MỘT VÀI HƯỚNG TIẾP CẬN ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN THƠ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
MỤC LỤC
Mục
Nội dung
Trang
I.
LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
3
II.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
3
1.
Cơ sở lý luận
3
2.
Cơ sở thực tiễn
5.
Khai thác các yếu tố mang tính đối lập.
21
6.
Khai thác vấn đề thời sự của tác phẩm.
24
THIẾT KẾ GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM
27
IV.
HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
36
V.
ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
37
VI.
ĐHQG, HN
:
Đại học Quốc gia, Hà Nội
GD& ĐT
:
Giáo dục và đào tạo
THPT
:
Trung học phổ thông
SKKN
:
Sáng kiến kinh nghiệm
SGK
:
Sách giáo khoa
&
Ph.G. Lor-ca
1,2,3,4,5
:
:
:
Và
Phê-đê-ri-cô Gar-xi-a Lor-ca
Một, hai, ba, bốn, năm
MỘT VÀI HƯỚNG TIẾP CẬN ĐỌC- HIỂU VĂN BẢN THƠ
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
SKKN: Nguyễn Thị Liên
- Trang 2 -
MỘT VÀI HƯỚNG TIẾP CẬN ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN THƠ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong những năm học gần đây, một thực trạng đáng buồn xảy ra là học sinh
rất thờ ơ, lãnh đạm với môn Ngữ văn. Đa số các em chưa có ý thức học, thậm chí
xem nhẹ môn học này. Tôi xin lấy một ví dụ: Ở sách ngữ văn 10 tôi ra đề bài viết
số 2 về bài văn tự sự như sau:“Em hãy tưởng tượng mình là quyển sách văn học và
kể về chính mình?”.Tôi xin dẫn nguyên văn đoạn viết của học sinh: “Bạn có biết
tôi là ai không?Tôi là quyển sách văn học đây. Tôi buồn quá! chẳng có ai quan
tâm đến tôi cả. Các bạn học sinh chẳng ngó ngàng gì tới tôi, trong giờ học Ngữ
văn các bạn học sinh đâu có mang tôi theo tới lớp, vứt tôi ớ một xó xỉnh, mạng
tâm hồn, chú trọng đến cái đẹp, cái thi vị trong đời sống tâm hồn con người, là
SKKN: Nguyễn Thị Liên
- Trang 3 -
MỘT VÀI HƯỚNG TIẾP CẬN ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN THƠ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
tiếng nói của tình cảm con người, của những rung động trái tim. Hay nói như :
nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi cho rằng: “Thơ là hình
thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm
xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu” (Từ
điển thuật ngữ văn học, NXB- ĐHQG, HN, 1999).
Mỗi bài thơ có nét gì độc đáo, sáng tạo trong hình thức biểu hiện? Tứ thơ,
cảm hứng, tư tưởng bài thơ có ý nghĩa như thế nào với cuộc sống và con người?
Cần nhớ: “Thơ là người thư kí trung thành của những trái tim” (ĐuyBe-lây) và
con đường ngắn nhất để đến đích của người đọc thơ là: “Đi từ trái tim để đến với
trái tim” (Plê-kha-nôp)
Vì thế, dạy môn Ngữ văn nói chung, đặc biệt là việc hướng dẫn học sinh
Đọc - hiểu văn bản thơ nói riêng, đòi hỏi người giáo viên dạy văn không chỉ là
người nghiên cứu khoa học mà còn phải là người nghệ sĩ, đạo diễn phải truyền cho
học sinh mình ngọn lửa nhiệt huyết nghề nghiệp để hướng các em đến sự đồng
cảm với thế giới văn học biết yêu, ghét, buồn, vui... hiểu rõ cái hay, cái đẹp ẩn
chứa trong từng câu thơ, câu văn, có cảm xúc thực sự đồng điệu với cảm xúc của
tác giả. Từ đó mở mang tri thức, hình thành nhân cách của học sinh, giúp cho các
em sự hiểu biết phong phú về mọi mặt của cuộc sống con người, xã hội và đất
nước. Bồi dưỡng cho các em một cuộc sống tâm hồn tươi đẹp, phong phú, rộng
mở. Từ đó khơi dậy niềm tự hào về đất nước, dân tộc mình và tình yêu cuộc sống.
Hơn nữa, những bài thơ hay, những văn bản hấp dẫn đã giúp cho giờ văn
không chỉ là giờ học mà còn là những giờ giải trí, khám phá biết bao điều kỳ diệu
chức cho toàn thể giáo viên THPT trong tỉnh học tập về phương pháp giảng dạy
mới; tổ chức những báo cáo chuyên đề về văn học, cập nhật những nội dung
chương trình mới, những hướng tiếp cận bài mới để giáo viên trong tỉnh có cơ hội
trao đổi kinh nghiệm, học tập và trau dồi kiến thức để cùng nhau tiến bộ, góp phần
phát triển nền giáo dục nước nhà.
Bên cạnh đó, giáo viên trong tổ văn hưởng ứng tích cực việc đổi mới
phương pháp để mang lại hiệu quả thực sự trong việc nâng cao chất lượng Dạy Học bộ môn Văn.Tích cực tham gia dự giờ, thảo luận, học tập kinh nghiệm của các
đồng nghiệp và thực tế giảng dạy của bản thân.
Bản thân tôi đã vận dụng phương pháp này trong quá trình giảng dạy và
nhận thấy: Học sinh phát huy được tính chủ động và sáng tạo trong việc tìm hiểu,
khám phá tác phẩm giúp các em khắc sâu kiến thức bài học.
Về phía học sinh:
Một số học sinh có tinh thần cầu tiến, ham học hỏi, thích tiếp cận cái hay,
cái đẹp của văn bản thơ.
2b. Khó khăn
Về phía giáo viên:
Chất lượng học sinh đầu vào khá thấp so với mặt bằng chung của huyện
Long Thành nói riêng và thành phố Biên Hòa nói chung.
Việc thay đổi sách giáo khoa về nội dung chương trình và phương pháp giảng
dạy có nhiều đổi mới, nên ít nhiều gây sự lúng túng cho giáo viên. Trước đây, giáo
viên giảng dạy theo lối truyền thống, sử dụng phương pháp thuyết giảng là chủ yếu.
Hiện nay, theo yêu cầu đổi mới về phương pháp giảng, giáo viên giữ vai trò chủ
đạo, hướng dẫn học sinh lĩnh hội tri thức, “học sinh là trung tâm”, “học sinh tích
cực”. Chương trình cũng như nội dung bài học có sự thay đổi về thời lượng tiết dạy,
tác phẩm đó không?
Có
Không
Kết quả khảo sát cho thấy, trong tổng số phiếu điều tra học sinh khối 11, 12. Số
phiếu phát ra: 72 ; số phiếu không hợp lệ: 04 ; số phiếu hợp lệ: 68.Trong đó có 23
phiếu trả lời: Có, chiếm tỉ lệ 33,8% ; 45 phiếu trả lời: Không, chiếm tỉ lệ 66,2%.
Như vậy, qua Phiếu thăm dò có thể khẳng định được một cách chắc chắn là học
sinh không có hứng thú học Đọc- hiểu văn bản thơ vì:
Không coi trọng bộ môn, nên không đầu tư, chưa có thói quen chuẩn bị bài
trước khi đến lớp, nếu có soạn bài chỉ để đối phó chép ở sách học tốt, chép
xong quên ngay sau khi chép. Có khi còn nhờ người khác soạn bài hộ.Vì thế,
dẫn đến sự hiểu biết của học sinh về lịch sử, tác giả cũng như tác phẩm thơ
được học trong chương trình còn nhiều hạn chế.
Các em cho rằng đọc thơ phát ra âm thanh thì được còn hiểu được nội dung
cũng như nghệ thuật của thơ thì quá khó đối với các em. Cho nên, khả năng
tiếp thu và cảm nhận những tác phẩm thơ chưa cao.
Kỹ năng phân tích và cảm thụ những giá trị đặc sắc về nghệ thuật và nội
dung các tác phẩm thơ còn hời hợt, chưa sâu sắc.
Kỹ năng phân tích các yếu tố then chốt, yếu tố lặp đi lặp lại nhiều lần trong
tác phẩm...của học sinh còn thiếu sót.
Như vậy, việc tìm ra một giải pháp thích hợp để gây hứng thú học môn Ngữ
văn nói chung và Đọc- hiểu văn bản thơ nói riêng là điều cần thiết.
III.TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
Giáo sư Trần Đình Sử đã viết “Đọc- hiểu văn bản một khâu đột khá trong
nội dung và phương pháp dạy học hiện nay”. Vì thế, Đọc - hiểu văn bản thơ là hoạt
động đọc văn một cách nghiêm túc có nghiền ngẫm, cảm xúc, tưởng tượng và liên
tưởng. Bản chất đọc hiểu là tìm hiểu phân tích để chiếm lĩnh văn bản bằng nhiều
phương pháp và hình thức dạy học văn.
Chúng ta, đều biết phương pháp hướng dẫn học sinh tiếp cận và tìm hiểu văn
bản thơ vô cùng phong phú, đa dạng và mỗi giáo viên dạy văn đều có cách nhìn và
lối sống nào đó và sống trong một bối cảnh lịch sử - xã hội nhất định. Môi trường
gia đình và xã hội, với những biểu hiện đa dạng của nó về chính trị, kinh tế, văn
hoá, ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng và tình cảm của nhà thơ, và điều này được
phản ánh trong tác phẩm ở một phạm vi nào đó. Vì thế, mỗi một bài thơ bao giờ
cũng mang dấu ấn thời đại, tư tưởng tình cảm và phong cách tác giả. Cho nên khi
dạy Đọc – hiểu văn bản thơ nếu giáo viên không tái hiện lại được những nét lịch
sử đặc trưng nhất có liên quan đến bài học thì không thể dấy lên được không khí
thời đại và sẽ làm giảm giá trị của bài thơ.
VD: Một bài thơ hay đều được ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt
bởi chính hoàn cảnh đã gợi cảm hứng cho người nghệ sĩ. Tây Tiến của Quang
Dũng cũng không phải là một ngoại lệ. Sau khi CMT8 thành công, Quang Dũng
gia nhập bộ đội. Năm 1947, ông tham gia đoàn quân Tây Tiến với chức vụ đại đội
trưởng. Tây Tiến là đơn vị bộ đội được thành lập mùa xuân năm 1947:
“Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”
Tây Tiến có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào, bảo vệ biên giới Việt- Lào
và đánh tiêu hao lực lượng quân đội Pháp ở Thượng Lào cũng như ở miền Tây Bắc
Bộ Việt Nam. Địa bàn đóng quân và hoạt động của Tây Tiến khá rộng, gồm các
SKKN: Nguyễn Thị Liên
- Trang 7 -
MỘT VÀI HƯỚNG TIẾP CẬN ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN THƠ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hoà Bình, miền Tây Thanh Hoá và cả Sầm Nưa( Lào).
Chiến sĩ Tây Tiến chủ yếu là những thanh niên trí thức Hà Thành đã xếp bút
nghiên lên đường chiến đấu trong những hoàn cảnh rất gian khổ, vô cùng thiếu
thốn về vật chất, bệnh sốt rét rừng hoành hành dữ dội. Tuy vậy, họ sống rất lạc
quan và chiến đấu rất dũng cảm “Quyết tử choTổ quốc quyết sinh” như lời bài hát
bắt gặp lí tưởng cộng sản:
Ông sẵn sàng dấn thân cho lí tưởng
cách mạng giải phóng dân tộc:
“Sống đã vì cách mạng anh em ta
Chết cũng vì cách mạng chẳng phiền hà”
(Trăng trối) .
Hay:
“Sống cùng Đảng, chết không rời Đảng
SKKN: Nguyễn Thị Liên
- Trang 8 -
MỘT VÀI HƯỚNG TIẾP CẬN ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN THƠ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Tấm lòng son chói sáng nghìn thu,
Mặt trời có lúc mây mù
Trái tim kia vẫn đỏ bầu máu tươi”
( Ba mươi năm đời ta có Đảng)
Cho nên Chế Lan Viên nhận xét:“Với Tố Hữu, tả tình hay tả cảnh, kể
chuyện mình hay kể chuyện người, viết về các vấn đề lớn hay các sự việc nhỏ là để
nói cho được cái lí tưởng cộng sản ấy thôi”.Vì vậy, các chặng đường thơ của Tố
Hữu gắn bó và phản ánh chân thật những chặng đường cách mạng đầy gian khổ hi
sinh nhưng cũng nhiều thắng lợi vinh quang của dân tộc.
Như vậy, giáo viên cần giới thiệu, hướng dẫn cho học sinh những kiến thức
về tác giả, tác phẩm và về hoàn cảnh lịch sử ra đời của bài thơ. Trong thực tế khi
dạy tôi đã cho các em xem một đoạn Video clip khoảng 2 đến 5phút về hoàn cảnh
lịch sử của Tây Tiến và cuộc đời của Tố Hữu kết quả cho thấy, các em rất hào
hứng trong giờ học vì thế mà các em tiếp cận bài thơ dễ dàng hơn,tốt hơn và quá
trình cảm nhận, phân tích cũng trở nên thuận lợi hơn rất nhiều đối với các em.
SKKN: Nguyễn Thị Liên
- Trang 11 -
MỘT VÀI HƯỚNG TIẾP CẬN ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN THƠ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Bài thơ được in trong tập thơ Ánh sáng và phù sa (1960). Chế Lan Viên sáng
tác bài thơ không tuyên truyền một cách thuần túy cho sự kiện chính trị ấy mà đã
diễn tả được tình cảm của con người, của người nghệ sĩ mang tính trường tồn: Khát
vọng về với kỉ niệm về với nhân nhân về với ngọn nguồn sáng tạo nghệ thuật.
Xuyên suốt bài thơ là hình ảnh “con tàu” lên Tây Bắc. Hình ảnh con tàu gợi nghĩ
đến những chuyến đi xa. Nhưng sự thật lúc đó chưa có đường tàu và con tàu lên
Tây Bắc. Do vậy trong bài thơ này, hình ảnh con tàu chủ yếu mang nghĩa biểu
tượng: nó tượng trưng cho khát vọng lên đường, khát vọng đi xa, khát vọng hòa
nhập vào cuộc sống rộng lớn của đất nước, nhân dân. Đó chính là con tàu tâm
tưởng, con tàu của khát vọng khám phá và sáng tạo.
Tây Bắc ư ?Có riêng gì Tây Bắc
Con tàu tâm tưởng của hồn thơ Chế Lan Viên hướng đến Tây Bắc.Câu thơ
vừa là câu hỏi vừa có tính chất khẳng định Tây Bắc là mảnh đất cụ thể cũng là đất
nước thân yêu. Bởi vì đất nước Việt Nam có biết bao mảnh đất xa xôi như thế đang
cần có những bàn tay xây dựng của con người.
Và một khi nhà thơ – người nghệ sĩ – công dân đã cảm nhận hết được tình
yêu và trách nhiệm của mình là phải đóng góp vào sự nghiệp xây dựng kiến thiết
Tổ quốc bằng những sáng tác nghệ thuật "miêu tả chân thật và hùng hồn cuộc sống
mới, con người mới”, thì lúc đó tâm hồn nhà thơ đã :
Khi lòng ta đã hoá những con tàu
Đây lại là một sự chuyển hóa trong nhận thức tình cảm của nhà thơ. Đó là
khát vọng ra đi để hòa nhập với nhân dân đã tràn ngập tâm hồn nhà thơ, đó chính
là động lực thôi thúc từ bên trong. Đúng là sự hòa nhập tư tưởng, tình cảm, tâm
VD: Khi dạy bài “ Đàn ghi ta của Lorca” Thanh Thảo
Giáo viên có thể đặt câu hỏi:
- Thanh Thảo đã xây dựng trong bài thơ những hình tượng nghệ thuật nào?
- Những hình tượng nghệ thuật đó được tác giả khắc họa bằng những biểu tượng
nào? Ý nghĩa khơi gợi từ những biểu tượng đó?
Bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca được cấu trúc trên hai hình tượng cơ bản:
Hình tượng Tiếng đàn: Trong bài “Đàn ghita của Lorca”, tiếng đàn không trực
tiếp miêu tả âm thanh tiếng đàn mà tập trung miêu tả một thế giới của tưởng tượng
và cảm xúc mà tiếng đàn ấy gợi lên. Dường như trong quan niệm của Thanh Thảo,
tiếng đàn là âm thanh tiếng lòng của Lorca, phản chiếu cuộc sống và tâm hồn của
Lorca
Hệ thống hình ảnh mà Thanh Thảo sử dụng để gợi ra tiếng đàn ghi ta của
Lorca là những hình ảnh có khả năng gợi mở một bức tranh cuộc sống muôn màu
muôn vẻ mà cũng có sức ám ảnh lạ lùng.“tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan”: tiếng
đàn tượng trưng cho nghệ thuật, bọt nước gợi cái mong manh hữu hạn, cái phù du
trôi nổi, bọt nước lại hình tròn gọi khát vọng đẹp về nghệ thuật. Nốt nhạc li-la li-la
li-la: Âm thanh (tiếng đàn ghi ta),Hoa“li-la”(hoa Tử Đinh Hương).“tiếng ghita
nâu/ / bầu trời cô gái ấy”: Đó là âm vang và màu sắc của tình yêu, tiếng ghi ta đã
chứa đựng trong nó thế giới của những rung động tình yêu say mê đắm đuối, mở ra
một khoảng trời, một phần đời sống riêng tư với tình yêu dành cho “cô gái ấy” rạo
rực say mê.“tiếng ghita lá xanh biết mấy”: thiên nhiên tươi tắn, cỏ cây với cuộc
sống tự nhiên làm xao xuyến cả tâm hồn. Đó là tiếng ghi ta mang màu xanh của sự
sống và niềm thiết tha khắc khoải với sự sống.“tiếng ghita tròn bọt nước vỡ tan”:
“tròn” gợi sự hoàn tất, “bọt nước vỡ tan” gợi sự mất mát, kết thúc của cái sự tồn tại
mong manh - khi tiếng ghi ta vang lên những âm thanh cuối cùng của giai điệu
cuộc sống cũng là khi sự sống đột ngột chấm dứt.“tiếng ghi ta ròng ròng máu
chảy”: khát vọng cách tân nghệ thuật, khát vọng đấu tranh vì tự do dang dở, tiếng
đàn cũng tượng trưng cho thân phận đau đớn của người nghệ sĩ.“không ai chôn cất
tiếng đàn/ tiếng đàn như cỏ mọc hoang”: sức mạnh lan tỏa của nghệ thuật, sự bất
diệt và niềm tin bất tử của tiếng đàn Lor-ca.
choáng” nữa mà nó “long lanh” soi tỏ một con người đã chết cho quê hương, cho
sự hồi sinh của nền dân chủ.
Lorca bơi sang ngang
trên chiếc ghita màu bạc
Chiếc đàn ghi ta đã chở sự sống và linh hồn Lorca vượt qua giới hạn ngắn
ngủi của đời người để đến với cõi vô cùng của cuộc sống. Đó vừa là thực tế, vừa là
niềm tin tuyệt đối của Thanh Thảo vào sự bất tử của Lorca. Dòng tưởng tượng tiếp
tục trào dâng mạnh mẽ về sự sống bất diệt và niềm kiêu hãnh của Lorca. Ném “lá
bùa” vào “xoáy nước” là sẵn sàng đối mặt với hiểm hoạ và định mệnh trong cuộc
đời, hành động làm bật lên tư thế đầy kiêu hãnh. Ném“trái tim” lại là sự dâng hiến
trọn vẹn trong thanh thản và vô tư những rung cảm trong sáng, chân thành và
thiêng liêng nhất của chính mình, hành động làm bật lên sự cao cả của tấm lòng, sự
cao thượng trong tình cảm. Người nghệ sĩ sẵn sàng và tự nguyện dâng trọn tâm
hồn mình cho cuộc đời để ra đi trong yên lặng.
Hai hình tượng trữ tình này hài hoà, gắn kết với nhau để làm nổi bất chủ đề
tư tưởng của tác phẩm và hệ thống những biểu tượng nghệ thuật trong bài thơ đã
giúp tác giả đặc biệt thành công trong việc thể hiện chủ đề tư tưởng ấy.
Như vậy, một văn bản thơ thường chứa đựng những yếu tố then chốt (nhan
đề, lời đề từ, hình ảnh,hình tượng… ) nên khi hướng dẫn học sinh tiếp cận tác
phẩm, nếu người giáo viên xác định đúng những yếu tố then chốt và xoáy sâu vào
các yếu tố đó thì trọng tâm vấn đề sẽ trở nên nổi bật, nội dung bài học cũng được
làm rõ, không tràn lan. Nếu chỉ phân tích chung chung, dàn trải, không thể hiện
được nốt nhấn đậm nhạt thì khó mang lại hiệu quả trong một giờ đọc hiểu văn bản
thơ. Chính vì thế, áp dụng hướng tiếp cận như trên tôi thấy kết quả thu được rất
khả quan học sinh dễ dàng tiếp thu và khắc sâu kiến thức của bài học.
SKKN: Nguyễn Thị Liên
- Trang 14 -
cho lời thơ.
Trong sáng tạo nghệ thuật, ta thường nghe nói: “Thi trung hữu họa - họa
trung hữu thi” (trong thơ có họa - trong họa có thơ)… Đây là sự dung hòa trong
hai loại hình nghệ thuật trong cùng một tác phẩm. Quang Dũng đã tả lại sự vật
bằng cảm nhận thi - họa như vậy. Và khi họa sĩ vẽ tranh và khi thi sĩ làm thơ thì
hình ảnh trong tác phẩm có một phần tình cảm của người nghệ sĩ.
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống.
SKKN: Nguyễn Thị Liên
- Trang 15 -
MỘT VÀI HƯỚNG TIẾP CẬN ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN THƠ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
Chỉ bằng bốn câu thơ, Quang Dũng đã vẽ ra một bức tranh hoành tráng diễn
tả rất đạt sự hiểm trở và dữ dội, hoang vu và heo hút núi rừng Tây Bắc, qua những
từ đầy giá trị tạo hình khúc khuỷu, thăm thẳm… Hình ảnh “Súng ngửi trời” là hình
ảnh nhân hoá diễn tả được độ cao của núi rừng, đồng thời khắc hoạ tư thế tầm vóc
của người lính trước thiên nhiên ấy:Trên đỉnh non cao mây trắng, những người lính
Tây Tiến như đang đi trên mây trời, trèo lên lưng mây, cây súng quàng trên vai
khiến Quang Dũng có cảm giác “Ngửi trời”. Chữ “Ngửi” được coi là nhãn tự của
câu thơ, vừa biểu hiện khát vọng vươn tới mạnh mẽ, vừa bộc lộ tư thế ngang tàng
kiêu hùng và đời sống tâm hồn tinh nghịch hào hoa, lãng mạn của người lính Tây
Tiến. Câu thơ thứ ba như bẻ đôi, diễn tả dốc núi vút lên, đổ xuống gần như thẳng
đứng, nhìn lên cao chót vót, nhìn xuống sâu thăm thẳm.
của cái hay, cái đẹp đó.
Khi dạy bài thơ Đất nước” (trích trường ca Mặt đường khát vọng của
Nguyễn Khoa Điềm)
Giáo viên có thể sử dụng những câu hỏi:
+ Em hãy phát hiện trong bài thơ từ nào được lặp đi lặp lại nhiều lần ?
+Từ Đất Nước được viết hoa một cách trang trọng ở mỗi dòng thơ và được lặp lại
nhiều lần có gì đặc sắc?
Đất Nước được viết hoa trang trọng và đi vào các dòng thơ với phép lặp như
một điểm nhấn nghệ thuật lung linh. Từ Đất Nước được lặp lại như một lời khẳng
định, để mô tả, phân tích và giãi bày về Đất nước. Đất Nước không phải là những
gì trìu tượng, xa lạ mà bắt nguồn từ những hình ảnh gần gũi, thân thiết, bình dị
nhất trong đời sống vật chất và đời sống tinh thần của con người Việt Nam :
"Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa..”
mẹ thường hay kể
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
.....Đất Nước có từ ngày đó
+ Đất Nước gắn với những câu chuyện cổ tích mẹ kể “Đất Nước có trong
những cái ''ngày xửa ngày xưa … “mẹ thường hay kể”cụm từ " ngày xửa ngày
xưa" là một cách nói không xác định thời gian bởi thời gian mang sắc màu huyền
thoại ,cổ tích xa xưa. Nguyễn Khoa Điềm đã vận dụng một cách tài hoa, sáng tạo
từ cái nhịp điệu đò đưa ngàn đời của lời ca, lời kể bên cánh võng. Vừa gợi lên cái
xa xăm của chiều dài lịch sử, vừa gần gũi thân quen trong kí ức và đời sống của
mỗi người. Bởi ai cũng lớn lên từ một vành nôi với lời kể, lời ru trầm bổng ngân
nga của bà, của mẹ.
SKKN: Nguyễn Thị Liên
- Trang 17 -
- Trang 18 -
MỘT VÀI HƯỚNG TIẾP CẬN ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN THƠ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
cội nguồn, với truyền thuyết Thánh Gióng, hình ảnh cậu bé vươn vai thành tráng
sĩ, oai phong lẫm liệt, nhổ tre đánh đuổi giặc Ân ra khỏi bờ cõi. Nhưng điều sâu
sắc hơn có lẽ là, nhà thơ đã khái quát được sự "lớn lên" của đất nước, luôn gắn liền
với quá trình đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta, đó là trang sử vinh quang
nhưng cũng đầy máu và nước mắt của biết bao thế hệ con dân nước Việt đã ngã
xuống.
Truyền thuyết Thánh Gióng
+ Đất Nước gắn liền với cuộc sống lao động vất vả; trong tình cảm sâu nặng
của cha mẹ: " Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn…Hạt gạo phải một
nắng hai sương xay, giã, giần, sàng" .Tác giả đã lấy độ cay của gừng và độ mặn
của muối để nói lên tình nghĩa thủy chung của cha mẹ. Người Việt Nam ta là thế
đó, tình nghĩa con người cần phải trải qua gian nan, thử thách thì mới đậm đà, gắn
bó sắt son thủy chung hơn. Chỉ bằng một câu thành ngữ "gừng cay muối mặn" gợi
nhớ tới những câu ca dao:
“Muối ba năm muối đương còn mặn
Gừng chín tháng gừng hãy còn cay
Đôi ta nghĩa nặng tình dày
Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu nghìn ngày mới xa”
Hay:
“Tay bưng đĩa muối chén gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”
SKKN: Nguyễn Thị Liên
- “Gì sâu bằng những trưa thương nhớ.
Hiu quạnh bên trong một tiếng hò !”
- “Gì sâu bằng những trưa hiu quạnh
Ôi ruộng đồng quê thương nhớ ai !”
SKKN: Nguyễn Thị Liên
- Trang 20 -
MỘT VÀI HƯỚNG TIẾP CẬN ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN THƠ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Trong bài thơ mỗi cặp câu được lặp lại hai lần, xen kẽ nhau. Việc lặp kết cấu
lại như vậy tạo được hiệu quả nghệ thuật cao, tác dụng như một điệp khúc, nhấn
mạnh tô đậm cảm xúc của cả bài thơ. Như vậy, học sinh sẽ cảm nhận được tình
cảm sâu sắc của tác giả đối với quê hương. Qua bài thơ, học sinh sẽ được bồi
dưỡng thêm tình cảm đối với quê hương đất nước.
Một số bài thơ khác trong chương trình Ngữ văn ở trường Trung học phổ
thông hoặc các bài thơ tham khảo ngoài chương trình học cũng thấy xuất hiện
những phép điệp này.
Vì vậy, trong quá trình dạy – học, người giáo viên khai thác, cảm nhận văn
bản thơ cần phải chú ý đến hiệu quả của các thủ pháp nghệ thuật nêu trên. Trong
quá trình giảng dạy tôi thường xuyên gợi ý cho các em bằng những câu hỏi gợi mở,
phát hiện thủ pháp lặp từ, lặp kết cấu ở trong bài thơ hay trong đoạn thơ như trên
các em đều phát hiện rất nhanh.Tuy nhiên việc định hướng, gợi mở cũng phải tôn
trọng những tìm tòi sáng tạo của học sinh là cách thức hữu hiệu nhất tạo ra cho các
em niềm say mê với thế giới văn chương phong phú, nhiều màu sắc.
5. Khai thác các yếu tố mang tính đối lập:
“Thơ nghĩ bằng hình ảnh”- Chế Lan Viên. Thế giới hình ảnh trong thơ vô
cùng đặc sắc. Nó vận động và biến đổi cùng với sự vận động và biến đổi của cái tôi
trữ tình, để tạo nên các hình ảnh thơ độc đáo. Chính vì thế, nhiều nhà thơ đã tận
cặp đối lập mở ra trước mắt ta một không gian mênh mông và sống động:
Dữ dội >< dịu êm
Ồn ào >< lặng lẽ
Sóng được thể hiện với những trạng thái thật trái ngược. Đây là những biểu
hiện thường thấy của những con sóng ngoài biển khơi: lúc biển động phong ba,
sóng dữ dội, ồn ào; khi trời yên biển lặng, sóng dịu êm, lặng lẽ. Đó là trạng thái
không yên định của đại dương. Những đối cực ấy đôi khi có thể dự báo trước được
nhưng nhiều lúc cũng khó đoán, thất thường và hết sức bất ngờ. Mượn hình tượng
con sóng, người phụ nữ đang yêu trong bài thơ đang tự nhận thức về những biến
động trong lòng mình, không hề giấu giếm những trạng thái tình cảm phức tạp của
mình: lúc giận dữ, hờn ghen, khi dịu hiền, sâu lắng ,có những lúc yêu cuồng nhiệt,
cháy bỏng nhưng cũng có lúc lại lặng lẽ, suy tư mơ màng đi vào chiều sâu của tâm
hồn với những nhớ mong, chờ đợi. Xuân Quỳnh tìm ra nét tương đồng giữa sóng
biển với sóng tình. Những biến động phức tạp tinh tế trong lòng người con gái
đang yêu. Tình yêu là vậy, nó vốn mang trong lòng nhiều đối cực, mâu thuẫn,
nhưng đó là những mâu thuẫn trong thống nhất của một trái tim yêu chân thành,
mãnh liệt.
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể
Bằng biệp pháp tương phản sóng đã từ bỏ cái chật hẹp của "sông" để tìm đến
đại dương mênh mông mà vẫy vùng, vươn tới "tận bể”. Bởi vì giữa biển lớn sóng
mới nhận thấy sức mạnh khao khát của chính mình. Cũng như sóng khi yêu nhau
trái tim người con gái không chấp nhận sự nhỏ nhen, ích kỉ, tầm thường mà luôn
vươn tới cái lớn lao cao cả, đến những tâm hồn đồng cảm đồng điệu với mình để
hiểu tận cùng nhịp đập của trái tim mình. Hành trình của sóng từ sông tìm ra bể
cũng là hành trình của con người tìm kiếm, Khát khao vươn tới một tình yêu đích
thực.
Hay một ví dụ khác: khi giáo viên dạy bài Vội vàng của Xuân Diệu trong
những câu thơ sau:
“Xuân đang tới, nghĩa là xuân đương qua,
nước nhớ nguồn”. Khát vọng của tuổi trẻ ngày nay.
Em ơi Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời…
(Đất Nước – Trích Mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm)
SKKN: Nguyễn Thị Liên
- Trang 24 -
MỘT VÀI HƯỚNG TIẾP CẬN ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN THƠ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Giáo viên có thể đặt câu hỏi:
- Ở những câu thơ trên em thấy Nguyễn Khoa Điềm muốn đưa ra một thông điệp
gì cho tuổi trẻ?
- Hoặc có thể hỏi theo cách khác: Từ bốn câu thơ trên em hãy cho biết về trách
nhiệm của thế hệ thanh niên hiện nay với đất nước?
Thông điệp mà Nguyễn Khoa Điềm muốn đưa ra với tuổi trẻ qua 4 câu thơ:
Cần có một nhận thức đúng đắn về đất nước: “Đất nước là máu xương của mình”,
đất nước không ở đâu xa mà ở trong căn nhà, trong hạt gạo ta ăn hàng ngày, trong
môi trường học tập, sinh hoạt…, đất nước gần gũi, thân thuộc, ở quanh ta, ở trong
ta, là một phần trong mỗi chúng ta. Vì thế mà tuổi trẻ ngày nay cần có trách nhiệm
với đất nước: “gắn bó và san sẻ” “hóa thân cho dáng hình xứ sở” …biết hi sinh,
biết chung sức gánh vác nhiệm vụ chung trong công cuộc xây dựng đất nước; sẵn
sàng cống hiến trí tuệ, tài năng để đưa đất nước đi lên.
Đến bây giờ thông điệp của tác giả Nguyễn Khoa Điềm vẫn còn nguyên giá
trị trong thời đại đất nước không còn giặc ngoại xâm, thời đại xây dựng nhận thức
đúng đắn của thế hệ thanh niên về đất nước, về vai trò và trách nhiệm của tuổi trẻ
đối với đất nước. Làm thế nào để phát huy được tinh thần trách nhiệm đối với đất