Tìm hiểu về Các công cụ chính sách tiền tệ của Ngân Hàng Trung Ương - Pdf 32

Lời mở đầu
Kinh tế thị trường về thực chất là nền kinh tế có mối quan hệ mật thiết hay có thể
gọi đó là nền kinh tế tiền tệ. Trong đó, chính sách tiền tệ luôn giữ một vai trò quan
trọng, đó là một trong những công cụ quản lỳ kinh tế vĩ mô quan trọng nhất của
nhà nước bên cạnh chính sách tài khóa, chính sách thu nhập, chính sách kinh tế đối
ngoại.
Như chúng ta đã biết, Ngân hàng trung ương là một cơ quan thuộc bộ máy nhà
nước, được độc quyền phát hành giấy bạc và thực hiện chức năng quản lý nhà nước
về hoạt động tiền tệ, tín dụng và ngân hàng, vơí mục tiêu cơ bản là ổn định giá trị
đồng tiền, duy trì sự ổn định trong hoạt động của hệ thống Ngân hàng. Do đặc thù
như vậy, nên Ngân Hàng Trung Ương nắm giữ một trong những công cụ quan
trọng nhất để quản lí nền kinh tế vĩ mô, đó là chính sách tiền tệ. Ngân Hàng Trung
Ương sử dụng chính sách tiền tệ nhằm gây ra sự mở rộng hay thắt chặt lại trong
việc cung ứng tiền tệ,để ổn định giá trị đồng bản tệ, đưa sản lượng và việc làm của
quốc gia đến mức mong muốn. Chính sách tiền tệ là hoạt động cơ bản, chủ yếu
nhất của Ngân Hàng Trung Ương,các hoạt động khác của Ngân Hàng Trung Ương
đều nhằm thực thi chính sách tiền tệ thật tốt, để đạt được các mục tiêu đã đề ra. Đối
với những nước đang phát triển như Việt Nam hiện nay, việc sử dụng chính sách
tiền tệ một cách có hiệu quả là vô cùng quan trọng và hoạt động này có tầm ảnh
hưởng rất lớn đến con đường phát triển kinh tế của nước ta. Vậy, việc nghiên cứu
chính sách tiền tệ và các công cụ chủ yếu của chính sách này trong giai đoạn hiện
nay là rất cần thiết, đó cũng là lí do em lựa chọn đề tài:
“Tìm hiểu về Các công cụ chính sách tiền tệ của Ngân Hàng Trung Ương”
1. Những vấn đề cơ bản về các công cụ của chính sách tiền tệ.
1.1. Tổng quan về Ngân Hàng trung ương.
1.1.1. Quá trình hình thành và đặc thù của Ngân Hàng trung ương.
a/ Quá trình hình thành Ngân Hàng trung ương.
Trong thời kì đầu hoạt động, các ngân hàng thực hiện đồng thời các nghiệp
vụ:nhận tiền gửi và cho vay với khách hàng,phát hành các kì phiếu của mình vào
lưu thông,thực hiện các dịch vụ ngân hàng như thanh toán,chuyển tiền...
Từ thế kỉ XVIII,nhà nước của các quốc gia bắt đầu can thiệp vào hoạt động của

trong hoạt động của hệ thống ngân hàng. Do tính chất đó, NHTW nắm giữ một
trong những công cụ quan trọng nhất để quản lí nền kinh tế vĩ mô, đó là chính sách
tiền tệ. Bởi vậy, Ngân hàng trung ương có vị trí đặc thù trong bộ máy quản lí và
điều hành vĩ mô của nhà nước. Cho đến nay trên thế giới có hai mô hình tổ chức và
quản lí của ngân hàng trung ương:
• Ngân hàng trung ương trực thuộc quốc hội,tự chịu trách nhiệm về mọi hoạt
động của mình trước quốc hội.Với mô hình này ngân hàng trung ương được độc
lập với chính phủ.Bởi lẽ,chính phủ là người thực thi chính sách tài chính quốc
gia,quản lí và điều hành chính sách nhà nước.Nếu ngân hàng trung ương trực
thuộc chính phủ sẽ dễ bị chính phủ lạm dụng công cụ phát hành tiền để bù đắp
thiếu hụt của ngân sách nhà nước,dẫn đến lạm phát.Vào lúc đó,ngân hàng trung
ương không thể chủ động trong việc thực thi chính sách tiền tệ.với mục tiêu ổn
định giá trị đồng tiền.Mô hình này có ngân hàng dự trữ liên bang Hoa Kì,Ngân
hàng dự trữ liên bang của cộng hòa liên bang Đức...
• Ngân hàng trung ương trực thuộc chính phủ, tự chịu trách nhiệm về mọi hoạt
động của mình trước chính phủ.Chính phủ là người thực hiện chức năng điều
hành và sử dụng các công cụ điều tiết vĩ mô.Vì vậy,để thực hiện các chức năng
của mình,chính phủ cần nắm lấy ngân hàng trung ương và thông qua Ngân
Hàng Trung Ương để tác động lên chính sách tiền tệ.Theo mô hình này có ngân
hàng Anh Quốc, Ngân hàng nhà nước Việt Nam...
Như vậy,mỗi nước đều có ngân hàng trung ương thuộc sở hữu nhà nước,hoặc
một hệ thống các ngân hàng làm nhiệm vụ của ngân hàng trung ương,nhưng đặt
dưới sự điều hành của một hội đồng duy nhất do nhà nước bổ nhiệm.Ngân hàng
trung ương thực hiện chức năng quản lí nhà nước về tiền tệ,tín dụng,ngân hàng.
Nhưng nó khác với tính chất quản lí của các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước.
Ngân hàng trung ương thực hiện chức năng quản lí không chỉ đơn thuần bằng các
luật lệ, các biện pháp hành chính,mà còn thông qua các nghiệp vụ mang tính kinh
doanh sinh lời. Ngân hàng trung ương có các khoản thu nhập từ tài sản của mình
như: chứng khoán chính phủ,cho vay chiết khấu, kinh doanh trên thị trường ngoại
hối... Hai mặt quản lí và kinh doanh gắn chặt với nhau trong tất cả các hoạt động

giấy bạc không nhất thiết phải có vàng đảm bảo,mà phát hành thông qua cơ
chế tín dụng ngắn hạn,trên cơ sở có bảo đảm bằng giá trị hàng hóa, công tác
dịch vụ,thể hiện trên kì phiếu thương mại và các chứng từ nợ khác có khả
năng hoán chuyển thành tiền theo luật định.Đó là tín dụng của NHTW,được
thực hiện bằng phương thức tái cấp vốn đối với các ngân hàng thương
mại.Việc phát hành giấy bạc ngân hang theo nguyên tắc này,một mặt nó xuất
phát từ nhu cầu tiền tệ phát sinh do sự tăng trưởng kinh tế,mặt khác tạo ra
khả năng để ngân hàng để NHTW thực hiện việc kiểm soát khối lượng tiền
cung ứng theo yêu cầu chính sách tiền tệ.
Ngày nay,trong điều kiện lưu thông giấy bạc ngân hàng không được tự do
chuyển đổi ra vàng theo luật định,các nước trên thế giới đều đổi sang chế độ phát
hành thông qua cơ chế tái cấp vốn cho các ngân hàng và hoạt động trên thị trường
mở của Ngân Hàng Trung Ương. Đồng thời trên cơ sở độc quyền phát hành tiền,
NHTW thực hiện việc kiểm soát khối lượng tiền cung ứng được tạo ra từ các ngân
hành thương mại,bằng quy chế dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu...
Như vậy NHTW không chỉ độc quyền phát hành tiền tệ mà còn quản lí và điều tiết
lượng tiền cung ứng, thực hiện chính sách tiền tệ, đảm bảo ổn định giá trị đối nội
và giá trị đối ngoại của đồng bản tệ.
b/ Là Ngân Hàng của của các Ngân Hàng.
Là ngân hàng của các ngân hàng, Ngân Hàng Trung Ương thực hiện một số
nghiệp vụ sau:
- Mở tài khoản tiền gửi và bảo quản dự trữ tiền tệ cho các ngân hàng và tổ chức tín
dụng
Trong hoạt động kinh doanh của mình, các ngân hàng và ác tổ chức tín dụng
đều phải mở tài khoản tiền gửi và gửi tiền vào Ngân Hàng Trung Ương,gồm có hai
loại sau:
• Tiền gửi thanh toán: Đây là khoản tiền gửi của các ngân hàng tại NHTW
nhằm đảm bảo nhu cầu chi trả trong thanh toán giữa các ngân hàng và cho
khách hàng.
• Tiền gửi dự trữ bắt buộc: Khoản tiền dự trữ này áp dụng đối với các ngân

tài khoản tiền gửi của người phải trả nợ tại Ngân Hàng Trung Ương.
1.1.3. Là Ngân hàng của nhà nước.
Nói chung, Ngân Hàng Trung Ương là ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước, được
thành lập và hoạt động theo pháp luật.Ngân Hàng Trung Ương vừa thực hiện chức
năng quản lí về mặt nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, ngân hàng vừa thực
hiện chức năng là ngân hàng của nhà nước. Ở đây, NHTW thực hiện các nghiệp vụ
chủ yếu sau:
a) Ngân Hàng Trung Ương là cơ quan quản lí về mặt nhà nước các hoạt động
của hệ thống ngân hàng bằng pháp luật
• Xem xét,cấp và thu hồi giãy phép hoạt động cho các ngân hàng và các tổ
chức tín dụng.
• Kiểm soát tín dụng thông qua cơ chế tái cấp vốn và tỉ lệ dự trữ bắt buộc.
• Quy định các thể chế nghiệp vụ, các hệ số an toàn trong quá trình hoạt
động cho các ngân hàng và tổ chức tín dụng.
• Thanh tra và kiểm soát các hoạt động của toàn hệ thống ngân hàng.áp
dụng các chế tài trong các trường hợp vi phạm pháp luật, nhằm đảm bảo
cho cả hệ thống ngân hàng hoạt động ổn định, an toàn và có hiệu quả.
• Quyết định đình chỉ hoạt động hoặc giải thể đối với các ngân hàng và tổ
chức tín dụng trong các trường hợp vi phạm nghiêm trọng pháp luật hoặc
mất khả năng thanh toán.
b) Ngân Hàng Trung Ương có trách nhiệm đối với kho bạc nhà nước
• Mở tài khoản, nhận và trả tiền gửi của kho bạc nhà nước.
• Tổ chức thanh toán cho kho bạc nhà nước trong quan hệ thanh toán cho các
ngân hàng.
• Làm đại lí cho kho bạc nhà nước trong một số nghiệp vụ.
• Bảo quản dự trữ quốc gia về ngoại hối, các chứng từ có giá.
• Cho ngân sách nhà nước vay khi cần thiết...
c) Ngân Hàng Trung Ương thay mặt nhà nước trong quan hệ với nước ngoài
trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và ngân hàng
• Kí kết các hiệp định về tiền tệ, tín dụng, Ngân hàng với nước ngoài.

về đời sống và sinh hoạt kinh tế của cả cộng đồng, người ta có thể bắt đầu bằng tác
động vào tiền tệ. Mối quan hệ đó đã làm cho những biến động về tiền tệ được gọi
là “Chính Sách Tiền Tệ”. Tùy theo trình độ phát triển kinh tế, thể chế chính trị và
giác độ nghiên cứu, người ta phân biệt chính sách tiền tệ theo nghĩa rộng và theo
nghĩa thông thường, chính sách tiền tệ của Ngân Hàng Trung Ương và chính sách
tiền tệ quốc gia.
Chính sách tiền tệ theo nghĩa rộng là chính sách điều hành toàn bộ khối lượng
tiền trong nền kinh tế nhằm phân bổ một cách hiệu quả nhất các nguồn tài nguyên
nhằm thực hiện các, mục tiêu tăng trưởng, cân đối kinh tế trên cơ sở đó ổn định giá
trị đồng tiền quốc gia.
Chính sách tiền tệ theo nghĩa hẹp là chính sách đảm bảo sao cho khối lượng tiền
cung ứng tăng thêm trong một năm tương ứng với mức tăng trưởng kinh tế và chỉ
số lạm phát(nếu có) nhằm ổn định giá trị của đồng tiền, góp phần thực hiện các
mục tiêu kinh tế vĩ mô.
Chính sách tiền tệ quốc gia là tông thể các biện pháp của Nhà Nước pháp quyền
nhằm cung ứng đầy đủ các phương tiện thanh toán cho nền kinh tế phát triển, trên
cơ sở đó ổn định giá trị đồng tiền quốc gia.
Chính sách tiền tệ của NHTW là tổng thể tất cả các biện pháp mà NHTW sử dụng
nhằm điều tiết khối lượng tiền tệ, tín dụng, ổn định tiền tệ, góp phần đạt được các
mục tiêu của chính sách kinh tế.
Dù quan niệm theo nghĩa nào, chính sách tiền tệ đều nhằm mục đích ổn định giá
trị tiền tệ, góp phần thực hiện các mục tiêu của các chính sách kinh tế, chính sách
tiền tệ là một bộ phận các chính sách kinh tế Nhà Nước để thực hiện vai trò quản lí
vĩ mô với nền kinh tế.
Điều 2, luật Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam quy định: “ chính sách tiền tệ quốc
gia là một bộ phận của chính sách kinh tế - tài chính của Nhà Nước nhằm ổn định
giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội,
đảm bảo quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống của nhân dân.
- Đặc Trưng:
- Chính sách tiền tệ là một bộ phận hữu cơ cấu thành chính sách tài chính

tiền tệ, nhằm tác động đến lượng tiền cung ứng để từ đó tác động đến hàng loạt các
yếu tố khác trong nền kinh tế như lãi suất, lạm phát, đầu tư, việc làm...ổn định giá
trị đồng tiền là mục tiêu trọng tâm của chính sách tiền tệ. Có ổn định được tiền tệ
thì mới khuyến khích tiết kiệm, có tiết kiệm mới có đầu tư, và có đầu tư mới có
tăng trưởng kinh tế, giảm thất nghiệp...
c/ Mục tiêu và nội dung của chính sách tiền tệ:
- Mục tiêu của chính sách tiền tệ:
Kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng bản tệ: Trong điều kiện lưu thông tiền
vàng hay tiền giấy tự do đổi ra vàng, thì giá trị tiền tệ luôn được ổn định, do cơ chế
tự phát của tiền vàng. Trong điều kiện lưu thông tiền giấy không được tự do
chuyển đổi ra vàng, lạm phát luôn là khả năng tiềm tàng, thậm chí khó tránh khỏi.
Lúc này với chức năng của mình, NHTW luôn coi việc kiểm soát lạm phát, ổn định
giá trị đồng tiền là mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ. ổn định giá cả là điêu
luôn được mong muốn, bởi lẽ, nếu giá cả tăng sẽ gây tình trạng khó khăn trong
cuộc sống cho một bộ phận người lao động, mất ổn định nền kinh tế - xã hội. Tình
trạng đó gây khó khăn cho việc hoạch định các chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội,
gây ra sự xung đột quyền lợi giữa một số nhóm dân cư. Do vậy, kiểm soát lạm phát
nhằm ổn định giá cả hàng hóa và dịch vụ là tiền đề cho phát triển kinh tế lâu dài,
bảo đảm ổn định đời sống cho người lao động. Thông qua chính sách tiền tệ,
NHTW có thể góp phần quan trọng trong kiểm soát lạm phát. Nếu chính sách tiền
tệ của NHTW nhằm mở rộng cung ứng tiền tệ thì giá cả hàng hóa và dịch vụ sẽ
tăng lên, tất yếu dẫn đến tình trạng lạm phát. Ngược lại, chính sách tiền tệ NHTW
nhằm thắt chặt lượng tiền cung ứng thì sẽ làm cho giá cả hàng hóa dịch vụ giảm
xuống và như vậy tỉ lệ lạm phát giảm xuống. Kiểm soát lạm phát được biểu hiện
trước hết ở việc ổn định giá trị đối nội của động tiền, tức là sức mua của nó đối với
hàng hóa, dịch vụ trong thị trường trong nước. Mặt khác, nó còn được biểu hiện sự
ổn định giá trị đối ngoại cảu đồng tiền, được đo bằng tỉ giá hối đoái thả nổi. Trong
nền kinh tế mở, cùng với sự phát triển của thương mại quốc tế, tỉ giá đồng tiền trở
thành mối quan tâm của các quốc gia, chính vì một sự tăng lên trong giá trị đồng
bản tệ so với ngoại tệ sẽ hạn chế cạnh tranh trên thị trường quốc tế, hạn chế xuất

Tăng trưởng kinh tế: Mục tiêu tăng trưởng kinh tế luôn gắn với mục tiêu việc
làm cao. Chính sách tiền tệ có thể tác động đồng thời đến 2 mục tiêu này. Khi cung
ứng tiền tệ tăng lên, trong ngắn hạn lãi suất tín dụng giảm sẽ khuyến khích đầu tư,
mở rộng sản xuất, kinh doanh, nhà nước và doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng lao
động nhiều hơn, làm tăng sản lượng và tăng trưởng kinh tế. Ngược lại, khi cung
tiền tệ giảm, trong ngắn hạn lãi suất tăng sẽ hạn chế đầu tư, thu hẹp hoạt động sản
xuất kinh doanh, nhà nước và doanh nghiệp se cần ít lao động hơn, làm cho mức
sản lượng giảm, tăng trưởng kinh tế chậm lại.
Quan hệ giữa các mục tiêu: Nhìn tổng quát, thì các mục tiêu của chính sách tiền
tệ có quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau. Điêu đó cho thấy,
trong quá trình thực hiện chính sách tiền tệ không thể tuyệt đối hóa một mục tiêu
nào, không thể giải quyết các mục tiêu độc lập trên tầm vĩ mô. Tuy nhiên, có nơi
có lúc, trong thời gian ngắn có thể xảy ra sự xung đột, thậm chí triệt tiêu lân nhau
giữa các mục tiêu. Điều thường gặp và dễ thấy nhất đó là sự mâu thuẫn giữa tỉ lệ
lạm phát và thất nghiệp. Tuy vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau, song nhìn
chung, mục tiêu cơ bản của chính sách tiền tệ là ổn định giá trị đồng bản tệ, trên cơ
sở đó để ổn định và phát triển kinh tế - xã hội. Thực tiễn các nước phát triển theo
cơ chế thị trường cho thấy, vận hành chính sách tiền tệ, để đạt được các mục tiêu
của nó cần có sự phối hợp với các chính sách kinh tế vĩ mô khác. Trước hết, phải
phối hợp với chinh sách tài khóa trong quá trình thực thi chính sách tiền tệ. Vì mục
tiêu của chính sách tài khóa là nhằm điều chỉnh thu nhập và chi tiêu của chính phủ,
hướng nền kinh tế vào mức sản lượng và sử dụng nhân lực ở mức tiềm năng. Song
điều đó còn phụ thuộc vào tình hình thu chi của ngân sách nhà nước. Ngân sách
nhà nước vững vàng là cơ sở cho quan trọng bậc nhất cho giá trị đồng bản tệ được
ổn định. Ngược lại, sự thiếu hụt ngân sách nhà nước, bất kể được bù đắp bằng con
đường nào đều trực tiếp, gián tiếp làm cho đồng tiền mất ổn định. Thông thường
chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ đều phát huy tác dụng của nó thông qua
ảnh hưởng của nó với tổng cầu. Trong khi đó, theo cơ chế thị trường thì tiền lương
và giá cả lại được quyết định bởi các yếu tố của thị trường. Trong thực tế, chính
sách tài khóa và chính sách tiền tệ có thể có thể làm tăng nhu cầu, giảm thất

ngân hàng cấp phát tín dụng sẽ diễn ra quá trình tạo tiền gửi và phát sinh bội số tín
dụng. Để điều tiết tín dụng và khối lượng tiên tệ, NHTW sẽ sử dụng một số công
cụ như lãi suất, tỉ lệ dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở...Từ khối lượng tiền
tệ có thể cung ứng thêm cho nền kinh tế, NHTW sẽ giành chủ yếu cho hoạt động
tín dụng ngắn hạn phù hợp với mức tăng trưởng kinh tế, có dự tính đến tỉ lệ lạm
phát. Hoạt động tín dụng này chỉ xuất hiện khi nền kinh tế thực sự có nhu cầu. Khi
các ngân hàng thương mại thiếu phương tiện thanh toán thì họ mới đến NHTW xin
vay táI cấp vốn. NHTW luôn đóng vai trò là chủ nợ và là người cho vay cuối cùng
đối với hệ thống ngân hàng thương mại, nhằm kiểm soát chất lượng và số lượng tín
dụng, kiểm soát các nguồn tiền gửi của các ngân hàng thương mại và tổ chức tín
dụng.
- Kiểm soát ngoại hối: Ngoại hối bao gồm ngoại tệ(thường là các ngoại tệ mạnh),
vàng tiêu chuẩn quốc tế, các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ và các công cụ tiền tệ
khác. Để ổn định giá trị đồng bản tệ, NHTW thực hiện các giao dịch về tài chính -
tiền tệ và sử dụng một số chính sách để tác động đến khối lượng tiền tệ trên các
phương diện sau:
• Xây dựng và quản lí dự trữ ngoại hối của nhà nước nhằm đảm bảo khả
năng thanh toán quốc tế và bảo toàn dự trữ ngoại hối.
• Lập và theo dõi diễn biến cán cân thanh toán quốc tế.
• Thực hiện các nghiệp vụ hối đoái, tổ chức và điều tiết thị trường ngoại tệ
liên ngân hàng và tham gia vào thị trường ngoại hối quốc tế.
• ổn định tỉ giá hối đoái để kìm giữ lạm phát, ổn định tỉ giá trong nước.
• Quan hệ với các NHTW khác, với các tổ chức tài chính – tiền tệ quốc
tế... nhằm tìm kiếm nguồn tài trợ có điều kiện ưu đãi, khuyến khích đầu
tư nước ngoài và thu hút kiều hối.
• Tổ chức quản lí nợ nước ngoài.
- Chính sách với Ngân sách Nhà Nước: Để có thể đạt được tác dụng như mong
muốn,chính sách tiền tệ cần xử lí mối quan hệ của nó với chính sách tài khóa,
trước hết là chính sách thu chi ngân sách. Cách xử sự của chính sách tiền tệ với
ngân sách tùy thuộc vào tình trạng cán cân ngân sách có cân bằng không, ảnh

tệ(ngắn hạn) và thị trường vốn( dài hạn).
Trường hợp ngân sách thặng dư: Đây là trường hợp rất đặc biệt vì nó rút bớt
khối lượng tiền tệ dư thừa, tác động có lợi cho mối tương quan giữa tổng cung và
tổng cầu tiền tệ.
1.2.2. Các công cụ của chính sách tiền tệ.
Trên cơ sở dự án chính sách tiền tệ đã được phê chuẩn và điều kiện thực tế
của nền kinh tế, NHTW sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ để điều
tiết lượng tiền cung ứng. Nghĩa là NHTW sẽ thực hiện việc đưa tiền vào lưu
thông hay rút tiền từ lưu thông về nếu lượng tiền trong lưu thông là thiếu
hay dư thừa. Các công cụ mà NHTW thường hay sử dụng là: Tái cấp vốn,
Lãi suất, Tỉ giá hối đoái, Dự trữ bắt buộc, Nghiệp vụ thị trường mở và các
công cụ khác.
1.2.2.1. Công cụ tái cấp vốn.
Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng của NHTW đối với các NHTM. Khi cấp một
khoản tín dụng cho NHTM, một mặt, NHTW tăng lượng tiền cung ứng, mặt khác
tạo cơ sở cho các NHTM tạo bút tệ cũng như khai thông được năng lực thanh toán
cho họ.
Tuỳ từng quốc gia mà công cụ này được áp dụng dưới các hình thức khác
nhau. Đối với các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, tái cấp vốn được thực
hiện dưới hình thức tái chiết khấu. Vì vậy đối với các quốc gia này, công cụ nay
được gọi là tái chiết khấu. Tại nhiều quốc gia khác ( trong đó có Việt Nam) , hoạt
động tái cấp vốn của NHTW đối với các NHTM được thực hiện không chỉ được
thực hiện dưới hình thức tái chiết khấu mà còn dưới nhiều hình thức khác nữa, thí
dụ:
• Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác.
• Cho vay dưới hình thức cầm cố, thế chấp các chứng từ có giá ngắn hạn.
• Cho vay trong thanh toán bù trừ
• Cho vay theo hình thức chỉ định.
• Cho vay lại theo hồ sơ tín dụng.
a/ Cơ chế tác động:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status