một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo hướng nâng cao tính tích cực, chủ động và sáng tạo của sinh viên trường cao đẳng giao thông vận tải iii - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
…..0O0…..

NGUYỄN NGÂN GIANG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY
HỌC THEO HƯỚNG NÂNG CAO TÍNH TÍCH CỰC,
CHỦ ĐỘNG VÀ SÁNG TẠO CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG GIAO THÔNG VẬN TẢI III
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản Lý Văn Hóa Giáo Dục
Mã số: 5.07.03
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Tuấn Lộ

Thành phố Hồ Chí Minh-2004


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn phòng Khoa học công nghệ -Sau đại học, trường đại học
Sư phạm thành phô" Hồ Chí Minh và cắc thầy cô đã hết lòng giảng dạy, truyền thụ những
kiến thức rất cần thiết; bổ ích cho công việc và cho cuộc sống của những người học viên lớp
Cao học Quản lý Văn hóa - Giáo dục, khóa li chúng tôi.
Đặc biệt là những lời biết ơn sâu sắc về công lao dìu dắt, sự hướng dẫn và chỉ bảo tận
tình của thầy giáo, người hiũỹng dẫn khoa học - Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Tuấn Lộ đã giúp
tôi hoàn thành bản luận văn tốt nghiệp này.


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................. 2
MỤC LỤC ................................................................................................... 3
BẢNG NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT ............................................................ 6


Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC Ở TRƯỜNG
CAO ĐẲNG GIAO THÔNG VẬN TẢI III ........................................... 30
2.1. Vài nét về trường CĐ GTVT III. ...................................................................... 30
2.1.1. Sơ lược vê lịch sử hình thành và phát triền. ........................................................30
2.1.2. Mục tiêu đào tạo và nội dung, chương trình dạy học. ........................................31
2.1.3. Về cơ cấu tổ chức công tác đào tạo. ......................................................................31
2.1.4. Đối tượng và lưu lượng đào tạo. ...........................................................................33

2.2. Thực trạng quản lý, giảng dạy và học tập nhằm nâng cao tính tích cực, chủ
động và sáng tạo của sinh viên ồ trường CĐ GTVT III. ....................................... 33
2.2.1. Về quản lý hoạt động dạy - học. ...........................................................................33
2.2.2. Về hoạt động giảng dạy của đội ngũ giáo viên. ...................................................34
2.2.3. Về hoạt động học tập của sinh viên. .....................................................................42

2.3. Một số nguyên nhân. .......................................................................................... 49
2.3.1. Nguyên nhân khách quan. .....................................................................................49
2.3.2. Nguyên nhân chủ quan. .........................................................................................49

2.4. Kết luận chương 2. ............................................................................................. 50

Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO TÍNH
TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG VÀ SÁNG TẠO TRONG HỌC TẬP CỦA
SINH VIÊN TRƯỜNG CĐ GTVT III ................................................... 51
3.1. Tăng cường và đối mới quản lý quá trình dạy - học. ...................................... 51
3.1.1. Đổi mời nhận thức của người quản lý..................................................................51
3.1.2. Đổi môi phương pháp quản lý. .............................................................................52
3.1.3. Tăng cường vai trò quản lý trong quá trình dạy học. ........................................52
3.1.4. Xây dựng cơ chế, chính sách và các hoạt động để phát triển phương pháp dạy
học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học. ....................54

GD&ĐT: Giáo dục và Đào tạo.
CĐ GTVT HI: Cao đẳng Giao thông Vận tải IU.
THGTVT: Trung học Giao thông Vận tải.
TCN: trước Công nguyên.
CNH - HĐH: công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
GTVT: Giao thông Vận tải.
PTTH: phổ thông trung học.
SV: sinh viên.
GV: giáo viên.
ĐT: đào tạo.


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Nhân loại đang bước từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông tin với những biến đổi cực
kỳ nhanh chóng cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học - công nghệ. Kinh tế thế giới
đang chuyển dần sang nền kinh tế tri thức với hàm lượng tri thức cao và có vai trò quyết định
trong các sản phẩm. Toàn cầu hóa là xu thế chung của thời đại trong đó các dân tộc cùng bắt
tay để giải quyết những vấn đề chung của nhân loại như: nghèo đói, ô nhiễm môi trường, bệnh
tật, xung đột sắc tộc…vv.
Để đáp ứng sự phát triển của kinh tế tri thức, của xã hội thông tin trên phạm vi toàn cầu,
cách mạng về học trở thành một tất yếu khách quan mở đường cho cách mạng tri thức của
thời đại. Trong Báo cáo của Jacque Delor, Chủ tịch Hội đồng quốc tế về giáo dục cho thế kỷ
XXI, một số khái niệm như: xã hôi học tập, học táp suôi đời đã được đề cập như những nét
đặc trưng của xã hội học tập tương lai và có tính định hướng cho giáo dục của thế kỷ sắp tới;
với bốn trụ cột: học để biết, học để làm, học để chung sống và học để làm người đã được
đề cập như phương châm cho giáo dục của thế kỷ XXI [29]. Xuyên suốt trong bản Báo cáo là
vai trò của người học trong quá trình giáo dục. Điều đó đã khẳng định giáo dục phải quan tâm
đến hoạt động học tập của người học, để chính họ là chủ thể quyết định quá trình phát triển
của chính mình.

học - công nghệ với quy mô khoảng 1.000 -1.200 sinh viên / năm. Nhà trường đã góp
phần làm thay đổi và đem lại hiệu quả đáng kể cho các đơn vị xây dựng, sản xuất kinh
doanh trong ngành Giao thông vận tải các tỉnh phía Nam. Tuy nhiên, trong công tác
đào tạo của nhà trường, quan điểm "lấy người học làm trung tâm" vẫn chưa được chú
trọng đúng mức; trong giảng dạy, hiện tượng "thầy giảng, trò ghi" vẫn còn phổ biến.
Sự quan tâm đầu tư của đội ngũ giáo viên nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và
sáng tạo của sinh viên còn nhiều hạn chế.
Từ những bức xúc về thực tiễn dạy và học ở nhà trường và do yêu cầu cần đào tạo
ra những con người lao động, năng động và sáng tạo, chúng tôi đã chọn đề
tài "Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo hưởng nâng cao tính tích cực, chủ động
và sáng tạo của sinh viên của Trường Cao đẳng Giao thông vận tải III" làm đề tài của luận
văn tốt nghiệp với mong muốn được đóng góp một phần công sức nhỏ bé cho việc cải
tiến và nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường mà chúng tôi đang làm việc,
công tác.


2. Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về dạy học, quản lý hoạt động dạy học, các cơ chế
tâm lý trong quá trình học tập và trên cơ sở nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động
dạy học của trường CĐ GTVT III; chúng tôi xác định mục đích nghiên cứu của mình
là đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao tính tích cực, chủ động và sáng tạo của
sinh viên trường CĐ GTVT III trong học tập.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
Khách thể nghiên cứu là cán bộ quản lý, giảng viên, sinh viên đang giảng dạy và
học tập tại trường CĐ GTVT III.
Đối tượng nghiên cứu là hoạt động quản lý việc dạy của giáo viên và việc học của
sinh viên nội khóa và ngoại khóa nhằm nâng cao tính tích cực, chủ động và sáng tạo
cho sinh viên.


Nghiên cứu tài liệu, sách báo, báo cáo tổng kết, sản phẩm của quá trình học tập...
liên quan đến đề tài.
7.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
-

Khảo sát thực tế quản lý quá trình giảng dạy, học tập ở trường CĐ GTVT III.

-

Điều tra bằng phiếu câu hỏi đối với tập thể giáo viên, sinh viên trường CĐ GTVT
III về hoạt động dạy - học (chủ yếu là điều tra về phương pháp dạy học) nhằm nâng
cao tính tích cực, chủ động và sáng tạo của sinh viên.

-

Quan sát: tinh thần học tập, ý thức xây dựng bài trên lớp và các biểu hiện về động
cơ, thái độ học tập... đặc biệt là phương pháp học của sinh viên.

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
DẠY VÀ HỌC.
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu.
1.2. Bản chất của quá trình dạy - học.
1.3. Lý luận về xu hưởng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của sinh viên.
1.4. Một số vấn đề về quản lý hoạt động dạy - học.
1.5. Kết luận chương 1.
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC Ở TRƯỜNG CĐ
GTVT III.
2.1. Vài nét về trường CĐ GTVT III.
2.2. Thực trạng quản lý, giảng dạy và học tập nhằm nâng cao tính tích cực, chủ động và sáng

bản chất của sự vật hiện tượng. Nguyên tắc giáo dục của John Locke (1632-1704)
là: "Không được nhồi nhét điều gì vào trí nhớ của trẻ mà vốn chúng không thích thú.
Thầy giáo cần khơi dậy ở trẻ lòng ham mê say sưa của trẻ, qua đó hướng trẻ đến với
tri thức. Phải phát triển khả năng độc lập suy nghĩ và chủ động trong học tập ở
trẻ". J.J Ruxô (1712-1778) cũng cho rằng phải hướng học sinh tích cực tự giành kiến
thức bằng cách tìm hiểu, khám phá và sáng tạo. Đó chính là những phương pháp dạy
học tích cực nhằm biến hoạt động của thầy thành hoạt động của trò và sau khi tích cực
hoạt động thì trò nhận thức được các quy luật của tự nhiên. [1].
Phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh dần
được phát triển và hoàn thiện ở các nước phương Tây (Mỹ, Pháp...) nhất là từ nửa sau
của thế kỷ XX, có ảnh hưởng sâu rộng tới các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam
[40].
Ở nước ta, bàn vê phương pháp dạy - học, Bác Hồ đã dạy "Về cách học phải lấy
tự học làm cốt”. Thủ tướng Phạm Văn Đồng yêu cầu: "Ngành giáo dục và đào tạo phải
vũ trang cho mình phương pháp giảng dạy, phát huy vai trò chủ động của người học,
giải đáp tốt bốn câu hỏi: dạy ai, dạy cái gì, dạy như thế nào, dạy để làm gì ?" [11]. Vào
những năm 1995 - 1996, trong ngành Giáo dục đã xuất hiện mệnh đề "Phương pháp
giáo dục lấy người học làm trung tâm" và đã có nhiều công trình nghiên cứu về


phương pháp dạy học tích cực này như các tác phẩm: "Phương pháp giáo dục tích cực
lấy người học làm trung tâm", "Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học" của TS
Nguyễn Kỳ, "Học và dạy cách học" của các tác giả GS Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên),
TS Nguyễn Kỳ, TS Lê Khánh Bằng, TS Vũ Văn Tảo; "Những vấn đề cơ bản Giáo dục
học hiện đại" của TS Thái Duy Tuyên, "Bản chất của việc dạy học lấy học sinh làm
trung tâm" của GS Trần Bá Hoành (Kỷ yếu hội thảo khoa học: Đổi mới phương pháp
dạy học theo hướng hoạt động hóa người học, Bộ Giáo dục – Đào tạo, Chương trình
KHCN cấp Bộ "Phương pháp dạy học", Hà Nội, 1995)... Và rất nhiều ý kiến đóng góp
của các nhà khoa học, nhà giáo, người dân có tâm huyết về phương pháp giảng dạy mới
trên báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng, như: "Đổi mới phương pháp dạy

Yếu tố thao tác - hành động phản ánh trực tiếp nhất tích chất quá trình của dạy học.
Chính trong hoạt động của thầy và trò, trong sự tác động qua lại giữa họ, diễn ra theo thời gian
mà nhiệm vụ lĩnh hội tri thức của học sinh được thực hiện. Đó chính là các phương pháp,
phương tiện và các hình thức tổ chức dạy học.
Yếu tố kiểm soát - điều chỉnh đã đòi hỏi: phải thực hiện đồng thời việc kiểm tra quá
trình giải quyết các nhiệm vụ dạy học đối với người thầy và việc tự kiểm tra của người học đối
với mức độ lĩnh hội tài liệu học tập, tính chính xác của việc thực hiện các bài tập và bằng sự
đánh giá của thực tế cuộc sống đối với các kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập...
Yếu tố đánh giá hiệu quả của dạy và học đòi hỏi sự đánh giá của giáo viên và sự tự
đánh giá của học sinh về các kết quả đạt được trong quá trình dạy học, xác định sự phù hợp
của chúng với những nhiệm vụ đã đề ra, vạch ra nguyên nhân của các sự lệch lạc đã phát hiện
được, đề ra những nhiệm vụ mới, sự cần thiết phải lấp các lỗ hổng trong kiến thức và kỹ năng.
Tất cả các yếu tố trên đây của quá trình dạy - học đều có mối quan hệ qua lại theo những
quy luật xác định. Mục đích dạy - học quy định nội dung dạy học. Mục đích và nội dung dạy
- học lại đòi hỏi những phương pháp, phương tiện và hình thức nhất định để kích thích và tổ
chức việc dạy - học. Tiến trình dạy - học đòi hỏi phải được tiến hành kiểm tra thường xuyên
và được điều chỉnh để tìm ra phương án tối ưu nhằm đảm bảo đạt tới một kết quả nhất định.
1.2.2. Khái niệm về hoạt động dạy.
Hoạt động dạy là hoạt động truyền thụ với nghĩa là tổ chức hoạt động học mà kết quả là
học sinh lĩnh hội nội dung giáo dưỡng và giáo dục [13].
Dạy là sự tổ chức và điều khiển tối ưu quá trình sinh viên chiếm lĩnh trì thức (khái
niệm khoa học), trong và bằng cách đó hình thành và phát triển nhân cách [26].
Như vậy, bản chất của hoạt động dạy: là sự tổ chức nhận thức cho người học và
giúp họ học tập tốt.
Mục đích của dạy học là thực hiện tốt mục tiêu đào tạo của nhà trường. Chức năng
của dạy học là truyền đạt thông tin và điều khiển hoạt động học.


Hoạt động dạy là hoạt động truyền thụ với nghĩa là tổ chức hoạt động học. Thông
qua hoạt động này, người học lĩnh hội được kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ; hoạt

kinh nghiệm của bản thân. [13].
Là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học, dưới sự điều khiển
sư phạm của thầy. [26].
Bản chất của hoạt động học: là sự tiếp thu, xử lý thông tin bằng các thao tác trí tuệ dựa
vào vốn sinh học và vốn đạt được của cá nhân, từ đó có được tri thức, kỹ năng và thái độ mới.
Mục đích của học là giúp người học chiếm lĩnh khái niệm khoa học nhằm phát triển trí
dục (nắm vững khái niệm), phát triển (tư duy khái niệm) và giáo dục (thái độ đạo đức).
Chức năng của hoạt động học là sự lĩnh hội và tự giác điều khiển quá trình chiếm lĩnh
khái niệm khoa học của người học.


Quá trình dạy học là một quá trình xã hội vì luôn có sự tương tác giữa con người với con
người; nội dung dạy học là tri thức của loài người; mục đích học tập do xã hội đề ra. Hoạt
động học là hoạt động của người học nhằm lĩnh hội nội dung kinh nghiệm xã hội - đó là:
tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ.
Vấn đề tâm lý chủ yếu của học tập là xu hướng với các biểu hiện là: sự hứng thú,
niềm say mê, tính ổn định, tập trung tư tưởng, sự nỗ lực của ý chí, tính kiên trì, sự khắc
phục khó khăn, tình cảm, trách nhiệm và nghĩa vụ học tập [38].
Suy cho cùng, lý do tồn tại của giáo dục là người học, là việc học. Mục đích lớn
nhất, cơ bản nhất của quá trình giáo dục và đào tạo đó là: làm cho người học phải biết
tự thân vận động, phải phát huy hết nội lực, tích cực, chủ động tự học và sáng tạo trong
suốt quá trình học tập.
Đặc trưng cơ bản của việc học là học tập suốt đời, dựa trên bốn trụ cột, đó là:
-

Học để biết (learning to know).

-

Học để làm (learning to do).

sống... và tuân theo quy luật chung nhất: quy luật phát triển của sự vật. Chúng ta biết
rằng: ngoại lực dù quan trọng đến đâu cũng chỉ là nhân tố hỗ trợ, thúc đẩy và tạo điều
kiện cho sự vật phát triển; còn nội lực mới là nhân tố quyết định sự phát triển của bản
thân sự vật, sự phát triển này đạt đến trình độ phát triển cao nhất khi và chỉ khi ngoại
lực và nội lực cộng hưởng được với nhau.
Trong quá trình dạy học, các phẩm chất năng lực tự học, tự suy nghĩ, tìm tòi kiến
thức chính là nội lực phát triển của người học; còn tác động dạy học của người thầy chỉ
là ngoại lực đối với sự phát triển của bản thân người học. Ngoài ra, yếu tố môi trường
xã hội cũng là ngoài lực có tác dụng tới sự phát triển của người học. Như vậy, trong
quá trình dạy học, mối quan hệ giữa dạy và học về bản chất chính là mối quan hệ giữa nội
lực và ngoại lực; chất lượng dạy học chỉ được nâng lên khi người thầy bồi dưỡng và phát huy
cao độ được khả năng tự học của trò... nói cách khác, hiệu quả của hoạt động dạy - học đạt cao
nhất khi nội lực và ngoại lực cộng hưởng với nhau. Khi đó người học sẽ tích cực, chủ động và
sáng tạo trong việc chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo và có được những chuẩn
mực về thái độ đối với tự nhiên, xã hội, đối với người khác và đối với bản thân.
1.3.1.2. Cơ sã tâm lý học.
Như đã trình bày, quá trình dạy học là sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt hoạt động,
đó là hoạt động của thầy và hoạt động học của trò. Mà hoạt động là quy luật chung nhất của
tâm lý con người, là phương thức tồn tại của cuộc sống chủ thể. Trong quá trình dạy học,
người học là chủ thể của chính hoạt động học tập của mình, còn bài học là đối tượng hoạt động
của họ; nhưng không phải tất cả các bài học đều là đối tượng hoạt động của người học ngay
khi nó xuất hiện. Chính vì vậy, dạy học phải tìm mọi cách để bài học thực sự trở thành đối
tượng của người học; nghĩa là người dạy phải tạo ra cho người học có nhu cầu học tập (lúc đó
sẽ nẩy sinh ở người học động cơ học tập đúng đắn và khát vọng, ý thức tự giác trong học tập),
người học phải biết cách học (có những kỹ năng tự học và những biện pháp tự học có hiệu
quả); lúc đó người học sẽ hoạt động tích cực, chủ động và sáng tạo trên đối tượng, và họ sẽ tìm


hiểu, chiếm lĩnh đối tượng và cải biến đối tượng, biến nó thành kinh nghiệm của chính bản
thân mình.

1.3.2. Học là hoạt động tích cực, chủ động và sáng tạo của người học.
1.3.2.1. Tính tích cực, chủ động nhận thức.
"Tích cực hóa là một tập hợp các hoạt động nhằm làm chuyển biến tích cực vị trí của
người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri
thức để nâng cao hiệu quả học tập" [38]. Tính tích cực học tập có vai trò quan trọng trong việc
nâng cao hiệu quả học tập của người học. Trong dạy học, tích cực hóa hoạt động học tập của
người học là một hướng đổi mới đã được đông đảo các nhà nghiên cứu, nhà lý luận và các
thầy cô giáo rất quan tâm và bàn tới ở nhiều khía cạnh khác nhau.
Tính tích cực là trạng thái hoạt động của người hành động. Tính tích cực nhận thức là
trạng thái hoạt động của người học được đặc trưng bởi khát vọng học tập, sự cố gắng với nghị
lực cao trong quá trình nắm vững tri thức cho chính mình.
Theo G.I.Sukina, trong học tập, tính tích cực được phân thành ba loại:
+ Tính tích cực bắt chước, tái hiện: xuất hiện do tác động bên ngoài (yêu cầu bắt buộc
của giáo viên), người học làm theo mẫu, nhằm chuyển đối tượng từ bên ngoài vào trong theo
cơ chế nhập nội. Loại này phát triển mạnh ở học sinh tiểu học.
+ Tính tích cực tìm tòi: đi liền với quá trình lĩnh hội khái niệm, giải quyết tình huống,
tìm tòi các phương thức hành động... với sự tham gia của động cơ, nhu cầu, hứng thú và ý chí.
Loại này khả năng phát triển mạnh ở học sinh từ lớp 4, 5 trở lên, đặc biệt là học sinh khá.
+ Tính tích cực sáng tạo: thể hiện khi chủ thể nhận thức tự tìm tòi kiến thức mới, tự tìm
ra phương thức hành động của riêng và nó trở thành phẩm chất bền vững của cá nhân. Loại
này thường thấy ở học sinh giỏi, học sinh có năng khiếu ở mọi cấp học, bậc học [22].
Tuy nhiên, cách phân loại trên còn hết sức khái quát. Muốn đánh giá mức độ tích cực
của người học, giáo viên còn phải căn cứ vào các chỉ số như: kết quả học tập, sự chú ý và
hứng thú học tập, thời gian duy trì tính tích cực trong giờ học... những chỉ số này cũng cần có
sự nghiên cứu tỷ mỷ để có thể vận dụng khi đánh giá.
• Một vài đặc điểm về tính tích cực của học sinh:
Tính tích cực của học sinh có mặt tự phát và tự giác.
Mặt tự phát của tính tích cực là những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh thể hiện ồ tính tò mò,
hiếu kỳ, hiếu động, linh hoạt và sôi nổi trong hành vi của mỗi người. Chúng ta cần nuôi
dưỡng, coi trọng và phát triển chúng trong quá trình dạy học.

-

Tính cách

-

Động cơ.

-

Sức khỏe.

-

Năng lực.

-

Môi trường

Để tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh thì hứng thú là vấn đề đáng quan
tâm nhất vì:
-

Nó được hình thành ở học sinh một cách nhanh chóng và ở bất cứ lúc nào trong
quá trình dạy học.

-

Điều quan trọng hơn cả là người thầy có thể điều khiển hứng thú của học sinh

Các biện pháp nhằm nâng cao tính tích cực nhận thức của người học, qua nghiên cứu và
tổng hợp chúng ta có thể tóm tắt như sau:
1. Cần làm cho người học hiểu và nắm vững ý nghĩa của lý thuyết, thực tiễn hay tầm
quan trọng của vấn đề đang nghiên cứu.
2. Nội dung dạy học phải mới, những cái mới ở đây không được quá xa lạ với người học,
cái mới phải liên hệ và phát triển cái cũ. Kiến thức hàng ngày phải có tính thực tiễn,
gần gũi với sinh hoạt, ý nghĩ hàng ngày, thỏa mãn nhu cầu nhận thức của người học.
3. Người thầy phải dùng các phương pháp dạy học đa dạng như: nêu vấn đề, thí nghiệm,
thực hành, so sánh, làm việc độc lập và phối hợp chúng với nhau. Kiến thức phải
được trình bày ở dạng động, phát triển và mâu thuẫn với nhau. Những vấn đề quan
trọng, các hiện tượng then chốt cần có lúc diễn ra một cách đột ngột và gây được sự
bất ngờ cho người học.


4. Trong dạy học, người thầy cần sử dụng các phương tiện dạy học: mô hình, học cụ, sơ
đồ, thí nghiệm minh họa, multimedia... nhằm kích thích hứng thú học tập của người
học.
5. Người thầy cần sử dụng các hình thức tổ chức dạy học khác nhau: cá nhân hóa, dạy
học theo nhóm, tập thể, tổ chức tham quan, làm thí nghiệm, thực hành... tránh sự
nhàm chán cho người học.
6. Nhà trường cần xây dựng những chính sách nhằm động viên, khen thưởng khi người
học có thành tích học tập tốt.
7. Người thầy cần tổ chức luyện tập cho học trò dưới các hình thức khác nhau nhằm vận
dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, vào các tình huống mới.
8. Kích thích tính tích cực của người học qua thái độ, cách ứng xử giữa thầy và trò.
9. Phát triển kinh nghiệm sống của người học trong học tập [38].
Ngoài ra chúng ta có thể tham khảo một số nguyên tắc sau đây của Carl Rogers (nhà giáo
dục người Mỹ) để giúp sinh viên, học sinh học giỏi:
-


nêu một số định nghĩa tiêu biểu, đó là:
-

Quản trị (quản lý) là những hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi con người kết
hợp với nhau trong cấc tổ chức nhằm nhằm đạt những mục tiêu chung [35].

-

Đỗ Hoàng Toàn cho rằng: "Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích
của chủ thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ
thống để đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường'' [34].

-

Theo F.W. Taylor: "Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và
sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất" [9].
Qua nghiên cứu các định nghĩa về quản lý, chúng ta có thể đưa ra định nghĩa khái quát

về quản lý như sau:
Quản lý là quá trình hoàn thành công việc thông qua con người và với con người. [24].
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm quản lý, nhưng từ những định nghĩa
trên, chúng ta có thể rút ra một số đặc điểm của quản lý, đó là:
-

Quản lý là một loại lao động để điều khiển lao động.

-

Quản lý là một hệ thống xã hội trên nhiều phương diện.


thành viên trong tổ chức để họ có thể đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả.
Nhà quản lý cần lựa chọn cấu trúc hệ thống của tổ chức cho phù hợp với những mục tiêu và
nguồn lực hiện có.
Lãnh đạo là quá trình điều hành, tác động, huy động và giúp đỡ những cán bộ làm việc
dưới quyền thực hiện những nhiệm vụ được phân công. Đó là quá trình làm việc với con
người như một nghệ thuật sao cho họ tự nguyện và nhiệt tình phấn đấu để đạt được các mục
tiêu của tổ chức.
Chức năng quản lý của công tác kiểm tra và đánh giá là đo lường và chấn chỉnh những công
việc đã và đang thực hiện nhằm bảo đảm rằng: các mục tiêu của tổ chức và các kế hoạch vạch
ra để đạt tới các mục tiêu này đã, đang và sẽ được hoàn thành. Nếu phát hiện có sự sai lệch thì
cần điều chỉnh hoạt động, trong trường hợp cần thiết có thể điều chỉnh mục tiêu.
1.4.1.3. Mục tiêu quản lý.
Mục tiêu quản lý là trạng thái được xác định trong tương lai của đối tượng quản lý hay
một số yếu tố cấu thành của nó.
Mục tiêu quản lý không phải là năng suất hay chất lượng công tác của riêng một cá nhân
hay một nhóm mà là năng suất hay chất lượng của cả hệ thống nhờ đó mà đạt được kết quả
như mục tiêu chung đã đề ra.
1.4.2. Về quản lý hoạt động dạy - học.
1.4.2.1. Quản lý giáo dục.
"Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ
thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của
Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là
quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến tới trạng thái
mới về chất" [23].
Hiểu cách khác thì: quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý
thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở mọi cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của toàn
bộ hệ thống nhằm mục đích bảo đảm sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận
thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo
dục về sự phát triển thế lực, trí lực và tâm lý.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status