Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tới phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh bình dương - Pdf 32

1
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm vừa qua, FDI đã đóng góp một phần quan trọng vào
việc phát triển kinh tế - xã hội nh: các dự án FDI góp phần tăng thu ngân sách,
cải thiện cán cân thanh toán và cán cân vãng lai của quốc gia, là nguồn vốn bổ
sung quan trọng cho công cuộc phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hớng hiện đại, nâng cao trình độ kỹ thuật và công nghệ, phát triển kinh tế
thị trờng ở Việt Nam, đa nền kinh tế Việt Nam, hội nhập với nền kinh tế thế
giới, giải quyết công ăn việc làm, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao mức sống
cho ngời lao động,...
Tuy nhiên trong thời gian gần đây, báo chí và một số phơng tiện thông
tin đại chúng ở nớc ta đã nêu nhiều mặt trái của hoạt động đầu t trực tiếp nớc
ngoài. Một số ý kiến cho rằng: nguồn vốn FDI trong những năm qua đã tập
trung chủ yếu vào đầu t xây dựng, khách sạn, du lịch và những ngành công
nghiệp sử dụng nhiều lao động, cha có tỷ lệ thích đáng cho các ngành công
nghệ cao và nông nghiệp. FDI đa vào Việt Nam nhiều máy móc, thiết bị lạc
hậu đã qua sử dụng. Các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài đã xảy ra một
số tranh chấp lao động mà biểu hiện là tình trạng ngợc đãi công nhân, vi phạm
nhân phẩm ngời lao động, cờng độ làm việc quá căng thẳng... đã dẫn đến các
cuộc đình công, bãi công. Cán bộ Việt Nam trong các doanh nghiệp có vốn
đầu t nớc ngoài luôn ở vị trí thứ yếu. Một số doanh nghiệp có vốn đầu t nớc
ngoài gây ô nhiễm môi trờng nghiêm trọng...
Không thể phủ nhận thành tựu đã đạt của đầu t trực tiếp nớc ngoài vào
Việt Nam trong những năm qua, song nó đã tạo ra một số vấn đề không lành
mạnh và cần khắc phục. Nhận thức đúng mức về những vấn đề nảy sinh để có
phơng hớng chỉ đạo tiếp là cực kỳ quan trọng nếu chúng ta muốn Việt Nam trở
thành nơi thu hút ngày càng nhiều hơn vốn FDI.
Trong tình hình đó, Bình Dơng là một trong số tỉnh thành thu hút vốn
đầu t FDI nhiều nhất cả nớc cũng không tránh khỏi những tác động tích cực và
hạn chế của FDI đến phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Để có căn cứ xây

vấn đề: thu hút và sử dụng hiệu quả FDI ở Việt Nam và các địa phơng, nhng
cha có luận văn, luận án thạc sĩ nào nghiên cứu đến tác động của FDI đến phát
triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Bình Dơng trên góc độ kinh tế chính trị.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn
* Mục tiêu luận văn:
Nghiên cứu tác động FDI đến phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Bình Dơng và trên cơ sở đó đề xuất phơng hớng và giải pháp để phát huy tác động
tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI đến phát triển kinh tế - xã hội ở
tỉnh Bình Dơng trong quá trình hội nhập kinh tế.
* Nhiệm vụ của luận văn:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vị trí, vai trò của FDI đối với phát
triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam nói chung và ở tỉnh Bình Dơng nói riêng.


3
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng tác động của FDI đến phát
triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Bình Dơng chỉ ra những tác động tích cực cần phát
huy và tác động không lành mạnh của FDI cần khắc phục và nên tránh.
Nguyên nhân của những tác động đó.
- Trình bày các phơng hớng và giải pháp phát huy tác động tích cực và
hạn chế những ảnh hởng không lành mạnh của FDI đến phát triển kinh tế - xã
hội ở tỉnh Bình Dơng.
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Đầu t trực tiếp nớc ngoài bao hàm nhiều phơng diện, luận văn này
không nghiên cứu FDI nói chung với tất cả các mặt của nó mà chỉ tập trung
nghiên cứu vấn đề tác động của FDI đến phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Bình
Dơng vì đó là yếu tố quyết định đến việc xây dựng, điều chỉnh chính sách thu
hút FDI và tối đa hoá lợi ích mà FDI mang lại trong quá trình phát triển kinh
tế - xã hội ở tỉnh Bình Dơng.
5. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
- Vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh, quan


1.1.1. Khái niệm FDI và phát triển kinh tế - xã hội
1.1.1.1. Đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI)
FDI (Foreign Direct Invertment) là hình thức đầu t quốc tế mà chủ đầu
t nớc ngoài đóng góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ,
cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành đối tợng mà họ tự bỏ vốn đầu t. Đặc
điểm của hình thức đầu t trực tiếp là: các chủ đầu t nớc ngoài phải đóng góp một
số vốn tối thiểu hoặc tối đa tuỳ thuộc theo quy định chung của Luật đầu t từng nớc. Ví dụ, Luật đầu t của Việt Nam quy định "số vốn đóng góp tối thiểu của phía
nớc ngoài phải bằng 30% vốn pháp định của dự án", hay Luật đầu t của nớc Nam
T trớc đây quy định "phần của bên đối tác nớc ngoài không dới 5% tổng số vốn
đầu t" [51, tr.32-33]. Trong khi đó ở Hàn Quốc luật quy định tối đa bên phía nớc
ngoài góp 40% vốn pháp định. Quyền điều hành doanh nghiệp phụ thuộc độ góp
vốn của chủ đầu t trong vốn pháp định. Nếu góp 100% vốn pháp định thì nhà đầu
t toàn quyền quyết định sự hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đầu t trực
tiếp nớc ngoài đợc thực hiện dới hình thức: đóng góp vốn để xây dựng xí nghiệp
mới, mua lại toàn bộ hoặc từng phần xí nghiệp đang hoạt động, mua cổ phần để
thôn tính hoặc sáp nhập.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài xuất hiện từ thời tiền t bản. Các công ty của
Anh, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha là những công ty đi đầu trong lĩnh
vực này dới hình thức đầu t vốn vào các nớc châu á để khai thác đồn điền và
cùng với ngành khai thác đồn điền là những ngành khai thác khoáng sản nhằm
cung cấp các nguyên liệu cho các ngành công nghiệp ở chính quốc. Khi chủ
nghĩa t bản bớc sang giai đoạn mới thì hoạt động đầu t ra nớc ngoài của các nớc công nghiệp phát triển càng có quy mô to lớn hơn. Trong thế kỷ 19, do quá
trình tích tụ và tập trung t bản tăng lên mạnh mẽ, các nớc công nghiệp phát
triển lúc bấy giờ đã tích luỹ đợc những khoản t bản khổng lồ, đó là tiền đề
quan trọng đầu tiên cho việc xuất khẩu t bản. Theo nhận định của Lênin, trong
tác phẩm "Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa t bản" thì việc
xuất khẩu t bản đã trở thành đặc trng cơ bản của sự phát triển mới nhất về kinh
tế trong thời kỳ "đế quốc chủ nghĩa". Tiền đề của việc xuất khẩu t bản là: t bản


đối với hình thức đầu t trực tiếp không quy định mức đóng góp tối đa của mỗi
chủ đầu t, thậm chí đóng góp vốn càng nhiều thì càng đợc hởng những chính
sách u đãi về thuế của nớc chủ nhà. FDI giúp tiếp thu công nghệ tiên tiến và kinh
nghiệm quản lý kinh doanh của các chủ đầu t nớc ngoài. Nhờ đó FDI cho phép
nớc chủ nhà có điều kiện khai thác tốt nhất những lợi thế của mình về tài nguyên,


7
vị trí, mặt đất, mặt nớc... Sự cạnh tranh, ganh đua giữa các nhà đầu t có vốn trong
nớc và nớc ngoài tạo động lực kích thích sự đổi mới và hoàn thiện trong các nhà
doanh nghiệp và đâu là nhân tố quan trọng đa nền kinh tế phát triển với tốc độ
cao. Các dự án FDI góp phần giải quyết việc làm và nâng cao mức sống của ngời
lao động. Với những u điểm trên FDI giúp cho các nớc tiếp nhận phát triển kinh
tế nhanh hơn tự thân vận động hay đi vay vốn để mua lại kỹ thuật của các nớc
công nghiệp phát triển.
Mặt khác, mức độ "bóc lột" của các nớc t bản còn tuỳ thuộc vào điều
kiện kinh tế chính trị của các nớc tiếp nhận đầu t t bản. Nếu nh trớc đây hoạt
động xuất khẩu t bản của các nớc đế quốc chỉ phải tuân theo pháp luật của
chính họ, thì ngày nay các nớc nhận đầu t đã là các quốc gia độc lập có chủ
quyền, hoạt động đầu t nớc ngoài phải tuân theo pháp luật, sự quản lý của
Chính phủ sở tại và thông lệ quốc tế, nếu các Chính phủ của nớc chủ nhà
không phạm phải những sai lầm của quản lý vĩ mô thì có thể hạn chế đợc
những thiệt hại của hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài.
Bảng 1.1: Lợi thế của doanh nghiệp FDI so với doanh nghiệp nớc
tiếp nhận đầu t [58, tr.36]
Lợi thế
Vốn

Mô tả
Có vốn lớn và chi phí vốn thấp hơn so với các doanh nghiệp

lợc đối với tất cả các quốc gia.
Công cuộc đổi mới của Việt Nam kể từ khi Đại hội VI của Đảng
(12/1986) đề ra đờng lối đổi mới toàn diện đất nớc đến nay đã trải qua gần 20
năm. Một trong những nội dung đổi mới then chốt là chuyển nền kinh tế kế
hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trờng định hớng
XHCN nhằm giải phóng và phát triển lực lợng sản xuất thúc đẩy tăng trởng
kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ công bằng xã hội phù hợp với điều kiện cụ
thể của nớc ta. Kể từ sau Đại hội VI, công cuộc đổi mới toàn diện đất nớc
ngày càng đi vào chiều sâu, đồng thời quan niệm về con đờng phát triển của nớc ta cũng từng bớc đợc định hình ngày càng rõ nét. Đại hội VII của Đảng
(6/1991) lần đầu tiên đã đa ra công thức: "Phát triển nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần theo định hớng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trờng có sự
quản lý của nhà nớc" [14]. Công thức này về sau đợc Đại hội VIII của Đảng
(6/1996) điều chỉnh thành: "Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần,
vận hành theo cơ chế thị trờng, có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng
XHCN" [17]. Tiến lên một bớc, Đại hội IX của Đảng (4/2001) đã điều chỉnh
thành: "Phát triển nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN" và xem đây là mô
hình kinh tế tổng quát của nớc ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Trong mô
hình này, chúng ta sử dụng cơ chế thị trờng với t cách là thành quả của nền
văn minh nhân loại làm phơng tiện để năng động hoá và đẩy nhanh tốc độ
tăng trởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân. Đồng
thời, chúng ta đề cao vai trò quản lý và điều tiết vĩ mô của Nhà nớc đối với
nền kinh tế nhằm thực hiện mục tiêu: "Dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh" [18].
Mô hình kinh tế tổng quát đợc xác định tạo cơ sở rất quan trọng cho sự
hình thành những quan niệm về phát triển kinh tế - xã hội. Nếu liên hệ với ba
trụ cột của phát triển bền vững là "tăng trởng kinh tế nhanh", "xã hội ổn định,
tiến bộ" và "môi trờng trong sạch" thì có thể nhận thấy rằng những chủ trơng
đợc vạch ra trong các nghị quyết quan trọng của Đảng đều hớng tới phát triển
bền vững. Văn kiện Đại hội VI của Đảng khẳng định phải gắn kết chính sách


sự 21 của Việt Nam). Đây là một chiến lợc khung, bao gồm những định hớng lớn
làm cơ sở để các Bộ, các địa phơng, các tổ chức và cá nhân triển khai thực hiện.
Cho đến nay, nhiều nội dung cơ bản về phát triển bền vững đã đi vào đời sống và
dần dần trở thành xu thế phát triển tất yếu của đất nớc. Điều này phần nào cho


10
thấy quan niệm về phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững và chất lợng cao ở
nớc ta từng bớc trở nên sáng rõ hơn.
Công cuộc tổng kết thực tiễn của nớc ta, phân tích kinh nghiệm trên thế
giới và nghiên cứu lý luận bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống luận điểm và đờng lối
phát triển đất nớc vừa có ý nghĩa cơ bản vừa có tính thời sự cấp bách. Cùng
với những cố gắng của Hội đồng lý luận Trung ơng, gần đây một số nhà
nghiên cứu đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này.
Bảng 1.2: Một số tiêu chí chủ yếu đánh giá tốc độ, tính chất bền vững
và chất lợng của sự phát triển kinh tế - xã hội [1, tr.76-77]
Tiêu chí
* Phát triển
- Tốc độ tăng GDP (hay GNP)
- Cơ cấu ngành
- GDP bình quân đầu ngời

ý nghĩa

Mức độ tăng về quy mô của nền kinh tế.
Trình độ phát triển
Phản ánh chất lợng của tăng trởng và
phát triển.
- Năng suất lao động (GDP/LĐ)
Phản ánh chất lợng của tăng trởng và

Những trình bày trên đây đã phần nào thể hiện sự tiến triển về quan
niệm phát triển kinh tế - xã hội tốc độ nhanh, bền vững và chất lợng cao ở Việt
Nam trong thời kỳ 20 năm đổi mới vừa qua.
1.1.2. Quan niệm của Đảng và Nhà nớc về FDI trong phát triển
kinh tế - xã hội
Cho đến nay, quan điểm của Đảng và Nhà nớc Việt Nam về vai trò của
đầu t nớc ngoài nói chung, FDI nói riêng đã có nhiều thay đổi. Những thay đổi


11
này xuất phát từ thực tiễn của nền kinh tế và do thay đổi về bối cảnh kinh tế
trong khu vực và thế giới. Nếu nh trớc năm 2000, các doanh nghiệp FDI cha
đợc coi nh một chủ thể độc lập trong nền kinh tế thì từ Đại hội Đảng lần thứ
IX (năm 2001) trở lại đây, khu vực FDI đã đợc khẳng định là một trong các
thành phần cùng tồn tại trong nền kinh tế.
Đại hội Đảng lần thứ VII (1991) và Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996),
tuy không tách riêng khu vực có vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài thành một
"thành phần kinh tế" trong nền kinh tế nhiều thành phần của Việt Nam, song
đã ghi nhận sự hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà nớc và t bản nớc ngoài,
khẳng định khu vực đầu t nớc ngoài: "có vai trò to lớn trong động viên về vốn,
công nghệ, khả năng tổ chức quản lý..." [17]. Với quan điểm nh vậy, chính
sách đối với khu vực có vốn FDI trong thời kỳ này chủ yếu hớng vào việc
khuyến khích các nhà đầu t liên doanh với các doanh nghiệp nhà nớc của Việt
Nam hoạt động trong nhiều lĩnh vực kinh tế, trừ những lĩnh vực có tầm quan
trọng đặc biệt đối với nền kinh tế quốc dân và an ninh quốc phòng.
Năm 2001, lần đầu tiên khu vực kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài đợc
công nhận là một thành phần kinh tế với vai trò "hớng vào xuất khẩu, xây
dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo
thêm nhiều việc làm..." [18]. Tại Hội nghị Trung ơng Đảng lần thứ 9 (khoá
IX), Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra nhiệm vụ "phải tạo chuyển biến cơ bản

t trực tiếp nớc ngoài và tín dụng quốc tế chủ yếu thực hiện qua thu hút vốn
ODA. 18 năm qua kể từ khi Luật Đầu t nớc ngoài ra đời ở Việt Nam (12/1987
- 12/2005) hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài đã có sự đóng góp to lớn cho sự
phát triển kinh tế - xã hội thể hiện qua các mặt:
Thứ nhất, FDI là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho công cuộc phát
triển kinh tế:
Vốn FDI có bớc chuyển tích cực, tổng mức vốn đăng ký đạt
20,9 tỷ USD. Vợt trên 39% so với kế hoạch; tổng vốn thực hiện 14,3
tỷ USD, vợt 30% so với kế hoạch và tăng 13,6% so với 5 năm trớc.
Năm 2005, các doanh nghiệp FDI đóng góp 15,9% GDP, chiếm
31,2% tổng kim ngạch xuất khẩu (chiếm khoảng 50% nếu tính cả
dầu khí), đóng góp gần 10% tổng thu ngân sách nhà nớc (tính cả dầu
khí thì trên 36%), tạo việc làm cho khoảng 1 triệu lao động trực tiếp
và hàng triệu lao động gián tiếp [20, tr.152-153].
Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới với xuất phát điểm rất thấp. Do
vậy, xét về nhu cầu vốn, FDI đợc coi là một nguồn vốn bổ sung quan trọng
cho vốn đầu t trong nớc, nhằm đáp ứng nhu cầu đầu t cho phát triển. Đóng góp
của FDI trong đầu t xã hội biến động lớn, một phần phản ánh diễn biến thất
thờng của nguồn vốn này, một phần thể hiện những thay đổi về đầu t của các
thành phần kinh tế trong nớc. Giai đoạn 1994-1995, tỷ trọng của FDI trong
tổng đầu t xã hội lên tới 30-31%, là mức cao nhất cho đến nay. Tỷ lệ này đã
giảm dần và năm 2004, FDI thực hiện ớc còn chiếm 15,5% trong tổng đầu t
toàn xã hội (xem sơ đồ 1.1).
Tính đến ngày 20 tháng 3 năm 2004, Chính phủ Việt Nam đã cấp
giấy phép cho 5.400 dự án đầu t nớc ngoài. Trừ các dự án hết thời hạn hoạt
động hoặc bị giải thể trớc thời hạn, hiện còn 4.376 dự án còn hiệu lực với
tổng số vốn đăng ký là 41 tỷ USD. Nguồn vốn đầu t này, tạo ra lực phát
triển mạnh mẽ cho nền kinh tế: Các dự án đầu t nớc ngoài hiện chiếm 35%




91

92

93

94

95

96

97

Tỷ trọng trong 1,0
GDP (%)

1,5

2,0

3,6

6,1

6,3

7,4


92

93

94

95

96

52

112

260

352

336

788

1.790 1.982 2.547 3.300 3.670 4.500 5.900 8.600

49,1

533

34,3



Thứ ba, các dự án đầu t trực tiếp nớc ngoài góp phần chuyển dịch cơ
cấu kinh tế Việt Nam theo hớng CNH, HĐH. ở những năm 1988-1995 đầu t
nớc ngoài chủ yếu thực hiện trong các ngành bất động sản: Xây dựng khách
sạn, khu nghỉ mát, khu chế xuất, văn phòng cho thuê... thì thời kỳ 1996-2003
đầu t trực tiếp nớc ngoài thực hiện nhiều hơn vào các ngành sản xuất công
nghiệp và dịch vụ: chiếm 53% vốn đăng ký và 73% vốn thực hiện, các dự án
đầu t vào dịch vụ bu chính viễn thông, dịch vụ kỹ thuật tăng 1,4 lần ở thời kỳ
này [24]. Hiện đầu t nớc ngoài chiếm gần 38% sản lợng công nghiệp của Việt
Nam với tốc độ tăng trởng hàng năm trên 20%. Đầu t nớc ngoài có vai trò


16
quan trọng trong việc hình thành các khu chế xuất và khu công nghiệp ở Việt
Nam.
Thứ t, các dự án đầu t nớc ngoài đóng góp quan trọng trong nâng cao
trình độ kỹ thuật và công nghệ của Việt Nam. Thông qua các dự án đầu t
FDI nhiều công nghệ mới, hiện đại đã đa vào sử dụng ở Việt Nam trong các
ngành tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí, ngành b u chính viễn thông,
sản xuất vi mạch điện tử, sản xuất máy tính, hoá chất, sản xuất ô tô, thiết kế
phần mềm... Những dự án này đóng góp đáng kể để tăng khả năng cạnh
tranh của công nghệ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
(xem bảng 1.5).
Bảng 1.5: Mức độ hiện đại của máy móc thiết bị sử dụng trong các khu vực
kinh tế trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh so với tiêu chuẩn quốc tế
(năm 1999) [51, tr.29]
Khu vực
Công cộng
Các công ty Trung ơng
Các công ty địa phơng

trung bình (so
với những thiết
bị hiện đại nhất)
(obsolete)
35,5
28,8
39,5
66
50
73,6
0,0

Ngoài ra, sự sử dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại ở các dự án FDI,
cũng tạo ra sự kích thích các doanh nghiệp nội địa phải đầu t đổi mới công
nghệ để tạo đợc những sản phẩm có khả năng cạnh tranh với sản phẩm của
các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài trên thị trờng nội địa và xuất
khẩu.
Các mô hình quản lý và các phơng thức kinh doanh hiện đại của các
doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam đổi
mới t duy quản lý kinh doanh và công nghệ để tăng khả năng cạnh tranh.
Thứ năm, các dự án có vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài góp phần thúc đẩy
sự phát triển kinh tế thị trờng ở Việt Nam, đa nền kinh tế Việt Nam hội nhập
nhanh với nền kinh tế thế giới. Cho đến hết năm 2003 đã có 74 quốc gia và


17
lãnh thổ có dự án đầu t vào Việt Nam, trong đó có trên 80 công ty xuyên quốc
gia nằm trong 500 công ty xuyên quốc gia hàng đầu thế giới, chính những dự
án này có tác động không nhỏ tới thay đổi cơ chế chính sách quản lý kinh tế
Việt Nam theo hớng hội nhập quốc tế chúng tác động đến xoá bỏ sự bao vây,


98

99

2000 2001 2002 2003 2004

200

220

250

279

296

349

450

590

665

739

Tóm lại, khu vực đầu t trực tiếp nớc ngoài đóng vai trò quan trọng đối
với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, cho nên Chính phủ cần quan
tâm đến hoàn thiện môi trờng đầu t để tăng tính hấp dẫn trong thu hút vốn đầu

Nam, đó là:
1.2.2.1. Về phía Việt Nam
Thứ nhất, môi trờng đầu t của Việt Nam còn nhiều hạn chế. Đó là về
các lĩnh vực nh: luật pháp, cơ chế chính sách, cơ sở hạ tầng, buôn lậu, hàng
giả, hàng nhái, hệ thống công nghiệp hỗ trợ...
Về pháp luật, cơ chế chính sách, mặc dù trong những năm qua luật đầu
t nớc ngoài của Việt Nam đã đợc sửa đổi nhiều theo hớng ngày thông thoáng,
thuận lợi cho đầu t nớc ngoài nhng không ít nhà đầu t vẫn còn băn khoăn, than
phiền về tình trạng thiếu tính hệ thống, ổn định, minh bạch và khả thi của luật


19
pháp. Bộ máy hành chính - tổ chức quản lý của ta còn rờm rà, nhiều khi chồng
chéo nhau. Trong khi đó, sự hợp tác giữa các bộ, ngành, địa phơng còn kém
hiệu quả, thủ tục đầu t, đặc biệt là thủ tục triển khai dự án vẫn còn phức tạp.
Nhiều chuyên gia về đầu t nớc ngoài vẫn cha hài lòng về môi trờng đầu t nớc
ngoài của Việt Nam. Theo điều tra của tổ chức xúc tiến thơng mại Nhật Bản
năm 2003 thì 42% doanh nghiệp Nhật Bản đợc hỏi đều trả lời rằng, khó khăn
nhất của họ tại Việt Nam là thủ tục hành chính, trong khi đó con số này ở Thái
Lan là 12%, Inđônêxia là 22% [25].
Cơ sở hạ tầng (đờng sá, cầu cống...) còn yếu kém, ô nhiễm môi trờng
(do bụi, khói xe, nớc thải, rác công nghiệp...). Tình trạng tắc đờng giao thông;
nhà ở cho công nhân còn thiếu thốn và trở thành vấn đề bức xúc hiện nay, nhất
là ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dơng - những nơi thu hút nhiều dự
án đầu t mà công nhân phần lớn từ tỉnh ngoài về làm việc, không có nhà ở...
đang gây trở ngại trong việc thu hút và triển khai các dự án đầu t nớc ngoài
vào Việt Nam.
Hệ thống công nghiệp hỗ trợ của ta còn yếu, làm cho chi phí kinh
doanh cao. Đây là một trong những nguyên nhân làm kém sức hấp dẫn thu hút
đầu t nớc ngoài vào nớc ta. Nạn buôn lậu, hàng hoá, hàng nhái ở nớc ta còn

Việt Nam trong việc thu hút vốn đầu t nớc ngoài. Trong cuộc cạnh tranh gay
gắt này, Trung Quốc, nhiều nớc thành viên ASEAN một mặt có những thế
mạnh tơng tự nh nớc ta (lao động dồi dào với giá nhân công rẻ, tài nguyên
phong phú...), mặt khác, có u thế hơn hẳn ta (về cơ sở hạ tầng, công nghiệp hỗ
trợ, kinh nghiệm trong việc quảng bá, kêu gọi đầu t).
Thứ năm, tình trạng mất đất nông nghiệp diễn ra nhanh chóng cùng với
quá trình đẩy mạnh xây dựng các dự án đầu t nói chung và đầu t nớc ngoài nói
riêng. Để thu hút đầu t, nhiều vùng đất nông nghiệp trồng lúa tốt, thuận tiện
giao thông đợc phép san lấp để xây dựng các nhà máy, xí nghiệp. Hậu quả của
điều này là đất nông nghiệp bị giảm nghiêm trọng, nhất là những vùng đất
màu mỡ, có nguy cơ đe doạ đến an ninh lơng thực của đất nớc và một bộ phận
lớn nông dân bị mất việc làm, phát sinh nhiều hiện tợng tiêu cực xã hội.
Thứ sáu, việc quảng bá, giới thiệu về môi trờng, tiềm năng đầu t của
Việt Nam với nớc ngoài. Đây là một công việc rất cần thiết để các doanh
nghiệp nớc ngoài hiểu về tiềm năng, môi trờng đầu t của nớc ta từ đó có thể
thu hút đầu t từ họ nhng vấn đề này trong thời gian qua cha đợc chúng ta chú ý
đúng mức làm giảm đi phần nào sức hấp dẫn của Việt Nam đối với các nhà
đầu t nớc ngoài. Ông Oliver Schnakenberg - Tham tán Đại sứ quán Đức tại
Việt Nam nói: Với sự thiếu hụt này, Việt Nam đã đánh mất cơ hội tự giới thiệu
mình với các nhà đầu t.
1.2.2.2. Về phía các nhà đầu t vào Việt Nam


21
Thứ nhất, hiệu quả của hoạt động đầu t cha cao. Thể hiện trớc hết của
điều này là vẫn còn khá phổ biến hiện tợng rút giấy phép, huỷ bỏ hợp đồng
đầu t, kinh doanh thua lỗ. Tình trạng rút giấy phép còn khá phổ biến. Trong ba
năm 1988-1990, số dự án FDI bị rút giấy phép bình quân 2 dự án/ năm; giai
đoạn 1991-1995, con số này tăng lên bình quân 47 dự án/ năm; giai đoạn
1996-2000 là 80 dự án/năm; giai đoạn 2001-2002 tăng lên đến 95 dự án/ năm.

nghiệp, công ty có vốn đầu t nớc ngoài, nh công ty của Hàn Quốc, Đài Loan...
Nguyên nhân của tình hình này có thể do hai bên cha hiểu về phong tục tập
quán, ngôn ngữ... của nhau hoặc do một số chủ đầu t cha giải quyết tốt chế độ
cho ngời lao động Việt Nam [25].
1.2.2.3. Về an ninh kinh tế
Đứng trên góc độ an ninh kinh tế, chúng ta thấy xuất hiện những vấn đề
cần đợc quan tâm khi tiếp nhận FDI vào Việt Nam.
Thứ nhất, về công nghệ thiết bị và giá thành. Mặc dù công nghệ nhập
không còn là bí quyết nhng nhiều chủ đầu t nớc ngoài khi đàm phán vẫn ép
buộc bên Việt Nam phải chấp nhận hợp đồng chuyển giao công nghệ và đi
kèm theo đó là phí chuyển giao công nghệ (chiếm 2-5% doanh thu dự án trong
thời gian 5-7 năm), có dự án bên nớc ngoài đòi hởng tới 8% tiền bán sản phẩm
trong thời hạn 20 - 30 năm. Khoảng 10% dự án đầu t (qua kiểm tra) có công
nghệ lạc hậu hoặc quá lạc hậu. Nguy hiểm hơn là có dự án sản xuất thuốc trừ
sâu cực kỳ độc hại, nhiều nớc đã có luật cấm sản xuất ta lại nhập về và triển
khai ở nhiều địa phơng nh công nghệ tạo bột ABS từ Alkysbenzen là chất dễ
gây bệnh ung th, ở nớc ta đã có quy định cấm từ lâu song họ vẫn nhập vào.
Điểm quan trọng là do khâu giám định thiết bị và công nghệ nhập khẩu
của ta còn yếu kém nên đã để xảy ra tình trạng đối tác nớc ngoài nâng giá
thiết bị, nhập vào thiết bị cũ do các nớc phát triển thải loại. Kết quả giám định
thí điểm 14 dự án liên doanh do công ty giám định quốc tế SGS (Thuỵ Sĩ) cho
biết: có tới 8 liên doanh, chủ đầu t đã báo cáo giá thiết bị nhập khẩu cao hơn
10-20% so với giá giám định. Điều này gây ra nhiều thiệt hại cho nhà nớc
Việt Nam cũng nh cho đối tác Việt Nam tham gia liên doanh [57].
Thứ hai, về tình trạng lừa đảo và trốn lậu thuế. Theo thống kê trong 3
năm 1993-1995 đã có 66 vụ tội phạm kinh tế trong lĩnh vực đầu t nớc ngoài
làm thiệt hại 8.616 triệu USD và 11,636 tỷ VNĐ trong đó tội phạm lừa đảo
chiếm đoạt tài sản của công ty liên doanh. xảy ra phổ biến và nghiêm trọng
nhất (chiếm 86% số vụ và 75% số tài sản thiệt hại).
Loại tội phạm thứ hai thờng xảy ra ở các công ty liên doanh là kinh

quanh vấn đề tiền lơng, tiền thởng. Một số ít vụ phản ứng xảy ra do nguyên
nhân ngời lao động bị đối xử thô bạo, bị xúc phạm nhân phẩm, danh dự...
Nhìn chung, trong các xí nghiệp có vốn đầu t FDI mới có khoảng 30%
xí nghiệp ký hợp đồng với ngời lao động nhng phần lớn nội dung còn sơ sài
hoặc cha phù hợp với quy chế ban hành. Hoạt động của các tổ chức Đảng,
Công đoàn, Đoàn thanh niên cha đợc chú trọng đúng mức. Tình trạng khá phổ
biến là chủ đầu t nớc ngoài thực hiện không nghiêm túc quy định về "mức lơng tối thiểu" cố tình vận dụng sai để làm giảm tiền lơng công nhân. Đây là
nguyên nhân chủ yếu gây ra tranh chấp lao động ở những năm gần đây. Bản
chất của nhà t bản là tìm kiếm lợi nhuận "càng nhiều càng tốt". Sự bóc lột sức
lao động của ngời làm thuê ngày nay không trắng trợn nh những thập kỷ đầu


24
thế kỷ XX mà nó tinh vi hơn, khôn khéo hơn bởi vì "nhân quyền" ngày nay là
một vấn đề quốc tế.
1.3. Kinh nghiệm của một số tỉnh, thành phố trong việc
khai thác FDI để phát triển kinh tế - xã hội

1.3.1. Kinh nghiệm khai thác FDI của Thành phố Hồ Chí Minh
Năm 1988 đến năm 2003 hoạt động FDI ở Thành phố Hồ Chí Minh đã
trải qua 4 trạng thái khác nhau:
Từ năm 1988 đến 1990 là 3 năm khởi đầu FDI cha có tác dụng rõ rệt
đến tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Cả ba năm
cộng lại chỉ có 0,67 tỷ USD vốn đăng ký còn vốn thực hiện gần 0,5 tỷ USD.
Từ năm 1991 đến 1997 là thời kỳ tăng trởng nhanh và góp phần ngày càng
quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội. Trong giai đoạn
này đã thu hút gần 10 tỷ USD vốn đăng ký và trên 4 tỷ USD vốn thực hiện. Từ
năm 1998 đến năm 2000 là thời kỳ suy thoái của FDI, vốn đăng ký bắt đầu
giảm từ 1998 và giảm mạnh trong hai năm tiếp theo. Năm 1998 vốn đăng ký
là 0,7 tỷ USD, thì năm 1999 chỉ bằng 71% còn 0,5 tỷ USD, năm 2000 hạ 0,2

cũng đã có tác động tiêu cực đến một số mặt kinh tế - xã hội ở Thành phố Hồ
Chí Minh nh sau:
- Một là, hiệu quả kinh tế thu đợc từ FDI còn thấp. Tuy có những đóng
góp tích cực cho sự phát triển kinh tế tại thành phố Hồ Chí Minh, nhng trên thực
tế 19 năm qua cho thấy mức lợi nhuận thu đợc từ khu vực FDI còn thấp, thậm chí
một số doanh nghiệp còn bị thua lỗ, nhất là các doanh nghiệp liên doanh.
Theo số liệu của Cục Thống kê và Sở Kế hoạch Đầu t Thành phố Hồ
Chí Minh tính đến 31/12/2002 có 195 số dự án đầu t theo hình thức liên
doanh, rút giấy phép đầu t trên tổng số 291 dự án đầu t có giấy phép, chiếm tỷ
lệ 67%. Cũng nh phân tích ở phần trên hình thức liên doanh là hình thức đầu t
phổ biến nhất vì nó giúp cho các bên đối tác đạt đợc mục tiêu của mình đặc
biệt đối với phía nớc ngoài, vì họ muốn tranh thủ các mối quan hệ ở Việt Nam
trong thời gian đầu để làm quen với môi trờng đầu t, đồng thời chia sẻ rủi ro
với các đối tác đầu t tại thành phố Hồ Chí Minh, để tiếp cận và chiếm lĩnh thị
trờng nội địa, với hình thức này họ dễ thích nghi với phong tục tập quán của
môi trờng đầu t mới thông qua đối tác tại địa phơng. Hình thức này cũng đáp ứng
nhu cầu của địa phơng nhằm sử dụng hiệu quả hơn thiết bị, máy móc, nhà xởng,
tiếp thu trình độ kỹ thuật quản lý tiên tiến, giao thơng với thị trờng thế giới. Nói
cách khác, đây là hình thức giúp tạo ra nhân tố để thực hiện sự hoà nhập tốt nhất
cho các bên đối tác. Thế nhng, sau một thời gian hoạt động các dự án bị lỗ ngày
càng tăng. Đặc biệt trong những năm 96, 97 sự thua lỗ của các liên doanh mà các
đối tác là các công ty xuyên quốc gia hùng mạnh nh liên doanh Côcacôla thực
sự trở thành vấn đề cần giải quyết.
Mục tiêu hớng về xuất khẩu khi thu hút vốn FDI trong những năm gần
đây mặc dù kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI ở Thành phố Hồ Chí Minh


Trích đoạn Nguyên nhân dẫn đến tác động tích cực của FDI trong thời gian qua ở Bình Dơng Nguyên nhân của những tác động làm hạn chế phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh Bình Dơng Những giải pháp để nâng cao tác động tích cực của FDI vào tỉnh Bình Dơng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status