và tiểu vùng du lịch tiềm năng. Song,
thực tế chúng ta chưa có vùng du lịch đã hình thành. Vì vậy, vùng du lịch Việt Nam
Xu thế phát triển du lịch thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang
đứng trước sự bắt buộc phải sử dụng có trách nhiệm các nguồn lực của mình, đặc
biệt là tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn.
Khái niệm phát triển du lịch bền vững xuất hiện trong khoảng hơn 10 năm
trở lại đây, trên cơ sở cải thiện và nâng cấp khái niệm du lịch mềm (soft tourism),
được nhiều quốc gia và hiệp hội du lịch lớn trên thế giới ủng hộ. Tuy nhiên một
khái niệm “du lịch bền vững”hoàn chỉnh được tất cả mọi người thống nhất sử dụng
chung đến nay chưa có.
Năm 1992, Tổ chức du lịch thế giới (UNWTO) định nghĩa: “Du lịch bền
vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của
du khách và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo
các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai.
Năm 1996, Hội đồng du lịch và lữ hành quốc tế (WTTC) đưa ra khái niệm:
“Du lịch bền vững là sự đáp ứng nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà
vẫn đảm bảo khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch mai sau”.
Theo luật du lịch Việt Nam năm 2005 thì phát triển du lịch bền vững được
quan niệm là: “Sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không
làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của
họ”[31].