động cơ học tập của sinh viên trường đại học khoa học xã hội và nhân văn thành phố hồ chí minh - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
….o0o….

PHẠM VĂN SỸ

ĐỘNG CƠ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI
VÀ NHÂN VĂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

PHẠM VĂN SỸ

ĐỘNG CƠ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI
VÀ NHÂN VĂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 60 31 80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA
HỌC


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Khái quát khách thể nghiên cứu ......................................................... 39
Bảng 2.2: Mức độ quan tâm của sinh viên về mục đích học tập ........................ 41
Bảng 2.3: Lý do quyết định học đại học ............................................................. 42
Bảng 2.4: So sánh lý do học đại học của sinh viên năm thứ nhất và sinh viên
năm thứ tư ........................................................................................................... 45
Bảng 2.5: Lý do sinh viên chọn trường ĐH KHXH&NV ................................... 46
Bảng 2.6: Lý do chọn trường ĐH KHXH&NV của sinh viên năm thứ nhất và
thứ tư kết hợp với nguyện vọng xét tuyển .......................................................... 49
Bảng 2.7: Động cơ học tập của sinh viên thể hiện qua mục đích học tập ........... 50
Bảng 2.8: Thái độ học tập của sinh viên khi đã hình thành mục đích học tập..... 57
Bảng 2.9: Hành vi học tập của sinh viên ............................................................. 60
Bảng 2.10: Yếu tố ảnh hưởng tới động cơ học tập ............................................. 67
Bảng 2.11: So sánh sự ảnh hưởng tới động cơ học tập của yếu tố gia đình
với địa bàn cư trú ................................................................................................. 69
Bảng 2.12: Sinh viên tự đánh giá về động cơ học tập của bản thân .................... 72
Bảng 2.13: Biện pháp khuyến khích sinh trong quá trình học tập ....................... 75


MỤC LỤC
MỤC LỤC ............................................................................................................................. 1
PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................................... 8
CƠ SỞ LÝ LUẬN ............................................................................................................... 12
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ........................................................................................ 12
1.1.1. Quan điểm phi Mác-xít về động cơ ................................................................... 12
1.1.2. Quan niệm của Tâm lý học Mác-xít về động cơ ................................................ 14
1.1.3. Một số công trình nghiên cứu về động cơ học tập ............................................. 17
1.2. Động cơ ..................................................................................................................... 20
1.2.1. Một số khái niệm về động cơ ............................................................................. 20
1.2.2. Một số thuyết về động cơ................................................................................... 21

2.4.3. Những yếu tố ảnh hưởng tới động cơ học tập của sinh viên ............................. 73
2.4.4. Kết luận chung về động cơ học tập của sinh viên.............................................. 78
2.4.5. Biện pháp khuyến khích sinh viên trong quá trình học tập ............................... 81
2.4.6. Một số biện pháp giáo dục động cơ học tập cho sinh viên ................................ 83
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ............................................................................................. 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................... 92


PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
Môi trường giáo dục cạnh tranh và mang tính toàn cầu đem đến cho sinh viên
những điều kiện thuận lợi để tiếp cận, lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và nhiều cơ
hội để khẳng định năng lực của bản thân. Sinh viên có thể tiếp cận với môi trường
giáo dục quốc tế, được học tập thông qua những công nghệ hiện đại, có được công
việc tốt với mức thu nhập cao… Tuy nhiên, để hoạt động nhận thức đạt hiệu quả,
ngoài việc biết nắm bắt, chuyển hóa tốt những cơ hội, sinh viên cần phải xác định rõ
ràng động cơ học tập cho bản thân. Động cơ học tập sẽ chi phối hoạt động nhận
thức và ảnh hưởng đến kết quả của hoạt động ấy.
Động cơ học tập là một trong những thành tố quan trọng trong cấu trúc nhân
cách nói chung và trong hoạt động học tập của sinh viên nói riêng. Nó không chỉ tác
động tới kết qủa học tập của sinh viên mà còn ảnh hưởng tới chiều hướng phát triển
nhân cách của mỗi cá nhân. Do vậy, khi nghiên cứu động cơ học tập của sinh viên
trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM sẽ góp phần làm sáng tỏ
những cơ sở lý luận về động cơ và động cơ học tập, đồng thời làm cơ sở khoa học
để tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục, đào tạo cho
sinh viên tại trường.
Qua tìm hiểu thực tiễn hoạt động học tập của sinh viên trường Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn TP.HCM tôi nhận thấy có một bộ phận sinh viên chưa tích
cực trong việc học tập và nghiên cứu khoa học, chưa nhận thức được vai trò quan

4.1. Hoạt động học tập của sinh viên trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn
được thúc đẩy bởi nhiều loại động cơ khác nhau, trong đó nổi bật nhất là động cơ
hoàn thiện tri thức và yếu nhất là động cơ xã hội.
4.2. Động cơ học tập của sinh viên trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn
chịu sự chi phối, tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau như hứng thú với ngành học,
thái độ học tập, môi trường học tập, môi trường xã hội…
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Xác định cơ sở lí luận của đề tài.
5.2. Nghiên cứu động cơ học tập và các yếu tố tác động tới động cơ học tập
của sinh viên trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM.
5.3. Đề xuất một số giải pháp nhằm giáo dục, định hướng động cơ học tập của
sinh viên trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM.
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu động cơ học tập và các yếu tố tác động tới
động cơ học tập của sinh viên trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
7.2.1. Phương pháp quan sát, dự giờ.
7.2.2. Phương pháp điều tra bằng phiếu thăm dò ý kiến.
7.2.3. Phương pháp phỏng vấn sâu.


7.2.4. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động.
7.3. Nhóm phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phần mềm SPSS để xử lý số
liệu.
Các thông số được sử dụng để nghiên cứu thực trạng gồm: trung bình (mean),
độ lệch chuẩn, các kiểm nghiệm T, F cho giá trị trung bình, Chi-square cho tỷ lệ
phần trăm.
8. Đóng góp của đề tài

rằng: động cơ là cần thiết trong quá trình học tập và học tập là điều cốt lõi cho sự
thích nghi có hiệu quả với môi trường. Tương tự như Freud, Clark Hull nhấn mạnh
vai trò sự căng thẳng trong động cơ, ông cho rằng giảm căng thẳng có ý nghĩa củng
cố. Theo quan điểm này, các xung năng sơ cấp có cơ sở sinh học được khơi dậy khi
sinh vật bị tước đoạt. Những xung năng này hoạt hóa sinh vật, khi được thỏa mãn
hoặc giảm thiểu thì sinh vật ngừng hoạt động. Thuyết giảm xung năng mang ý
nghĩa cân bằng nội tại là vì nó cho rằng một sinh vật bị khơi dậy xung năng là để
duy trì thế cân bằng nội tại, một thế cân bằng bên trong các hệ và các quá trình của


cơ thể. Thuyết giảm xung năng cân bằng nội tại này của động cơ và học tập đã có
ảnh hưởng cho tới giữa nhưng năm 1950 khi nó bị thách thức bởi các dữ kiện mới.
[10; 368]
Đại diện mới của thuyết Phân tâm Atler cho rằng: ý chí đối với quyền lực là
động lực của những động cơ quyền lực và hành vi của con người, về thực chất, ý
chí quyền lực cũng là sức mạnh của bản năng nhưng tồn tại dưới hình thức khác.
Trong khi đó C.Hull, S.Koch lại quan niệm động cơ như là sự đói khát, nghỉ ngơi,
tranh đấu, sinh dục… Các nhà Tâm lý học hành vi (Skiner, Watson) giải thích
nguồn gốc của năng lực hành vi là những lực trừu tượng khó nhận biết, là bản năng
vô thức của con người. Họ quan niệm hành vi của con người chính là tổng hợp
những phản ứng đáp lại các kích thích.
Abraham Maslow (1970) đại diện cho thuyết Nhân văn về động cơ của con
người đã cắt nghĩa cả những hành động làm giảm căng thẳng lẫn những hành động
làm tăng căng thẳng. Maslow đối lập khái niệm động cơ do thiếu hụt, trong đó con
người tìm kiếm để phục hồi thế cân bằng sinh lý hoặc tâm lý, với khái niệm động cơ
muốn thăng tiến, trong đó con người làm nhiều hơn so với điều chỉ để làm giảm
thiếu hụt là vì con người tìm kiếm nhằm thể hiện đầy đủ nhất tiềm năng của mình.
Ngoài có động cơ muốn thăng tiến, có thể chấp nhận sự bấp bênh, sự căng thẳng và
thậm chí là sự đau đớn nếu họ nhìn thấy nó là một cách thể hiện đầy đủ tiềm năng
của mình và là một cách hoàn thành mục tiêu.[10; 372]

hết phải đi từ cuộc sống thực của con người thông qua những hoạt động và các mối
quan hệ xã hội của con người [5].
Trong “Hoạt động – Ý thức – Nhân cách”, Leontiev cho rằng: động cơ hoạt
động của con người cực kỳ đa dạng được nảy sinh từ những nhu cầu, hứng thú khác
nhau. Một hoạt động có thể xuất phát từ nhiều động cơ thúc đẩy và trong cấu trúc
của hoạt động, những động cơ này được sắp xếp theo một hệ thống có thứ bậc [11].
Theo A.N. Leontiev, động cơ là đặc trưng chủ yếu trong tâm lý con người, nó


thúc đẩy và điều khiển mọi hoạt động của con người. Ý thức và quá trình nhận thức
của con người đã được phát triển trong quá trình hình thành động cơ của họ. “Động
cơ là một cái khách quan mà trong đó nhu cầu tìm kiếm bản thân mình trong những
điều kiện nhất định, cái khách quan ấy làm cho hoạt động thành hoạt động có đối
tượng, và là cái hướng hoạt động vào một kết quả nhất định”. [7; 273]
Lý luận của Tâm lý học nhân cách chỉ ra rằng, động cơ có cấu trúc hết sức
phức tạp, có nhiều hệ thống và tùy thuộc vào hoạt động chủ đạo của từng lứa tuổi
trong những giai đoạn phát triển mà loại động cơ nào trở nên chiếm ưu thế trong
cấu trúc thứ bậc đó. Theo A.N.Leontiev, “Động cơ là một hiện tượng tâm lý sâu kín
nhất. Ngay cả với những nhân cách đã trưởng thành không phải bao giờ cũng ý
thức đầy đủ động cơ hoạt động của mình. Các động cơ chỉ lộ ra trước ý thức một
cách khách quan bằng cách phân tích hoạt động. Còn trong lĩnh vực chủ quan thì
các động cơ chỉ thể hiện dưới các dạng gián tiếp của nó, tức là dưới hình thức
những trải nghiệm, những mong ước, ý muốn, nguyện vọng đạt tới mục đích”. [11;
239]
A.N.Leontiev là người đại diện tiêu biểu cho dòng phái Tâm lý học Mác-xít đã
có những nghiên cứu đầy đủ và rõ ràng về lý luận động cơ của con người. Những
kết quả nghiên cứu của ông đã được nhiều nhà Tâm lý học trên thế giới vận dụng và
phát triển để làm cơ sở khi nghiên cứu về động cơ của con người.
Các nhà tâm lý học Việt Nam đã có sự thống nhất cao với các nhà tâm lý học
Xô Viết, nhất là ý kiến của A.N. Leontiev và B.Ph.Lomov… khi bàn về khái niệm

phân tích các công trình nghiên cứu trong nước, chúng tôi có thể đưa ra khái niệm về
động cơ như sau: Động cơ là những cái được chủ thể phản ánh, trở thành yếu tố tâm
lý thúc đẩy và kích thích con người hoạt động nhằm đạt được mục đích và thoả mãn
các nhu cầu của cá nhân.


1.1.3. Một số công trình nghiên cứu về động cơ học tập

Trong tâm lý học, động cơ là một vấn đề được các nhà khoa học rất quan tâm
và khái niệm động cơ thường được dùng như một khái niệm trung tâm để lý giải về
hành vi của con người.
Ở Việt Nam cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu về động cơ học tập
nhưng chủ yếu là ở lứa tuổi học sinh, còn ở lứa tuổi sinh viên thì không nhiều.
Tác giả Nhâm – Văn – Chăn – Con trong luận văn thạc sĩ “Tìm hiểu động cơ
học tập của học sinh cấp 2” đã kết luận rằng: động cơ nhận thức tạo nên sự say mê,
ý thức tự giác của chủ thể học sinh trong học tập và dẫn đến những kết quả cụ thể
của hoạt động học tập. Vì vậy, động cơ nhận thức là một trong những yếu tố trực
tiếp quyết định hiệu quả giáo dục. Cũng theo tác giả, để hình thành và phát triển
động cơ học tập cần phải phát huy tính tích cực nhận thức của người học, xóa bỏ lối
dạy học nhồi nhét và cần phải có những thay đổi, cải tiến về nội dung, phương pháp
dạy học. [2]
Tác giả Khăm – Phăn – Khăm – On trong luận án tiến sĩ: “Động cơ học tập và
quan hệ của nó với nguyện vọng chọn nghề của học sinh Lào” đã đưa ra kết luận:
động cơ học tập chi phối trực tiếp đến kết quả học tập của học sinh. Những hành
động biểu hiện động cơ học tập rõ nét và mạnh mẽ trong quá trình học tập đặc biệt
là loại học sinh có kết quả học tập khá và giỏi. Chính những kết quả học tập là điều
kiện quan trọng để đáp ứng những nhu cầu, khát vọng tiếp thu tri thức, ý thức trách
nhiệm của họ đối với đất nước. [15; 108]
Tác giả Trịnh Quốc Thái trong luận án tiến sĩ: “Nghiên cứu động cơ học tập
của học sinh lớp một dưới ảnh hưởng của phương pháp nhà trường” đã đưa ra kết

sinh viên trường đại học Bách Khoa” đã cho rằng: động cơ học tập của sinh viên rất
đa dạng (bao gồm động cơ nhận thức khoa học, động cơ xã hội, động cơ nghề


nghiệp và động cơ tự khẳng định) và những động cơ này bị chi phối bởi nhiều yếu
tố chủ quan và khách quan như niềm tin vào bản thân, tinh thần trách nhiệm, hứng
thú học tập hay các mối quan hệ như gia đình, bạn bè… [14]
Tác giả Lê Nguyễn Minh Loan trong đề tài nghiên cứu “Động cơ học tập của
sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn” đã đề cập đến khía cạnh
nội dung và lực của động cơ. Kết quả nghiên cứu cho thấy nội dung của động cơ
học tập (khía cạnh nhận thức) được hình thành đậm nét ở sinh viên, và những động
cơ này muốn có “lực” thì phải được thể hiện ở việc vượt qua những hành động cụ
thể. [13]
Tác giả Đặng Quốc Thành trong đề tài nghiên cứu “Động cơ học tập của học
viên ở các nhà trường quân sự” cho rằng hoạt động học tập của học viên ở các nhà
trường quân sự được thúc đẩy bởi những động cơ chủ yếu như: động cơ chính trị xã
hội, động cơ nhận thức khoa học, động cơ nghề nghiệp và động cơ tư lợi riêng. [17]
Tác giả Phạm Thị Hồng Thái trong luận văn thạc sĩ “Động cơ học tập của
sinh viên ngành Tâm lý học trường đại học Văn Hiến” đã chỉ ra rằng có sự tồn tại
song song giữa những động cơ học tập đúng đắn với những động cơ không đúng
đắn ở sinh viên, do đó cần phải có những biện pháp giáo dục động cơ để sinh viên
hoàn thiện động cơ học tập của mình. [19; 52]
Nhìn chung, những tác giả này khi nghiên cứu về động cơ học tập của sinh
viên đều có chung nhận định: động cơ học tập của sinh viên rất đa dạng và bị chi
phối bởi nhiều yếu tốt khác nhau.


1.2. Động cơ
1.2.1. Một số khái niệm về động cơ


viên đã nêu ra khái niệm như sau: động cơ là yếu tố tâm lý phản ánh đối tượng có
khả năng thỏa mãn nhu cầu của chủ thể, nó định hướng, thúc đẩy và duy trì hoạt
động của chủ thể nhằm chiếm lĩnh đối tượng đó. [14]
Tóm lại, trong tâm lý học có rất nhiều định nghĩa khác nhau khi nghiên cứu về
động cơ hoạt động của con người. Mỗi tác giả có cách nhìn nhận khác nhau nhưng
giữa họ vẫn tồn tại điểm chung khi cho rằng: động cơ là yếu tố tâm lý thúc đẩy, quy
định sự lựa chọn và hướng của hành vi con người. Động cơ là cái được phản ánh
vào trong đầu con người, thúc đẩy con người hoạt động nhằm thỏa mãn những nhu
cầu nhất định.
1.2.2. Một số thuyết về động cơ

• Thuyết bản năng (William Dougall, 1908)
Những người theo thuyết này cho rằng, bản năng là những xu hướng bẩm sinh
hoặc những lực sinh học quyết định hành vi.
Nhà tâm lý học William Dougall, đại diện tiêu biểu của thuyết bản năng nhận
định: động cơ thúc đẩy con người hành động là những bản năng. Bản năng là những
thiên hướng mang tính di truyền gồm ba thành tố: một phương diện tạo thành năng
lượng chung, một phương diện hành động và một phương diện nhắm vào mục đích.
Một quan điểm khác về thuyết bản năng là của Sigmund Freud, ông cho rằng
các bản năng của con người, trong đó có bản năng sống (như là tình dục) và bản
năng chết là những bản năng không có chủ tâm, không có ý thức cũng chẳng có
chiều hướng tiền định, và con người đòi hỏi được tồn tại nhằm thỏa mãn các nhu


cầu thể xác, và những nhu cầu này tạo ra năng lượng tâm thần. Sự căng thẳng trong
đời sống điều khiển chúng ta đi tới các hoạt động hoặc các đối tượng, nhờ hoạt
động làm giảm căng thẳng. Theo Freud, phần lớn các bản năng tác động một cách
vô thức, song chúng lại ảnh hưởng đến suy nghĩ, tình cảm cũng như hành động có ý
thức của ta, đôi khi ta ở trong thế xung đột với các đòi hỏi của xã hội.
• Thuyết xung năng

đích chiếm lĩnh những đối tượng đang có trong môi trường để thỏa mãn những nhu
cầu sinh học hoặc để có được những sự khích lệ, những tặng thưởng đến với mình
từ môi trường. Trong khi đó, động cơ nội tại là động cơ của những hành động mà
bản thân hành động và hoạt động này là sự tặng thưởng cho cá nhân chủ thể, hoặc là
sự thực hiện niềm tin, những sự mong đợi của chủ thể.
Thuyết nhận thức về động cơ là thuyết cho rằng con người hành động, hoạt
động là do nhận thức được hành động ấy, hoạt động ấy là sự tặng thưởng cho mình,
là niềm tin và mong đợi của mình, là sự thực hiện động cơ nội tại của mình.
• Thuyết nhân văn
Lý thuyết về động cơ của con người được nhà tâm lý học theo thuyết Nhân
văn Abraham Maslow cắt nghĩa là cả những hành động làm giảm căng thẳng lẫn
hành động làm tăng căng thẳng. Maslow đối lập với khái niệm động cơ do thiếu hụt,
trong đó con người tìm kiếm nhằm phục hồi thế cân bằng sinh lý hoặc tâm lý mà ở
đó con người làm nhiều hơn so với điều kiện chỉ để làm giảm sự thiếu hụt là vì con
người tìm kiếm nhằm để thực hiện đầy đủ tiềm năng của mình.
Theo lý thuyết này, người có động cơ muốn thăng tiến có thể chấp nhận sự


bấp bênh, sự căng thẳng thậm chí sự đau đớn nếu họ cho rằng đó là cách thể hiện
tiềm năng của mình và là một cách hoàn thành mục tiêu. Những mục tiêu có ý nghĩa
và những giá trị nhân cách là xứng đáng với sự hy sinh và đau khổ ấy.
Tóm lại, qua các lý thuyết trên đây ta thấy rằng mỗi lý thuyết được các nhà
nghiên cứu nhìn nhận, tiếp cận ở mỗi phương diện, mỗi góc độ khác nhau, do đó
khái niệm về động cơ cũng được hiểu ở nhiều khía cạnh khác nhau. Chính vì vậy
mỗi lý thuyết cũng đều có những mặt tích cực và những hạn chế riêng của nó.
1.2.3. Phân loại động cơ

Tác giả A.A.Xmiêc-nôp chia động cơ thành hai nhóm: động cơ tiềm tàng và
động cơ có hiệu lực thực; động cơ lớn, lâu dài và động cơ nhỏ, trước mắt. [23]
Các nhà Tâm lý học hoạt động cho rằng: hoạt động của con người bị chi phối


Động cơ là cái thúc đẩy hành động, nó gắn liền với việc thỏa mãn những nhu
cầu của chủ thể, là toàn bộ những điều kiện bên trong và bên ngoài có khả năng
khơi dậy tính tích cực của chủ thể và xác định xu hướng của nó. Điều đó nói lên
mối tương quan giữa động cơ với nhu cầu và ý thức của chủ thể.
• Mỗi quan hệ giữa động cơ với nhu cầu
Theo quan điểm Tâm lý học Mác-xít, nhu cầu là động lực đầu tiên thúc đẩy
hoạt động của con người, là nguồn gốc của tính tích cực hoạt động. Không có nhu
cầu của con người thì không có bất kỳ hoạt động nào của nó và sự tồn tại, phát triển
của mỗi cá nhân trong thế giới khách quan luôn gắn liền với các nhu cầu. Do vậy,
nhu cầu và động cơ có mối quan hệ với nhau: nếu như nhu cầu là động lực đầu tiên
kích thích con người hoạt động, là cơ sở của động cơ thì động cơ hướng dẫn, kích
thích và thúc đẩy hoạt động nhằm đạt được đối tượng thỏa mãn nhu cầu của con
người. [14]


Trích đoạn Giai đoạn khảo sát chính thức Khái quát về khách thể nghiên cứu Mức độ quan tâm của sinh viên về việc học Biện pháp khuyến khích sinh viên trong quá trình học tập
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status