vận dụng hình thức nhật kí đọc sách vào việc dạy đọc hiểu văn bản thơ ở trường phổ thông - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
-----o0o-----

Phan Thị Mỹ Duyên

VẬN DỤNG HÌNH THỨC NHẬT KÍ ĐỌC SÁCH
VÀO VIỆC DẠY ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THƠ Ở
TRƯỜNG PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
-----o0o-----

Phan Thị Mỹ Duyên

VẬN DỤNG HÌNH THỨC NHẬT KÍ ĐỌC SÁCH
VÀO VIỆC DẠY ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THƠ
Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: LL&PP dạy học môn Văn
Mã số: 60.14.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:


DANH MỤC BẢNG ......................................................................................... 6
DANH MỤC BIỂU ĐỒ .................................................................................... 6
DANH MỤC PHỤ LỤC ................................................................................... 7
DANH MỤC HÌNH ẢNH ................................................................................ 7
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................... 8
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 8
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................... 9
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài .................................................................... 13
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................... 13
4.1 Đối tượng .................................................................................................. 13
4.2 Phạm vi nghiên cứu ................................................................................... 14
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................. 14
5.1 Phương pháp nghiên cứu, tổng hợp số liệu ............................................... 14
5.2 Phương pháp điều tra ................................................................................ 14
5.3 Phương pháp thống kê............................................................................... 14
5.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm .......................................................... 15
6. Giả thuyết khoa học và đóng góp của luận văn .......................................... 15
6.1. Giả thuyết khoa học ................................................................................. 15


3

6.2. Đóng góp của luận văn............................................................................. 15
6.2.1. Về lý luận .............................................................................................. 15
6.1.2. Về thực tiễn ........................................................................................... 15
7. Cấu trúc của luận văn .................................................................................. 15
Chương1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ THUYẾT TIẾP NHẬN VĂN
CHƯƠNG VÀ TIẾP NHẬN VĂN CHƯƠNG TRONG NHÀ TRƯỜNG .... 17
1.1 Khái niệm tiếp nhận văn chương .............................................................. 17
1.2. Đặc trưng của hoạt động tiếp nhận văn chương ...................................... 21

3.4.2.1 Quá trình thực nghiệm được tiến hành theo các bước: ....................... 66
3.4.2.2 Hướng dẫn học sinh viết Nhật kí đọc sách: ........................................ 66
3.4.2.3 Sử dụng Nhật kí đọc sách trong giờ đọc hiểu văn bản thơ ................. 67
3.5 Kết quả thực nghiệm ................................................................................. 71
3.5.1 Kết quả ghi Nhật kí đọc sách của học sinh ............................................ 71
3.5.2 Kết quả thảo luận nhóm ......................................................................... 91
3.5.3. Kết quả bài kiểm tra sau thực nghiệm................................................... 93
3.6. Đánh giá kết quả thực nghiệm ................................................................. 98
3.6.1. Hiệu quả sử dụng Nhật kí đọc sách....................................................... 98
3.6.1.1 Nhật kí đọc sách rèn kĩ năng đọc hiểu văn bản thơ ............................ 98
3.6.1.2 Nhật kí đọc sách rèn kĩ năng viết cho học sinh .................................. 99
3.6.1.3. Nhật kí đọc sách rèn kĩ năng hợp tác trong nhóm ........................... 100


5

3.6.1.4 Nhật kí đọc sách kích thích hứng thú học tập của HS ...................... 101
3.6.2. Những thử thách đối với giáo viên và học sinh khi sử dụng Nhật kí đọc
sách ................................................................................................................ 103
3.6.3 Bài học kinh nghiệm ............................................................................ 104
KẾT LUẬN ................................................................................................... 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 109


6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT

Chữ viết tắt

Bảng 3.5: Kết quả tổng hợp số lượng và tỉ lệ phần trăm NKĐS sau 3 tuần……….88
Bảng 3.6: Kết quả học tập trước và sau thực nghiệm của lớp 11A, 11C, 11D…....97
Bảng 3.7: thống kê số liệu thăm dò học sinh………………………………….….106

DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Kết quả học tập lớp 11A (Lớp đối chứng)…………………………...98
Biểu đồ 3.2: Kết quả học tập lớp 11C (Lớp thực nghiệm)…………………….......98
Biểu đồ 3.3: Kết quả học tập lớp 11D (Lớp thực nghiệm)……………………..….99
Biểu đồ 3.4: Kết quả học tập lớp 11A, 11C, 11D trước thực nghiệm………….….99
Biểu đồ 3.5: Kết quả học tập lớp 11A, 11C, 11D sau thực nghiệm………………100


7

DANH MỤC PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1: Phiếu thăm dò học sinh……………………………………………….1
PHỤ LỤC 2: Chuẩn bị cho thảo luận…………………………………………….…2
PHỤ LỤC 3: Các Nhật kí đọc sách của học sinh…………………………………...6
PHỤ LỤC 4: Biên bản thảo luận của học sinh…………………………………….16
PHỤ LỤC 5: Một số hình ảnh thảo luận của học sinh…………………….…...….17

DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 3.1: Mẫu NKĐS Trần Giáng Tiên 11C……………………………………....75
Hình 3.2: Mẫu NKĐS Quách Tuấn Anh lớp 11D………………………………….76
Hình 3.4: Mẫu NKĐS Quách Tuấn Anh lớp 11D……………………………….....78
Hình 3.5: Mẫu NKĐS Phùng Thái Dương 11C…………………………………....79
Hình 3.6: Mẫu NKĐS Nguyễn Thị Mỹ Linh11D………………………………….80
Hình 3.7: Mẫu NKĐS Nguyễn Ngọc Hân lớp 11C………………………………..82
Hình 3.8: Mẫu NKĐS Đinh Hồng Phụng lớp 11C………………………………...83
Hình 3.9: Mẫu NKĐS Trần Giáng Tiên lớp 11C………….……………………….87

lực của mỗi cá nhân, tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của học sinh”. Như vậy,
Đảng đã xác định rõ nhiệm vụ và phương pháp giáo dục mới. Hoạt động dạy của
giáo viên không còn là một công việc truyền đạt tri thức một chiều. Qua hoạt động
dạy, người giáo viên phải giúp học sinh tự chiếm lĩnh tri thức và hình thành được kĩ
năng tự học.
Dạy học môn Ngữ văn trước nhất là dạy đọc hiểu văn bản. Nhưng dạy đọc
hiểu như thế nào để đạt hiệu quả dạy và học là một vấn đề nan giải. Thực tế giảng


9

dạy cho thấy, nhiều giáo viên chưa hoàn toàn trao quyền đọc hiểu văn bản cho học
sinh, vẫn còn tình trạng giáo viên nghĩ thay, cảm thay cho học sinh. Trong khi đó,
học sinh cũng là một bạn đọc, có cảm xúc riêng, có những suy nghĩ, những cách
đánh giá riêng. Nhưng học sinh không tự tin bày tỏ những điều mình nghĩ. Trong
các em tồn tại tâm lý những gì do thầy cô nói, do sách vở nói thì mới đúng. Từ đó
tính chủ động, tích cực của học sinh bị triệt tiêu. Khi đứng trước một tác phẩm văn
chương, các em thường lúng túng không biết phải tiến hành đọc hiểu như thế nào.
Đặc biệt là văn bản thơ. Các em cảm nhận một cách mơ hồ, hời hợt, phiến diện. Các
em thường chỉ nói lên được nội dung bài thơ một cách chung chung mà thôi.
Trong quá trình tìm hiểu tôi được biết đến chương trình Nhật kí đọc sách, một
chương trình khá thú vị và thật sự đã gây hứng thú rất nhiều cho người học trong
giờ đọc hiểu tác phẩm văn chương. Rất nhiều giáo viên đồng ý rằng, trong một, hai
tiết học, học sinh khó có thể cảm nhận một cách sâu sắc những vấn đề được bàn đến
trong tác phẩm văn chương, đặc biệt là đối với văn bản thơ – một tổ chức ngôn ngữ
phức tạp. Các giáo viên cũng thấy rằng tổ chức cho học sinh ghi nhật kí học tập sẽ
tạo điều kiện cho học sinh tiếp nhận văn bản, có thời gian để suy ngẫm để hiểu sâu
sắc hơn văn bản. Đồng thời, qua hoạt động ghi chép theo hệ thống bài tập trong
Nhật kí đọc sách, học sinh sẽ hình thành kĩ năng đọc hiểu văn bản thơ.
Chính vì những lí do trên, tôi quyết định chọn đề tài “Vận dụng hình thức nhật

bàn về các năng lực cần Ngữ văn cần hình thành cho HS: năng lực tri giác ngôn ngữ
nghệ thuật của tác phẩm văn học, năng lực tái hiện hình tượng, năng lực liên tưởng
trong tiếp nhận văn học, năng lực cảm thụ cụ thể - năng lực khái quát các chi tiết
nghệ thuật của tác phẩm trong tính chỉnh thể của nó, năng lực cảm xúc thẩm mỹ,
năng lực tự nhận thức, năng lực đánh giá, năng lực sáng tạo (tạo nghĩa cho văn
bản). Điều đó cho thấy, người GV đứng lớp không phải là người truyền thụ những
tri thức văn học một cách đơn thuần mà phải chú ý đến các năng lực tiếp nhận văn
học của HS. Qua những hoạt động giảng dạy trên lớp, người GV phải hướng tới
mục tiêu hình thành, rèn luyện và nâng cao những kĩ năng đọc hiểu văn bản cho học
sinh.
Văn chương bạn đọc sáng tạo, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, 1998, Phan
Trọng Luận bàn về việc cảm thụ văn chương. Trong đó tác giả nhấn mạnh: học sinh
là chủ thể cảm thụ và sáng tạo. Ông nói rằng: “Trong giáo dục cũng như trong giảng
dạy văn học, sai lầm kéo dài lâu nay là coi học sinh chủ yếu như một khách thể, một
đối tượng thụ động chịu sự tác động của giáo viên, của giáo tài, của quá trình giảng


11

dạy mà không thấy rõ chính bản thân học sinh cũng là một chủ thể năng động trong
tiến trình sư phạm đó”. [231] Tác giả cũng dẫn ra ý kiến của Phạm Văn Đồng: “Tôi
nghĩ rằng mục đích của việc dạy văn là phải rèn cho HS có ý thức, từ đó cố gắng rồi
có khả năng tự mình suy nghĩ, suy nghĩ nhiều, suy nghĩ sâu về những điều mình
muốn viết và lúc nói, lúc viết phải diễn tả ý mình sao cho trung thành, sáng sủa,
chặt chẽ, chính xác và hay”[231]. Cả hai ý kiến đều có điểm chung: dạy văn không
đơn thuần là dạy kiến thức, dạy văn là để đào tạo con người mới năng động và sáng
tạo. Các ý kiến trên đều thể hiện quan điểm cần phát huy tính tích cực, chủ động
của người học. Bởi vì chúng ta không thể đào tạo được những học sinh phát triển về
văn học mà chính bản thân người đó thờ ơ, vô cảm trước những vấn đề đặt ra trong
tác phẩm và tiếp nhận một cách hời hợt. Thực tế cho thấy học sinh càng tích cực

mang tính xã hội, qua sử dụng ngôn ngữ - nói và viết – các cơ hội học tập được tạo
ra và kiến thức được xây dựng”[5]. Các tác giả cũng đồng tình với quan điểm dạy
học hiện nay, cho rằng việc dạy văn cần phối hợp các kĩ năng đọc, viết và nói; kết
hợp giảng dạy ngữ văn với các môn học khác trong chương trình; chú ý đến các
phương diện xã hội và nhận thức của hoạt động học tập năng lực ngữ văn. Dựa trên
quan điểm kiến tạo kiến thức và quan điểm kết hợp các kĩ năng nói, đọc, viết trong
giờ dạy ngữ văn, các tác giả đã hướng dẫn học sinh thực hành nhiều loại nhật kí đọc
sách như: ghi chép bên lề sách, nhật kí thư, phản hồi sau giờ học…Thông qua các
hoạt động trên, HS hình thành được những kĩ năng đọc hiểu như: giải mã văn bản,
hình dung tưởng tượng, tư duy phê phán… Các em được tự do bộc lộ quan điểm,
thái độ, cách nhìn nhận, đánh giá của bản thân. Chính các em đã tham gia vào quá
trình tiếp nhận, hoàn thiện vòng đời của tác phẩm văn học.
Như vậy, Taffy E. Raphael – Efredda H. Hiebert không chỉ nêu lên quan điểm
tiến bộ về phương pháp dạy học Văn mà còn đưa ra một cách vận dụng cụ thể và
hữu hiệu. Đặc biệt NKĐS được các tác giả trình bày khá chi tiết và tỉ mỉ về chức
năng, cách thức thực hiện, tiêu chí đánh giá… Nó thật sự là quyển sách dành cho
các GV và những người đào tạo GV quan tâm đến giảng dạy Ngữ văn cho HS trung
học phổ thông.
Đây là những tiền đề lí thuyết đã đặt nền móng cho đề tài nghiên cứu của tôi.
Một số tài liệu chỉ dừng lại ở phương diện lý thuyết, mang tính gợi dẫn. Một số tài
liệu đưa ra cách thức thực hiện cụ thể. Tuy nhiên, cách thức ấy được sử dụng cho tất
cả các văn bản văn chương nên còn mang tính chung chung. Hầu như chưa có một
cách thức thực hiện dành riêng cho việc dạy đọc hiểu văn bản thơ. Kế thừa những


13

thành tựu nghiên cứu trên, vận dụng linh hoạt vào thực tiễn dạy học, chúng tôi
mạnh dạn sử dụng công cụ NKĐS để dạy đọc hiểu văn bản thơ cho HS ở trường
THPT. Chúng tôi thực hiện luận văn này với mong muốn góp sức nâng cao chất


ở trường phổ thông, đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là chương trình đọc hiểu
văn bản thơ ở trường phổ thông.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Do hạn chế về thời gian, chúng tôi tiến hành trong phạm vi đọc hiểu một số
bài thơ trong chương trình Ngữ văn cơ bản lớp 11. Đối tượng nghiên cứu thực
nghiệm là HS lớp 11C và 11D trường PT Thực hành sư phạm, thành phố Long
Xuyên, tỉnh An Giang.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu, tổng hợp số liệu
-

Mục đích: tìm hiểu cơ sở lí luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu.

-

Đối tượng: các tài liệu có liên quan tới đề tài
+ Văn bản chỉ đạo giảng dạy môn Văn của Bộ giáo dục
+ Các công trình nghiên cứu, bài viết liên quan tới đề tài
+ Giáo trình về phương pháp giảng dạy môn Văn.
+ Các luận văn có liên quan đến đề tài, có vận dụng hình thức này.

-

Cách làm: đọc, ghi chép, sắp xếp có hệ thống thành hai khu vực: các lí luận
cơ sở và qui trình.

5.2 Phương pháp điều tra
-


Tổ chức kiểm tra kết quả học tập của học sinh qua các tiết dạy.
6. Giả thuyết khoa học và đóng góp của luận văn
6.1. Giả thuyết khoa học
Nếu thực hiện tốt biện pháp đã đề xuất thì giáo viên sẽ trang bị cho học sinh kĩ
năng đọc hiểu, góp phần giúp học sinh chủ động, tích cực hơn trong học tập, làm
tăng chất lượng và hiệu quả giờ đọc hiểu văn bản thơ.
6.2. Đóng góp của luận văn
6.2.1. Về lý luận
- Làm rõ đặc trưng của hoạt động tiếp nhận văn chương trong nhà trường phổ
thông.
- Làm rõ vai trò của hoạt động đọc và đặc điểm của Nhật ký đọc sách.
- Góp một số ý để giúp các giáo viên có cơ sở để vận dụng cách thức dạy này.
6.1.2. Về thực tiễn
Đóng góp cách hướng dẫn HS đọc văn bản, góp phần nâng cao chất lượng giờ
dạy đọc hiểu ở trường PT.
Có cơ sở thực tiễn thuyết phục rằng có thể áp dụng phương pháp này đối với
học sinh trung bình trở lên.
7. Cấu trúc của luận văn
Kết cấu luận văn gồm các phần sau đây:
Phần mở đầu.
Phần nội dung: gồm ba chương.
- Chương 1: Một số vấn đề về lý thuyết tiếp nhận văn chương và vấn đề tiếp
nhận văn chương trong nhà trường.
- Chương 2: Sử dụng Nhật kí đọc sách vào việc dạy đọc hiểu văn bản thơ ở
trường phổ thông.


16

- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.

hiểu được cuộc sống trong tác phẩm. Đó là cuộc gặp gỡ, đồng điệu đặc biệt giữa hai
tâm hồn nghệ sĩ. Điển hình là câu chuyện của Bá Nha và Tử Kì. Theo quan niệm về
kí thác, người đọc không quan tâm đến ý của tác giả, chỉ chú ý đến thưởng thức của
bản thân người đọc. Như Đàm Hiến (cuối đời Thanh) cho rằng: “Dụng tâm của tác
giả chưa chắc đã vậy, nhưng dụng tâm của người đọc tại sao lại không thể như


18

vậy?”
Mặc dù tiếp nhận văn học là một trong những vấn đề bản chất, then chốt của
khoa nghiên cứu văn học. Thế nhưng, đến nay, giữa các nhà phê bình, các nhà
nghiên cứu, các nhà lí luận văn học vẫn chưa đưa ra một khái niệm thống nhất về
tiếp nhận văn học. Những thập niên gần đây khoa học nghiên cứu về lý thuyết tiếp
nhận khá phát triển với những công trình nghiên cứu của Phương Lựu, Lê Ngọc
Trà, Trần Đình Sử, Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương, Nguyễn Thanh
Hùng… đã ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của chủ thể tiếp nhận trong quá
trình làm đầy những ý nghĩa, giá trị mới cho tác phẩm văn học. Các tác giả đã đem
đến cho khoa học tiếp nhận một hướng tiếp cận mới, một cái nhìn toàn diện hơn.
Sau đây là một số quan điểm ở những khía cạnh khác nhau của một số nhà nghiên
cứu xung quanh vấn đề tiếp nhận, giúp chúng ta có cái nhìn khái quát và toàn diện
về lý thuyết tiếp nhận:
Theo SGK Ngữ văn 12, tập 2, NXB GDVN, 2010, “Tiếp nhận văn học chính
là quá trình người đọc hòa mình vào tác phẩm, rung động với nó, đắm chìm trong
thế giới nghệ thuật được dựng lên bằng ngôn từ, lắng nghe tiếng nói của tác giả,
thưởng thức cái hay, cái đẹp, tài nghệ của người nghệ sĩ sáng tạo. Bằng trí tưởng
tượng, kinh nghiệm sống, vốn văn hóa và bằng cả tâm hồn mình, người đọc khám
phá ý nghĩa của từng câu chữ, cảm nhận sức sống của từng hình ảnh, hình tượng,
nhân vật, dõi theo diễn biến của từng câu chuyện, làm cho tác phẩm từ một văn bản
khô khan biến thành một thế giới sống động đầy sức cuốn hút. Như vậy, tiếp nhận

việc phân tích, tiếp thu những gì nhà văn thể hiện trong tác phẩm, không nhất thiết
phụ thuộc vào sự gặp gỡ đặc biệt giữa hai cá thể nhà văn và độc giả mà lí luận tiếp
nhận đã giải phóng cho sức sáng tạo cho người đọc, mở cửa cho sự phê bình từ
nhiều phía, nhiều chiều, nhiều bình diện của văn bản, không còn xem tác phẩm là
một thực thể văn học là một thực thể bất biến và đơn nghĩa, mà nó có nội dung vô
tận.
Theo Phương Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam…trong Lí luận văn
học, 2006, NXB GD: “Tiếp nhận văn đòi hỏi sự tham gia của toàn bộ nhân cách
con người - tri giác, cảm giác, tưởng tượng, liên tưởng, suy luận, trực giác - đòi hỏi
sự bộc lộ cá tính, thị hiếu, và lập trường xã hội, sự tán thành và phản đối… chính vì
vậy khái niệm tiếp nhận bao quát hơn và bao hàm các khái niệm cảm thụ, thưởng
thức, lí giải, đồng cảm…”[43, 223]. Theo các tác giả thì việc tiếp nhận của người
đọc là phải biết tri giác, cảm thụ tác phẩm, cảm nhận hình tượng, phải thâm nhập


20

vào hệ thống hình tượng, phải thể nghiệm, phải đồng cảm và phải bộc lộ tư duy phê
phán. Chính vì thế khái niệm tiếp nhận phải bao quát hơn và bao hàm các khái niệm
cảm thụ, thưởng thức, lí giải, đồng cảm…
Từ điển thuật ngữ văn học, 2007, của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc
Phi (đồng chủ biên) định nghĩa “Tiếp nhận văn học: là hoạt động chiếm lĩnh các
giá trị tư tưởng, thẩm mỹ của tác phẩm văn học bắt đầu từ sự cảm thụ văn bản ngôn
từ, hình tượng nghệ thuật, tư tưởng, cảm hứng, quan niệm nghệ thuật, tài nghệ tác
giả cho đến tác phẩm sau khi đọc: cách hiểu, ấn tượng trong trí nhớ, ảnh hưởng
cho hoạt động sáng tạo, bản dịch, chuyển thể. Qua tiếp nhận văn học, nhờ được tri
giác, liên tưởng, cắt nghĩa, tưởng tượng của người đọc mà tác phẩm trở nên đầy
đặn, sống động, hoàn chỉnh; ngược lại, người đọc nhờ tác phẩm mà mở rộng vốn
hiểu biết, kinh nghiệm về đời sống, tư tưởng và tình cảm cũng như năng lực cảm
thụ, tư duy.

tồn tại qua một văn bản “được hiểu như một tổ chức kí tự chặt chẽ, liên tục, phù
hợp với một cấu trúc có ý nghĩa trọn vẹn, phức tạp” [43, 221]. Chỉ khi được người
đọc tiếp nhận, quá trình sáng tạo của nhà văn mới hoàn tất. Tác phẩm là cầu nối
giữa tác giả với người đọc, người đọc với người đọc. Người đọc với tư cách là chủ
thể tiếp nhận sẽ chi phối và định đoạt số phận của tác phẩm. Do đó cần phải nâng
cao trình độ nhận thức cho người đọc. Người đọc có biết lắng nghe những tiếng nói
nội tâm thì mới biết quan sát thế giới bên ngoài một cách tinh tế. Có nhận biết được
sắc thái muôn màu muôn vẻ của ngoại cảnh thì mới bộc lộ được thế giới nội tâm
của mình.
1.2. Đặc trưng của hoạt động tiếp nhận văn chương
1.2.1. Tính cá thể
Lý thuyết tiếp nhận hiện đại đặc biệt chú ý yếu tố cá nhân của chủ thể tiếp
nhận. Đó là những đặc tính riêng, chịu chi phối bởi nhiều yếu tố từ chủ quan đến
khách quan. Không có tác phẩm văn học nào tồn tại khép kín, với một vẻ mặt duy
nhất dành cho tất cả mọi người đến với nó. Ở đây năng lực, thị hiếu, tính khuynh
hướng trong tư tưởng, tình cảm, thị hiếu thẩm mĩ, sở thích cá nhân đóng vai trò rất
quan trọng. Tùy theo lứa tuổi già hay trẻ, trình độ học vấn cao hay thấp, vốn sống
nhiều hay ít mà có kết quả tiếp nhận cụ thể, riêng biệt cho mỗi người. Ngoài ra
người đọc còn bị chi phối bởi kinh nghiệm sống, văn hóa, thời đại, mục đích tiếp
nhận… Chính sự chủ động, tích cực của bạn đọc đã làm tăng thêm sức sống của tác
phẩm. Người đọc trong hoạt động văn học thuộc nhiều thời đại còn chịu sự chi phối


22

của yếu tố thời gian văn hóa, không gian văn hóa khác nhau. Mỗi người đọc bằng
kiến thức thời đại mình khi lĩnh hội tác phẩm, góp phần bổ sung làm tác phẩm tỏa
sáng theo những điểm nhìn, góc độ khác nhau.
Mỗi sáng tạo nghệ thuật mang theo tư tưởng, quan điểm, hiểu biết của người
sáng tác về cuộc sống, con người, xã hội... Mỗi người tiếp nhận có một vốn sống,

hiểu sai lệch tác phẩm văn chương do không đủ kiến thức để giải mã lớp vỏ ngữ
nghĩa của ngôn ngữ mang lại. Chẳng hạn ở hai câu thơ:
Mây giăng ải Bắc trông tin nhạn
Ngày xế non Nam bặt tiếng hồng
(Ngóng gió đông - Nguyễn Đình Chiểu, SGK Văn 11 cũ)
Ở đây tin nhạn, tiếng hồng được chú thích là: “tin tức. Xưa thường dùng chim
đưa thư”. Do chú thích sai của SGK đã dẫn đến cách hiểu sai cho HS. Nhạn, hồng
(ngỗng trời) không phải là những loài chim đưa thư ngày xưa (như chim bồ câu).
Tin nhạn gắn liền với tích Tô Vũ chăn dê. Ngỗng trời cánh lớn bay cao nên văn học
cổ vẫn dùng hình ảnh này để chỉ người tài cao chí lớn (Cánh hồng bay bổng tuyệt
vời / Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm). Do đó tin nhạn, tiếng hồng phải được
chú thích là tiếng tăm của những anh hùng hào kiệt, cụ thể ở đây là tiếng tăm của
những thủ lĩnh nghĩa quân chống Pháp ở miền Bắc như Phan Đình Phùng, Hoàng
Hoa Thám, ở miền Nam như Thủ khoa Huân, Trương Định... lúc bấy giờ.
Một trường hợp khác, ở đoạn văn sau: “Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như
ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào”.(Hai
đứa trẻ - Thạch Lam). Nếu là một em HS chưa từng sống ở miền quê, chưa từng
nghe tiếng ếch nhái kêu râm ran vào những buổi chiều tối thì không thể nào cảm
nhận được cái buồn thấm thía len lỏi vào tận sâu tâm hồn.
Do đó, khi tiếp nhận văn học, người đọc phải có vốn sống, phải hiểu được
nghĩa của ngôn từ, điển tích, mô típ của các biểu tượng thẩm mĩ… Khi đến với tác
phẩm văn học, chủ thể tiếp nhận không thể tiếp xúc một cách trực tiếp với thế giới,
cuộc sống và tình cảm của con người hay của nhà văn được đề cập trong tác phẩm
mà chỉ có thể cảm nhận tất cả các điều đó qua ngôn ngữ. Thông qua ngôn ngữ, tác
phẩm luôn gợi mở và chứa đựng nhiều ý nghĩa. Mỗi một câu từ, mỗi một biện pháp
nghệ thuật chỉ nói lên một phần nhỏ trong mối quan hệ với ý nghĩa nội dung của tác
phẩm và mới chỉ là sự diễn đạt bên ngoài của tài năng nghệ sĩ. Ý nghĩa tiềm tàng
của tác phẩm, tài năng thực sự của tác giả luôn nằm trong chiều sâu tư tưởng của
ngôn ngữ. Chính vì thế, sự nhạy cảm, trình độ, hứng thú, kinh nghiệm cũng như vốn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status