đặc trưng ngôn ngữ văn hóa việt qua thành ngữ, tục ngữ có từ chỉ màu sắc (so sánh với tiếng anh) - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Trương Thị Sương Mai

ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ - VĂN HÓA VIỆT
QUA THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ
CÓ TỪ CHỈ MÀU SẮC
(SO SÁNH VỚI TIẾNG ANH)

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS ĐẶNG NGỌC LỆ

Thành phố Hồ Chí Minh - 2012


LỜI CẢM ƠN
Với sự làm việc nghiêm túc của bản thân và sự giúp đỡ, động viên nhiệt tình
của thầy cô, gia đình, bạn bè, luận văn này đã được hoàn thành.
Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến PGS. TS Đặng Ngọc Lệ, người đã trực tiếp
hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Nhân đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô, những
người đã chỉ bảo và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu; xin chân thành cảm
ơn phòng Sau đại học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập cũng
như trong quá trình thực hiện luận văn.
Người viết đã nỗ lực hết mình để hoàn thành luận văn. Tuy nhiên, luận văn

2.1.2. Nhận xét chung ................................................................................................33
2.1.3. Nhận xét về trường hợp thành ngữ trong tục ngữ...........................................33
2.2. Nhận xét về từ ngữ chỉ màu sắc trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt và tiếng
Anh ............................................................................................................................35
2.2.1. Tên, tần số xuất hiện và khả năng kết hợp của từ chỉ màu sắc trong thành
ngữ, tục ngữ tiếng Việt (So sánh với tiếng Anh) .......................................................35
2.2.2. Nghĩa sở thị của từ chỉ màu sắc trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt và tiếng
Anh ............................................................................................................................50


2.3. Tiểu kết...............................................................................................................53
Chương 3: Đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá của từ ngữ chỉ màu sắc trong thành ngữ,
tục ngữ tiếng Việt (so với tiếng Anh) .......................................................................54
3.1. Những giá trị biểu trưng về con người ...............................................................54
3.1.1. Đối tượng..................................................................................................54
3.1.2. Thuộc tính, tính chất.................................................................................67
3.1.3. Trạng thái, tâm trạng ...............................................................................83
3.1.4. Tình trạng sức khoẻ ..................................................................................91
3.1.5. Thời vận ....................................................................................................96
3.2. Những giá trị biểu hiện của từ chỉ màu sắc về hiện tượng xã hội....................101
3.3. Những giá trị biểu hiện của từ chỉ màu sắc về hiện tượng tự nhiên ................109
3.4. Tiểu kết.............................................................................................................116
KẾT LUẬN .............................................................................................................118
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................122
PHỤ LỤC ................................................................................................................131


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TNTN: Thành ngữ tục ngữ
YTMS: Yếu tố màu sắc


3

Các yếu tố màu sắc cùng xuất hiện trong cả hai ngôn ngữ

47

4

Sự trùng hợp trong phạm vi biểu vật của một số YTMS

52

trong TNTN tiếng Việt và tiếng Anh
5

Tên và tần số xuất hiện của YTMS thuộc phạm vi đối

55

tượng trong TNTN tiếng Việt
6

Tên và tần số xuất hiện của YTMS thuộc phạm vi đối

63

tượng trong TNTN tiếng Anh
7


83

Việt thuộc phạm vi trạng thái, tâm trạng
12

Tên và tần số xuất hiện của cặp màu tham gia biểu trưng

85

cho trạng thái, tâm trạng của con người trong cấu trúc ẩn
dụ hóa đối xứng
13

Tên và tần số xuất hiện của YTMS trong TNTN tiếng

86

Anh thuộc phạm vi trạng thái, tâm trạng
14

Khả năng biểu trưng của YTMS về phạm vi trạng thái,
tâm trạng trong TNTN tiếng Việt và tiếng Anh

90


15

Tên và tần số xuất hiện của YTMS trong TNTN tiếng


Việt thuộc phạm vi xã hội
19

Tên và tần số xuất hiện của YTMS thuộc phạm vi xã hội

106

trong TNTN tiếng Anh
20

Tên và tần số xuất hiện của YTMS thuộc phạm vi tự

110

nhiên trong TNTN tiếng Việt
21

Tên và tần số xuất hiện của YTMS thuộc phạm vi tự
nhiên trong TNTN tiếng Anh

113


DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
STT
1

Tên hình
Hình 2.1: Tỷ lệ xuất hiện của các nhóm màu trong


đáng được chú ý. Đặc trưng văn hoá của dân tộc không chỉ thể hiện qua những quan
niệm về nhân sinh, về thế giới và kinh nghiệm đúc kết trong thành ngữ, tục ngữ mà
nó còn thể hiện thông qua những hình ảnh biểu trưng, những tính chất, sắc thái của
hình ảnh mang biểu tượng. Và thông qua thế so sánh đối chiếu với dân tộc khác, ta
mới nhận ra được nét đặc trưng riêng biệt và những điểm tương đồng trong cách tri
nhận và phân cắt thực tại giữa các cộng đồng thông qua mã ngôn ngữ.
Ngôn ngữ phản ánh nền văn hoá dân tộc, do đó, xuất phát từ những cứ liệu ngôn
ngữ mang đậm dấu ấn văn hoá dân tộc, ta có thể giả định rằng có sự khác nhau đáng


kể về đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá trong thành ngữ, tục ngữ có từ chỉ màu sắc
trong tiếng Việt và tiếng Anh.
Chính vì thế người viết đã chọn đề tài: Đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá Việt
qua thành ngữ, tục ngữ có từ chỉ màu sắc (so sánh với tiếng Anh).

2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, người viết hướng đến những mục đích sau:
- Tìm ra mối quan hệ mật thiết giữa ngôn ngữ và văn hoá dựa trên cứ liệu là
thành ngữ, tục ngữ có từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt và góp phần làm rõ vấn đề
hàm nghĩa văn hoá thể hiện qua ngôn ngữ.
- Tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ văn hoá của người Việt dựa trên cứ liệu là
thành ngữ, tục ngữ có từ chỉ màu sắc, trong sự so sánh đối chiếu với tiếng Anh.
3. Lịch sử vấn đề:
Bàn về vấn đề văn hóa và bản sắc văn hóa, có nhiều khuynh hướng khác
nhau. Chẳng hạn như E.B Tylor (1871) nghiên cứu về văn hoá nguyên thuỷ, V.Ia
Prop bàn về Folklore và thực tại, V.M Rodin (1998) tìm hiểu các trường phái văn
hoá học thế giới, R. Lado (1957) tìm hiểu ngôn ngữ học qua các nền văn hoá...Và
dưới góc độ liên ngành, vấn đề bản sắc văn hoá của dân tộc cũng đang được giới
nghiên cứu quan tâm. Ở Việt Nam cũng như trên thế giới có nhiều công trình
nghiên cứu về vấn đề này, trong đó vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc trong mối quan

Ngược lại với hai quan điểm trên, đại diện cho quan điểm thứ ba có thể tính
đến quan điểm trong công trình “Cấu trúc và chức năng trong xã hội nguyên thuỷ”,
Radcliffe - Brown cho rằng dù có một mối quan hệ nào đó rất tổng quát giữa cấu
trúc xã hội và ngôn ngữ, nhưng không có mối quan hệ trực tiếp giữa những đặc
trưng của cấu trúc xã hội của một cộng đồng và ngôn ngữ mà cộng đồng đó nói.
Ở Việt Nam, tình hình nghiên cứu không có nhiều ý kiến trái ngược như vậy.
Hầu như những ai quan tâm nghiên cứu văn hóa và ngôn ngữ đều khẳng định mối
quan hệ nhất định nào đó giữa chúng nhưng theo những khuynh hướng khác nhau.
Có thể kể đến một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ và văn hoá như Trần Ngọc Thêm,
Nguyễn Lai, Nguyễn Kim Thản, Hồ Lê, Đỗ Hữu Châu, Lý Toàn Thắng, Đào Thản,


Trần Trí Dõi, Nguyễn Đức Tồn, Phạm Đức Dương, Nguyễn Văn Nở,… Một số nhà
văn hoá có đề cập đến ngôn ngữ như Đinh Gia Khánh, Trần Quốc Vượng…
Tuy đã có nhiều hướng, nhiều kết quả nghiên cứu về văn hoá, đã có những
công trình đề cập đến các biểu hiện của văn hoá trên nhiều phương diện, nhưng việc
làm rõ đặc trưng văn hoá dân tộc thể hiện qua ngôn ngữ, đặc biệt là trên dẫn liệu tục
ngữ và thành ngữ thì đang còn là một vấn đề cần phải được phân tích và hệ thống
hoá một cách đầy đủ và toàn diện hơn.
Khi bàn đến sự thể hiện của văn hoá, người ta nói đến những biểu hiện của
văn hoá qua các phương tiện khác nhau như: qua âm thanh, màu sắc, hình khối,
đường nét, và nhiều phương tiện biểu hiện khác. Một trong những phương tiện quan
trọng để tìm hiểu văn hoá, giải mã văn hoá là ngôn ngữ: ngôn ngữ trong giao tiếp
hàng ngày, ngôn ngữ trong tác phẩm văn học, ngôn ngữ trong sáng tác dân gian…
Các công trình khoa học cũng đã ít nhiều nói đến vấn đề này. Các hướng nghiên
cứu gồm:
Nghiên cứu tục ngữ từ góc độ thi pháp học: Tìm hiểu thi pháp tục ngữ (Phan
Thị Đào, 2001; Tục ngữ Việt Nam - Cấu trúc và thi pháp (Nguyễn Thái Hòa). Từ
góc độ ngôn ngữ - văn hoá: Thành ngữ tiếng Việt nhìn từ góc độ bản sắc văn hóa
dân tộc (Nguyễn Xuân Hòa), Đặc trưng cấu trúc - ngữ nghĩa của thành ngữ, tục

thức của hai dân tộc về “màu sắc, hoa, cỏ” trong thành ngữ - tục ngữ. Ưu điểm của
bài viết là không những nêu ra được những điểm tương đồng của thành ngữ tục ngữ
tiếng Việt và tiếng Anh có chứa “hoa”, “cỏ”, “màu sắc” cả về vần điệu và thủ pháp
ngữ nghĩa và một vài điểm đồng nhất trong nhận thức của cả hai dân tộc thông qua
ý nghĩa biểu trưng của nó mà còn thấy được những điểm dị biệt trong nhận thức do
xuất phát từ hai nền văn hóa khác nhau. Tuy nhiên những nhận xét rút ra chưa được
phân tích và chứng minh đúng mức nên bài viết chỉ dừng lại ở những luận điểm
mang tính nhận xét chung chung. Kết thúc bài viết, tác giả khẳng định: qua mảng từ
ngữ này ta có thể hiểu thêm về đất nước, con người, lịch sử, văn hóa của hai dân
tộc. Nhưng cách hiểu như thế nào thì chưa được tác giả phân tích rõ trong toàn bài
viết.


- Trong bài viết “Vài nét đặc trưng văn hoá dân tộc thể hiện qua các từ chỉ màu
sắc”, Ngôn ngữ và đời sống, số 6, 2006, từ việc khẳng định từ vựng của một ngôn
ngữ là nơi bộc lộ rõ nét nhất bản sắc văn hóa dân tộc, Lê Thị Vy đã bước đầu chứng
minh đặc trưng văn hóa dân tộc được thể hiện rõ nét trong việc chọn ý nghĩa biểu
trưng của màu sắc trong từng nền văn hóa. Từ đó tác giả nêu lên mối quan hệ giữa
ngôn ngữ và thực tại khách quan, ngôn ngữ và văn hóa. Ngôn ngữ là công cụ cấu
trúc hóa, mô hình hóa thực tại khách quan; giữa ngôn ngữ và văn hóa có mối quan
hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, phát triển trong sự tác động qua lại lẫn nhau. Nhưng
tác giả lại nêu ra một luận điểm cần phải bàn luận thêm: cách cảm nhận và hệ thống
từ vựng chỉ màu sắc trong mỗi ngôn ngữ thực sự đã ủng hộ cho giả thuyết Sapir Whorf về mối quan hệ qua lại giữa tư duy, ngôn ngữ và văn hóa. Nhìn chung bài
viết chỉ dừng lại ở những vấn đề cơ bản, chưa đi sâu vào từng biểu hiện cụ thể.
- Trịnh Thị Minh Hương có công trình “Tính biểu trưng của từ ngữ chỉ màu sắc
trong tiếng Việt” (Luận văn Thạc sĩ NNH), 2009. Dựa trên cứ liệu là các văn bản
thuộc phong cách ngôn ngữ văn chương, người viết đã nêu bật được ý nghĩa biểu
trưng của từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt. Bên cạnh đó, người viết còn dành
một chương để so sánh ý nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ màu sắc trong thành ngữ
tiếng Việt và tiếng Anh, dù ngữ liệu thành ngữ dẫn ra không nhiều nhưng người viết

Tục ngữ Việt Nam (Chu Xuân Diên chủ biên) [15].

-

Thành ngữ và tục ngữ tiếng Việt (Vũ Dung chủ biên) [17].

-

Từ điển tục ngữ Việt Nam (Nguyễn Đức Dương) [19].

-

Kho tàng tục ngữ người Việt, tập 1 và tập 2 (Nguyễn Xuân Kính) [45, 46].

-

Từ điển thành ngữ - tục ngữ Việt Nam (Nguyễn Lân) [49, 50].

-

Từ điển tục ngữ thế giới (Gerd de Ley (Lê Thành dịch)) [51].

-

Thành ngữ tiếng Việt (Nguyễn Lực chủ biên) [54].

-

Thành ngữ tiếng Việt (Nguyễn Lực) [55].


Oxford dictionary of English idioms (Cowie A.P., Mackin R., Mc Caig I.R)
[108].

-

The Oxford encyclopedic English dictionary (Judith Pearsall, Bill Trumble)
[110].


-

English idioms (J. Seidl and W. McMordie) [111].

-

A dictionary of American idioms (Maxine Tull Boat, John Eward Gates)
[113].

-

English idioms in use (Michael McCarthy, Felicity O&Dell) [114].

-

Idiom - Dictionary for leaners of English [117].

-

The idiom of the people (Reeves, James) [118].


-

Cung cấp thêm tư liệu nghiên cứu về bản sắc văn hóa của hai dân tộc và góp

phần trực tiếp vào việc giảng dạy và học tiếng Việt cho người nước ngoài và ngược
lại.


Chương 1:

Tổng quan về thành ngữ, tục ngữ
1.1. Khái quát về thành ngữ và tục ngữ
1.1.1. Khái niệm thành ngữ, tục ngữ
Thành ngữ, tục ngữ là đối tượng của nhiều ngành khoa học khác nhau, do đó
việc xác định khái niệm thành ngữ, tục ngữ là một công việc khó khăn. Tùy theo
góc nhìn mà thành ngữ, tục ngữ được hiểu bằng những nội hàm khác nhau. Ngay
dưới góc nhìn của ngôn ngữ học, thành ngữ, tục ngữ cũng được xem xét và kiến
giải khác nhau… Người viết chỉ đề cập đến quan niệm thành ngữ, tục ngữ được
nhiều nhà ngôn ngữ tán thành để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài.

1.1.1.1. Khái niệm thành ngữ trong tiếng Việt và tiếng Anh
Trong tiếng Việt, thành ngữ được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm từ các
nhà nghiên cứu văn học dân gian đến các nhà ngôn ngữ học. Dưới góc độ ngôn ngữ
học, thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ thuộc cụm từ cố định. Và theo “Từ điển giải
thích thuật ngữ ngôn ngữ học”: “Thành ngữ là cụm từ hay ngữ cố định có tính
nguyên khối về nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác với
tổng số ý nghĩa của các thành tố cấu thành nó tức là không có nghĩa đen và hoạt
động như một từ riêng biệt ở trong câu” [100, tr. 271].
Trong bài “Góp ý kiến về phân biệt thành ngữ và tục ngữ”, Cù Đình Tú đã
quan niệm: “Thành ngữ là những đơn vị có sẵn, mang chức năng định danh, nói

là không đúng câu trúc ngữ pháp. Sự rõ ràng về nghĩa của thành ngữ không phụ
thuộc vào “tính đúng ngữ pháp”. Chẳng hạn:
-

Hình thức bất quy tắc, nghĩa rõ ràng như trong give some to understand, do

some proud, do the dirty on some one…
-

Hình thức có quy tắc, nghĩa mơ hồ như have a bee in one’s bonnet, cut no

ice, bring the house down…
-

Hình thức bất quy tắc, nghĩa mơ hồ như trong be at large, go great guns, be

at dangers drawn…


Theo hai tác giả này thì thành ngữ tiếng Anh đa số là thuộc nhóm có quy tắc
nhưng nghĩa không rõ ràng. Họ cũng cho rằng không thể thay đổi bất kì thành phần
nào trong thành ngữ, chỉ trừ một vài thành ngữ có biến thể. Ví dụ trong thành ngữ
eat one’s word (rút lại lời đã nói) thì không thể nói eat one’s sentences hoặc
swallow one’s word…
Còn John Saeed thì định nghĩa: thành ngữ được xem như những từ tập hợp
lại để trở nên gắn liền với nhau đến khi chúng trở thành một kết cấu bền vững
(“Idiom” as words collocated that became affixed to each other until
metamorphosing into a fossilised term) [Dẫn theo Wikipedia]. Các tác giả “Từ điển
thành ngữ tiếng Anh” (English idiom - Longman) cho rằng thành ngữ là cụm từ mà
nghĩa của nó khác với nghĩa của từng từ riêng biệt cộng lại (a group of words that

những đơn vị lời nói nhưng tồn tại trong ký ức của cộng đồng như là một đơn vị
ngôn ngữ, nói như J. Lyons là “những phát ngôn làm sẵn”” [35, tr.48].
Đối với tục ngữ tiếng Anh, Wikiquote định nghĩa như sau: Tục ngữ thường
được định nghĩa như những cách diễn đạt ngắn về một kinh nghiệm phổ biến.
Những nỗ lực để cải thiện định nghĩa phổ quát cũng không mang lại một định nghĩa
chính xác hơn. Những kinh nghiệm, tri thức thường ở dạng những kiến thức chung
về thế giới hoặc lời khuyên, đôi khi gần với thái độ đối với hoàn cảnh. (Proverbs are
popularly defined as short expressions of popular wisdom. Efforts to improve on the
popular definition have not led to a more precise definition. The wisdom is in the
form of a general observation about the world or a bit of advice, sometimes more
nearly an attitude toward a situation).
Alan Dundes đứng trên quan niệm cấu trúc định nghĩa: “Tục ngữ là một
phát ngôn chuyên biệt mang tính truyền thống chứa đựng ít nhất một thành tố miêu
tả, thành tố miêu tả chứa đựng một phần đề và một phần thuyết” (A proverb is a
traditional propositional statement consisting of at least one descriptive element, a
descriptive element consisting of a topic and a comment) [106, tr.180].
Tóm lại, theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, dù ngắn cách mấy, tục ngữ
cũng là một câu thể hiện một ý nghĩa trọn vẹn, nghĩa của câu tục ngữ là nghĩa kết
hợp của từng từ cấu tạo nên nó. Ý nghĩa của câu tục ngữ có thể là một nhận xét, một
kinh nghiệm, một luân lý, hay một lời khuyên, một lời phán đoán, phê bình…Về


mặt hình thức, tục ngữ thường có vần điệu, có cấu tạo là một câu hoàn chỉnh và nó
có thể bao chứa cả thành ngữ, hoặc được cấu tạo nên bằng những thành phần chức
năng là thành ngữ. Về mặt chức năng, nó mang tính thông báo một nhận định, một
kinh nghiệm hay một kết luận về một khía cạnh nào đó của thế giới quan.

1.1.2. Khái quát thành ngữ và tục ngữ có từ chỉ màu sắc
1.1.2.1. Khái quát về từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt và tiếng Anh
Màu sắc là biểu hiện phức tạp nhất của nhận thức và cảm thụ thị giác. Nó là

ra những cách định nghĩa và giải thích màu sắc của các nhà nghiên cứu. Tác giả nêu
ra rằng các nhà từ điển thường giải thích nghĩa của chúng theo lối trực quan. Chẳng
hạn “vàng” được định nghĩa là “có màu như màu của nghệ, của hoa mướp”. Trong
đó nổi bật là nhà nghiên cứu người Nga Ю. CTeпaHoB, tác giả này cho rằng nghĩa
của các từ biểu thị màu (và mùi, vị) được xác định bằng một chỉ dẫn đơn giản các
đối tượng được biểu thị.
Còn A.H. ШpaMM cũng cho rằng không có cách định nghĩa khác đối với
các đơn vị này. Cấu trúc ngữ nghĩa của các từ biểu thị màu (và mùi, vị) có ba nghĩa
vị:
1. Có
2. Màu (mùi, vị) nào đó
3. Màu giống với màu của X (trong đó X là vật đại diện mang đặc trưng rõ nhất
có ở tính từ đang được xét).
Ngoài ra, tác giả công trình “Việt Nam - Đông Nam Á - Ngôn ngữ và văn
hóa” cũng đưa ra quan niệm về tên gọi các màu như sau: “Muốn truyền đạt đặc
trưng của một vật người ta buộc phải so sánh với vật khác có cùng một nét và khu
biệt với vật khác ở một nét khác, giống như người ta xây dựng định nghĩa. Có thể
đen lúc đầu là quạ, từ nóng là lửa. Sau sử dụng biện pháp kết hợp: muốn nói đen
người Việt nói “đen như quạ”, muốn nói nóng phải nói: “nóng như lửa”… Sau đó
các khái niệm màu sắc, hình thức, độ lớn… ra đời. Tên màu sắc bắt nguồn từ tên
gọi những vật có màu sắc ấy. Hoa hồng - màu hồng, cây huyết dụ - màu huyết dụ,
hoa đào - màu đào.” [20, tr.113]. Cách giải thích này chưa thuyết phục vì nó chỉ có


thể đúng trong giai đoạn sau của ngôn ngữ - giai đoạn tạo ra các đơn vị ngôn ngữ
một cách có lý do.
Tương tự, trong tiếng Anh, các màu cũng được các nhà từ điển học định
nghĩa dựa vào nghĩa sở thị, tức theo lối trực quan và chọn đối tượng dẫn xuất tiêu
biểu nhất. Ví dụ từ điển Oxford định nghĩa “blue” (xanh da trời) như sau: coloured
like clear sky… và “green”: coloured like grass…

Bích Thu [85] đã từng dẫn ra cách phân biệt nhóm màu dựa vào nội dung của các
nét nghĩa trong các cấu trúc nghĩa của tính từ chỉ màu sắc như sau:
1. Nhóm màu cơ bản: đen, trắng, đỏ, vàng, xanh. Những tên gọi này mang tính
võ đoán và nghĩa của chúng được xác định bằng cách so sánh với màu của vật đại
diện.
2. Nhóm biểu thị màu chuyển tiếp như tím, xám, lam, ghi, be, hồng, hung, tía,
lục, ve… nghĩa của chúng được xác định qua các từ biểu thị màu cơ bản và có thể
thuyết minh thêm bằng cách so sánh với màu của vật đại diện.
3. Tính từ biểu thị màu phái sinh từ những danh từ chỉ vật đại diện, tên gọi của
nhóm màu này có lý do: gụ, chàm, dà (đà), đào, huyền, mun, nâu, sồng, bạc. Nghĩa
của các từ này được xác định qua so sánh với màu của vật đại diện. Vật đại diện do
chính danh từ gốc biểu thị.
Mỗi màu sắc trong hệ thống có những đặc điểm sở thị và biểu trưng khác
nhau. Cùng chỉ màu đen nhưng ngựa đen được gọi là ngựa ô, mèo đen là mèo mun,
chó đen là chó mực.
Đối với tiếng Anh, việc phân biệt màu sắc có sự khác biệt. Như đã nói, số
lượng màu và sự phận loại màu chính, màu phụ, màu phái sinh trong cả hai ngôn
ngữ khác nhau. Tiếng Anh có 11 màu cơ bản: đen, trắng, đỏ, xanh lá, vàng, xanh da
trời, nâu, da cam, hồng, tía và xám. Dù thuộc nhóm màu cơ bản hay phụ, hệ thống
màu sắc tiếng Anh thường thuộc hai nhóm: nhóm màu trừu tượng và nhóm màu
mang tính miêu tả. Trong đó, đen, trắng, vàng, xanh lá nâu và xám, nâu sẫm
(maroom), đỏ tươi (magenta) là những từ ngữ chỉ màu sắc mang tính trừu tượng.
Màu thịt cá mồi (salmon), hồng (rose), màu vàng nghệ (saffron), màu hoa tử đinh
hương (lilac), hồng (pink), purple (tía) là những màu miêu tả. Tên gọi của màu



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status