hình ảnh “trăng” trong thơ thiền lý trần việt nam và thơ đường trung quốc - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
————————————

Quản Hồng Vĩ

HÌNH ẢNH “TRĂNG” TRONG THƠ
THIỀN LÝ TRẦN VIỆT NAM VÀ
THƠ ĐƯỜNG TRUNG QUỐC

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2011


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
————————————

Quản Hồng Vĩ

HÌNH ẢNH “TRĂNG” TRONG THƠ
THIỀN LÝ TRẦN VIỆT NAM VÀ
THƠ ĐƯỜNG TRUNG QUỐC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. ĐOÀN THỊ THU VÂN.


Trần là sản phẩm kết hợp của một nền triết học giàu chất tự do, và một thời đại
mang đậm tính nhân văn. Do thời đại Lý-Trần Phật giáo rất thịnh đạt và có nhiều
đóng góp trong cuộc đại phục hưng và phát triển rực rỡ của văn hóa dân tộc Việt
Nam, vì vậy, nếu muốn tìm hiểu sâu sắc và toàn diện về thời đại này cả ở văn hóa
lẫn con người, cần phải nghiên cứu thơ thiền một cách đầy đủ và thấu đáo.
Thời nhà Đường (618-907) là thời kỳ hoàng kim của văn học và nghệ thuật
Trung Quốc, trong đó thi ca là thể loại văn học phát triển phồn vinh nhất. Thơ
Đường không chỉ là một trong những di sản văn hóa quí báu nhất của Trung Quốc,
mà còn là một viên ngọc vô giá trong kho tàng văn học thế giới. Mặc dù cách đây
đã hơn 1000 năm, nhưng những tác phẩm thơ Đường vẫn còn được lưu truyền
cho đến nay, Những nhà thơ như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị đã trở thành
những đại thi hào của nhân loại. Cũng như thơ thiền Lý – Trần, thơ Đường chịu
ảnh hưởng không ít từ tư tưởng Phật giáo. Phật giáo du nhập vào Trung Quốc, tới
nhà Đường đã có hơn 600 năm lịch sử. Tư tưởng Phật giáo như thấm sâu vào
cuộc sống của nhân dân thời nhà Đường, điều đó được thể hiện ở rất nhiều mặt
như: sự xuất hiện đông đảo các đền chùa, sự tiếp nhận của quần chúng nhân dân
về giáo lý đạo Phật… Do thơ ca là một thể loại văn học nổi bật nhất dưới thời nhà
Đường, sự lưu truyền của tư tưởng Phật giáo cũng thúc đẩy thơ Đường vươn lên


một đỉnh cao mới.
Trung Quốc và Việt Nam là hai nước láng giềng hữu nghị, có lịch sử giao lưu
văn hóa lâu đời. Trong ba nước chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa là Nhật
Bản, Hàn Quốc và Việt Nam, có thể nói Việt Nam là nước chịu ảnh hưởng một
cách sâu sắc nhất. Sự ảnh hưởng này đã thâm nhập vào mọi mặt của đời sống xã
hội của Việt Nam như ngôn ngữ, văn học, nghệ thuật, các chuẩn mực đạo đức…
Phật giáo từ Ấn Độ lưu truyền tới Trung Quốc, sau đó lại du nhập vào Việt Nam,
nó có ảnh hưởng sâu sắc đến cả thơ Đường lẫn thơ thiền thời Lý Trần. Đó là lý do
vì sao chúng chúng tôi chọn hai đối tượng này để so sánh. Các nhà thơ Việt Nam
và Trung Quốc đều chịu ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo, điều này thể hiện khá rõ

Tác giả: Trịnh Tiểu Cửu
Nơi phát biểu bài: Journal of JIAOZUO university, China (học báo của
Trường Đại học JIAOZUO, China)
Thời gian phát biểu: tháng 3, 2001
Nội dụng tóm tắt: Nội hàm mỹ học của văn hóa mặt trăng Trung Quốc là: thứ
nhất, màu sắc đẹp của mặt trăng, những lĩnh hội truyền thống về màu sắc mặt
trăng thiên về “ngân luân”,“ngọc câu”; thứ 2, hình dáng đẹp của mặt trăng,


trăng vẹn tròn và trăng lưỡi liềm đều chứa đựng cái đẹp; thứ 3,“cái đẹp được
chứa đựng ở trong quan hệ hài hòa giữa mặt trăng và những cảnh vật xung
quanh”, cái đẹp của mặt trăng được thể hiện ra qua những liên hệ, so sánh, tôn
thêm với một số cảnh vật, hiện tượng và môi trường; thứ 4, cái đẹp của mặt
trăng sẽ không tồn tại nếu bị tách riêng ra với mầu sắc, hình dáng và mối quan
hệ của nó, cũng sẽ không được tồn tại nếu nó rời khỏi hoạt động tư duy của
con người, những mỹ cảm hình ảnh trăng mang lại cho người ta là một loại
“niềm vui dịu hiền”.
- 《Nghiên cứu văn hóa mặt trăng nhà Đường》
Tác giả: Lưu Sướng
Nơi phát biểu bài: Journal ò Changzhi University (học báo của Trường Đại
học Changzhi, China)
Thời gian phát biểu: tháng 8, 2009
Nội dụng tóm tắt: Trong văn hóa Trung Quốc, mặt trăng luôn luôn là một tinh
thể huyền bí, được người ta quan tâm chú ý nhiều. Khi phát triển tới nhà
Đường, đã dần dần hình thành dòng văn hóa mặt trăng. Thời đó, bất cứ là nhà
vua hay là người dân, người ta đều có những tình cảm sùng bái và ưa thích đối
với mặt trăng. Nhà vua có tổ chức tế tự mặt trăng, rất nhiều huyền thoại mặt
trăng được lưu truyền trong dân gian một cách rộng rãi. Dần dần hình thành ra
bầu không khí nồng đượm về văn hóa mặt trăng.
- 《Hình ảnh “thủy nguyệt”trong thơ thiền nhà Đường》

Nội dụng tóm tắt: Hình ảnh trăng là một trong những hình ảnh được xuất hiện
với tần số rất cao trong thơ ca cổ đại Trung Quốc. Trong văn hóa Trung Quốc,
mặt trăng từ đầu không phải là một tinh thể bình thường. Bài báo này nghiên
cứu xuất phát từ cội nguồn của huyền thoại mặt trăng, phân tích nội hàm phong
phú của hình ảnh mặt trăng trong thơ ca cổ đại Trung Quốc dưới 3 phương diện:
hình ảnh nguyên thủy, nội hàm thẩm mỹ và tâm lý văn hóa, nhằm mục tích thử
tìm tòi những quan hệ giữa con người và tự nhiên, giữa tự nhiên và văn học.
- 《Thiên nhiên trong thơ văn Lý Trần》
Tác giả: Như Hiếu
Nơi phát biểu bài:

/>Thời gian phát biểu: Không rõ
Nội dụng tóm tắt: Trong các tác phẩm thơ thiền Lý Trần, thi liệu được sử
dụng nhiều nhất khi miêu tả thiên nhiên là mùa thu, ánh trăng, gió, hoa, chim,
nước, mây và núi. Chúng gợi sự liên tưởng vừa về cái vĩnh hằng của bản thể,
của quy luật, vừa về cái hữu hạn của thế giới hiện tượng. Tất cả đều thể hiện
triết lý Thiền tông, lấy cái “hư không” làm nền tảng. Chính nhờ “không” mà
thu tóm được tất cả và không sợ mất cái gì, hòa điệu cùng với bản thể vũ trụ và
đạt được cái vui vĩnh hằng ở thế giới đời thường.
- 《Trăng xuân trong thơ Trần Nhân Tông》
Tác giả: Trần Văn Tích
Nơi phát biểu bài:


/>-cuu-Phe-binh/Trang-xuan-trong-tho-Tran-Nhan-Tong-Tran-Van-Tich-34
Thời gian phát biểu: tháng 2, 2011
Nội dụng tóm tắt: Qua so sánh hình ảnh trăng trong thơ Đường và thơ thiền
Trần Nhân Tông, tác giả nhận thấy, “ánh trăng” trở thành hình ảnh nghệ thuật
mang nhiều sắc thái khác nhau, thể hiện các cung bậc cảm xúc một cách phong
phú và đa dạng. Dưới con mắt của mỗi thi nhân, hình ảnh mặt trăng được biến

nhà là những hình ảnh thường gặp trong các vần thơ. Bên cạnh đó, trăng còn là
hình ảnh biểu trưng cho một triết lý sống, cho giáo lý đạo Phật.
3. Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
1.1 Đối tượng nghiên cứu:
+ Thơ thiền Việt Nam thời Lý-Trần;
+ Thơ Đường Trung Quốc;
Bên cạnh đó, những lĩnh vực văn hóa, xã hội của Trung Quốc và Việt Nam có
liên quan đến đề tài này cũng được quan tâm xem xét.
1.2 Phương pháp nghiên cứu:
+ Thống kê khảo sát tất cả bài thơ có hình ảnh “trăng” trong hai quyển sách


“Thơ văn Lý Trần” tập I và tập II.
+ Thống kê khảo sát tất cả bài thơ có hình ảnh “trăng” trong quyển sách “Thơ
Đường 300 bài”.
+ Phân loại các bài thơ theo những tiêu chí nhất định thành một số nhóm khác
nhau.
+ So sánh, phân tích những biểu hiện của hình ảnh trăng trong các bài thơ để
đi đến những nhận định có ý nghĩa khái quát; ở đây áp dụng phương pháp liên
ngành, như phương pháp nghiên cứu văn học kết hợp với phương pháp nghiên
cứu ngôn ngữ…
4. Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, nội dung của luận văn được tổ chức thành
ba chương như sau:
Chương 1. Những vấn đề chung
Chương 2. So sánh hình ảnh trăng trong thơ thiền Lý Trần và thơ Đường về phương
diện nội dung – ý nghĩa.
Chương 3. So sánh hình ảnh trăng trong thơ thiền Lý Trần và thơ Đường về phương
diện nghệ thuật.



- Nhà Đường với nhà Lý và nhà Trần đều là những triều đại hùng mạnh trong


lịch sử cả hai nước. Ở các triều đại này, kinh tế phồn vinh, xã hội ổn định, văn
hóa nghệ thuật thu được những thành tựu huy hoàng. nền văn hóa đều có
những bước phát triển mạnh mẽ.
- Cũng như thời Lý Trần ở Việt Nam, thời nhà Đường ở Trung Quốc, rất sùng
thượng Phật giáo. Hai thời đại này ở hai nước đã xuất hiện những cao tăng lẫy
lừng danh tiếng chốn thiền lâm. Trong nhiều lĩnh vực văn hóa vật chất cũng
như tinh thần của cả hai bên đều có dấu ấn của Phật giáo để lại khá đặc sắc và
rõ nét.
- Thời nhà Đường và thời Lý Trần đều là những thời kì quan trọng trong lịch sử
giao lưu văn hóa giữa Trung Quốc và Việt Nam. Sau nhà Đường, năm 938,
Việt Nam xây dựng chính quyền độc lập, sau đó chưa đầy một thế kỷ là đến
nhà Lý, nhà Trần. Cho nên, kể về thời gian hay tính liên tục văn hóa, các triều
đại này đều gắn liền với nhau.
1.3.

Phân loại hình ảnh trăng trong thơ thiền Lý Trần và thơ Đường

Qua khảo sát quyển Thơ Đường 300 bài, trong tất cả 311 bài, tất cả có 64 bài có
hình ảnh trăng.
Qua khảo sát quyển “Thơ văn Lý Trần” tập I(136 bài)và tập II (361 bài), trong
tất cả 497 bài thơ văn, có 40 bài thơ thiền có hình ảnh trăng.
Có thể căn cứ theo triết học và mỹ học Thiền Tông để phân loại hình ảnh trăng.
1.3.1. Những quan điểm triết học và mỹ học Thiền Tông
- “Ngôn bất tận ý” (Lời nói không diễn đạt được hết ý)

“Ngôn bất tận ý”là một mệnh đề quan trọng trong lịch sử văn hóa phương

được vui” (P213, kinh nói), nên lấy giải thoát cuối cùng của cuộc đời làm mục
đích.
Cả ba hạnh nói trên đều là tu hạnh về mặt đạo đức và tâm lý trên thế gian, làm
cho tư tưởng Thiền tông giàu ý nghĩa cuộc sống một cách phong phú, giúp con
người có thể tu thiền ngay trong cuộc sống, lĩnh hội nỗi vui sướng của thiền
pháp, để cho cuộc sống gắn bó chặt chẽ với niềm vui của sự giải thoát.
Cả ba hạnh đều được quy về xứng pháp hạnh.
Xứng pháp hạnh thì khó có thể giải thích một cách trực quan như ba hạnh
trước mà có phần mang tính trừu tượng. Có thể hiểu đó là khi chúng ta nhận ra
nơi chúng ta có thể tánh thanh tịnh, cái thể tánh thanh tịnh này thường hằng,
không sinh không diệt. nó còn được gọi là Lý hay Pháp. Nếu chúng ta làm tất
cả mọi việc, tu tất cả hạnh mà đều trở về phù hợp với thể tánh thanh tịnh ban
đầu thì gọi là xứng pháp hạnh. Xứng pháp hạnh dựa trên cơ sở thấu hiểu và
thực hành phải phù hợp nhau. Mỗi người, nếu tu được xứng pháp hạnh là có
thể trở về với bản tâm, tức thể tính thanh tịnh ban đầu.
- Hư vô quan của thiền Tông.
Hư vô quan của thiền Tông có thể trích từ một câu chuyện, khi xưa Ngũ Tổ
định chọn người kế ngôi Tổ, Tổ bảo cho các môn đồ rằng vị nào có thể tỏ ra
đạt đạo, Tổ sẽ truyền áo pháp cho để làm Tổ thứ sáu. Lúc ấy, Thần Tú, người
được đồ chúng xem là học cao nhất và xứng đáng nhất được hưởng vinh dự
này, đã làm một bài kệ rằng:


Thân là bồ đề cội
Tâm như gương sáng đài
Giờ giờ siêng phủi quét
Chớ để nhuốm trần ai
Tuy nhiên bài kệ trên chưa mang lại được áo pháp cho người sáng tác, Ngũ Tổ
đã truyền áo pháp cho Huệ Năng vì bài kệ này của ông:
Bồ đề vốn không cội

C. Trăng là phương tiện giúp nhà thơ bày tỏ tâm trạng, cảm xúc.
+ Trực tiếp:
Thơ thiền Lý Trần (7 bài) (xin xem phụ lục)
Thơ Đường (4 bài) (xin xem phụ lục)
+ Gián tiếp:
Thơ thiền Lý Trần (6 bài) (xin xem phụ lục)
Thơ Đường (17 bài) (xin xem phụ lục)


Chương 2. SO SÁNH HÌNH ẢNH TRĂNG TRONG THƠ THIỀN LÝ TRẦN
VÀ THƠ ĐƯỜNG VỀ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG, Ý NGHĨA
2.1. Những điểm tương đồng
I. “Ngôn bất tận ý”: (3 bài thơ thiền Lý Trần và 5 bài thơ Đường)
Về nội dung và ý nghĩa giữa thơ thiền Lý Trần và thơ Đường có 1 điểm tương đồng:
 Trong bài thơ, hình ảnh trăng đều là hình ảnh thiên nhiên đơn thuần, và không
phải là biểu trưng, ví dụ như:
- Thơ thiền Lý Trần:
1. Thúy trúc, hoàng hoa, phi ngoại cảnh,
Bạch vân, minh nguyệt, lộ toàn chân.
(NHÂT NGUYỆT - THIỀN LÃO)
Trúc biếc, hoa vàng chẳng phải là cảnh bên ngoài,
Mây trắng, trăng trong lộ rõ cái (chân) toàn vẹn.
2. Trường không chỉ kiến cô luân nguyệt,
Sát hải trừng trừng dạ mạn thu. (…)
(THỊ TU TÂY PHƯƠNG BỐI - TUỆ TRUNG)
Bầu trời bát ngát chỉ nhìn thấy vừng trăng cô đơn,
Bể phật trong suốt, đêm chuyển dài vào thu.(…)
- Thơ Đường:
1. (…)
Đăng chu vọng thu nguyêt,

Nguyệt hoa Tây một nhật thăng Đông.
(THOÁT THẾ - TUỆ TRUNG)
Vươn mình một cái vượt ra khỏi lồng,
Muôn việc đều như trò chơi, vào mắt cũng thành hư không.
Tam giới mênh mông cõi lòng sáng rõ,
Bóng trăng chìm xuống phương Tây, mặt trời mọc ở phương Đông.
Bài thơ cho thấy ra khỏi lồng chính là đã ngộ đạo, sau khi ngộ đạo thì
coi muôn việc đều giống như là trò chơi, vạn vật trong mắt cũng đã là hư
không. Tình cảm đã thoát khỏi thế tục, đã không vì được mất mà sướng
vui hay đau khổ, coi vạn vật cũng theo duyên số, giống như mặt trăng
lặn ở hướng tây và mặt trời mọc ở hướng đông, vạn vật đều rất tự
nhiên—tùy duyên hạnh.
2. (…)
Tây nguyệt trầm không nan phục ảnh,
Đông lưu phó hải khởi hồi ba.
(…)
(THẾ THÁI HƯ HUYỄN - TUỆ TRUNG)
(… )
Mặt trăng phương Tây đã chìm xuống chân trời thì bóng trăng khó
quay trở lại,
Dòng Đông đã ra tới biển thì song nước há có thể trở về.


(… )
Trong bài thơ này có xuất hiện nhiều hiện tượng và quy luật tự nhiên
như vẻ sương tắm hạ, mùa xuân đến hoa nở, mặt trăng mọc và lặn…,
nhà thơ muốn khuyên con người nên hòa nhập với tự nhiên, tôn trọng
những quy luật của tự nhiên, có tâm lý lành mạnh đối với những khổ
vui.
3. (…)

Nguyệt vi trì can tẩu.
(XUÂN PHIẾM NHƯỢC GIA KHÊ - KỲ VÔ TIỀM)
(… )
Khói đầm trải mênh mông,
Trăng rừng lặn ở phía sau.
Chuyện đời còn lan man,
Xin được buông chiếc cần câu nhỏ.
Hai câu đầu tiên đã bày tỏ chủ đề của bài này, nhà thơ sống một mình ở
ngôi nhà kín đáo, cảm nhận mọi sự vật và hiện tượng thiên nhiên diễn ra
theo quy luật với tinh thần “tùy ngộ nhi an”.


III. Hư vô quan(8 bài thơ thiền Lý Trần và 2 bài thơ Đường)
 Trong tất cả 10 bài thơ thiền Lý Trần lẫn thơ Đường, hình ảnh trăng đều là hình
ảnh thiên nhiên đơn thuần và sự vật chứa đựng triết lý hư vô. Cụ thể:
- Thơ thiền Lý Trần:
1. Tịch tịch Lăng-già nguyệt,
Không không độ hải chu.
Tri không, không giác hữu,
Tam muội nhậm thông chu.
(ĐÁP LÝ THÁI TÔNG TÂM NGUYỆN CHI VẤN - HUỆ SINH)
Lặng lẽ như vầng trăng trên núi Lăng-già,
Hư không như con thuyền vượt biển.
Biết đúng cái không thì cái không hóa ra cái có,
Và sẽ mặc ý mà đi suốt và đi khắp tam muội.
Có thì là không, không cũng là có, đúng như câu thơ trong bài này - “Tri
không, không giác hữu”, cho nên trăng và thuyền đúng là có, nhưng cũng là
không.
2. Đoán tri không hữu bất tương sa(sai),
Sinh tử nguyên tòng nhất phái ba.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status