Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa kÕ to¸n
LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, bất kỳ một
doanh nghiệp nào cũng cần phải có ba yếu tố, đó là con người lao động, tư
liệu lao động và đối tượng lao động để thực hiện mục tiêu tối đa hoá giá trị
của chủ sở hữu. Tư liệu lao động trong các doanh nghiệp (DN) chính là những
phương tiện vật chất mà con người lao động sử dụng để tác động vào đối
tượng lao động. Nó là một trong 3 yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất mà
trong đó tài sản cố định (TSCĐ) là một trong những bộ phận quan trọng nhất.
TSCĐ nếu được sử dụng đúng mục đích, phát huy được năng suất làm
việc, kết hợp với công tác quản lý sử dụng TSCĐ như đầu tư, bảo quản, sửa
chữa, kiểm kê, đánh giá… được tiến hành một cách thường xuyên, có hiệu
quả thì sẽ giúp phần tiết kiệm được tư liệu sản xuất, nâng cao chất lượng và số
lượng sản phẩm sản xuất và như vậy doanh nghiệp sẽ thực hiện được mục tiêu
tối đa hoá lợi nhuận của mình.
Nói tóm lại, vấn đề sử dụng đầy đủ, hợp lý công suất của TSCĐ sẽ giúp
phần phát triển sản xuất, thu hồi vốn đầu tư nhanh để tái sản xuất, trang bị
thêm và đổi mới không ngừng TSCĐ, là những mục tiêu quan trọng khi
TSCĐ được đưa vào sử dụng.
Trong thực tế, hiện nay, ở Việt Nam, trong các doanh nghiệp Nhà nước,
mặc dù đó nhận thức được tác dụng của TSCĐ đối với quá trình sản xuất kinh
doanh nhưng đa số các doanh nghiệp vẫn chưa có những kế hoạch, biện pháp
quản lý, sử dụng đầy đủ, đồng bộ và chủ động cho nên TSCĐ sử dụng một
cách lãng phí, chưa phát huy được hết hiệu quả kinh tế.
Nhận thức được tầm quan trọng của TSCĐ cũng như hoạt động kế toán
cũng như quản lý và sử dụng có hiệu quả TSCĐ của doanh nghiệp, em nhận
thấy: Vấn đề kế toán TSCĐ sao cho có hiệu quả, khoa học có ý nghĩa to lớn
không chỉ trong lý luận mà cả trong thực tiễn quản lý doanh nghiệp.
SV: Lª Tó HuÖ 1 Líp: K 43/21.06
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa kÕ to¸n
Công ty TNHH Lâm Nghiệp Văn Bàn là một doanh nghiệp nhà nước,
Bất kể một DN nào muốn tiến hành hoạt động SXKD đều phải có một số
nguồn lực nhất định. Nguồn lực của DN được dùng để đầu tư sử dụng cho
hoạt động SXKD của DN mà trong đó không thể không có TSCĐ.
Các nhà nghiên cứu, xây dựng chế độ kế toán cho rằng: TSCĐ là biểu
hiện của một nguồn lực do DN kiểm soát, được phát sinh từ các sự kiện trong
quá khứ và DN chắc chắn sẽ thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử
dụng tài sản trong DN. Theo quan diểm này, TSCĐ bao gồm những nguồn
lực hữu hình và vô hình mà DN đã đầu tư nhằm tạo ra lợi ích kinh tế trong
tương lai cho DN, đồng thời TSCĐ đã đầu tư sẽ hình thành nên cơ sở vật chất
kỹ thuật cho DN và TSCĐ hoàn toàn khác biệt với hàng hóa.
Theo các nhà nghiên cứu kế toán ở Mỹ thì: TSCĐ là những tài sản có
thời gian sử dụng lấu dài, được đầu tư sử dụng cho hoạt động SXKD của DN,
không phải đầu tư để bán cho khách hàng. Khái niệm về TSCĐ này nhấn
mạnh đến thời gian phát huy tác dụng của TSCĐ đối với hoạt động SXKD
của DN.
Ở Việt Nam, khái niệm về kế toán nói chung, TSCĐ nói riêng khác nhau
tùy vào mục đích nghiên cứu, trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở các thời kỳ
khác nhau và sự thay đổi tương ứng phù hợp của chế độ tài chính và kế toán.
SV: Lª Tó HuÖ 3 Líp: K 43/21.06
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa kÕ to¸n
Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS 03, VAS 04): “Các tài sản
được ghi nhận là TSCĐ phải thỏa mãn đồng thời tất cả bốn tiêu chuẩn ghi
nhận sau:
- Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài
sản đó;
- Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy;
- Thời gian sử dụng ước tính trên một năm;
- Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành.”
Tiêu chuẩn thứ nhất đề cập đến việc phát huy tác dụng của TSCĐ đối với
hoạt động SXKD của DN, đó là lợi ích kinh tế thu được hoặc rủi ro mà DN
điểm sau:
Thứ nhất, TSCĐ là những tài sản có giá trị lớn, thuộc quyền quản lý, sử
dụng của DN. Vì vậy DN cần theo dõi, quản lý chặt chẽ TSCĐ về hiện vật và
chất lượng, tránh hiện tượng mất mát hay không sử dụng được, làm ảnh
hưởng đến hoạt động SXKD của DN.
Thứ hai, TSCĐ được đầu tư sử dụng cho nhiều chu kỳ SXKD hoặc nhiều
năm hoạt động của DN. Chính vì vậy DN phải quan tâm đến việc bảo vệ, sửa
chữa TSCĐ và lựa chọn phương pháp tính khấu hao TSCĐ thích hợp nhằm
đánh giá sát nhất mức độ hao mòn để thu hồi giá trị đã đầu tư của TSCĐ.
Thứ ba, trong quá trình tham gia vào hoạt động SXKD cho đến khi bị hư
hỏng, TSCĐ giữ nguyên được hình thái vật chất ban đầu, đồng thời bị giảm
dần về giá trị và giá trị sử dụng. DN thực hiện thu hồi giá trị TSCĐ đã đầu tư
để tái sản xuất thông qua việc tính trích khấu hao TSCĐ.
Thứ tư, TSCĐ là bộ phận quan trọng trong tổng giá trị tài sản của DN.
TSCĐ có vai trò quan trọng trong việc phản ánh tình hình tài chính của DN vì
SV: Lª Tó HuÖ 5 Líp: K 43/21.06
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa kÕ to¸n
vậy DN cần quan tâm quản lý tốt và tổ chức kế toán TSCĐ phù hợp nhằm
nâng cao hiệu năng công tác quản lý và hiệu quả hoạt động kinh doanh.
1.1.2. Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ kế toán tài sản cố định
Yêu cầu chung quản lý TSCĐ ở các doanh nghiệp cần phản ánh kịp thời
số hiện có, tình hình biến động của từng thứ loại, nhóm TSCĐ trong toàn
doanh nghiệp cũng như từng đơn vị sử dụng; đảm bảo an toàn về hiện vật,
đảm bảo khai thác hết công suất có hiệu quả.Theo QĐ 206-BTC quy định một
số nguyên tắc cơ bản sau:
- Phải lập bộ hồ sơ cho mọi TSCĐ có trong doanh nghiệp. Hồ sơ bao
gồm: Biên bản giao nhận TSCĐ, hợp đồng, hóa đơn mua TSCĐ và các chứng
từ có liên quan khác.
- Tổ chức phân loại, thống kê đánh số, lập thẻ riêng và theo dõi chi tiết
theo từng đối tượng ghi TSCĐ trong sổ theo dõi TSCĐ ở phòng kế toán và
Theo hình thái biểu hiện, TSCĐ trong DN được chia thành hai loại là
TSCĐHH và TSCĐVH.
TSCĐHH là những loại TSCĐ có hình thái vật chất cụ thể, thỏa mãn
đồng thời các tiêu chuẩn ghi nhận đối với TSCĐHH. Theo Chuẩn mực kết
toán Việt Nam về TSCĐHH (VAS 03), tài sản được ghi nhận là TSCĐHH
phải thỏa mãn đồng thời 4 tiêu chuẩn ghi nhận. Theo quy định của Chế độ tài
chính Việt Nam hiện hành, giá trị tối thiểu của TSCĐ phải từ 10.000.000 trở
lên. Theo tính chất của tài sản, TSCĐHH trong DN bao gồm: Nhà cửa, vật
kiến trúc; Máy móc thiết bị; Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn; Thiết bị,
dụng cụ quản lý; Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc, cho sản phẩm và
TSCĐHH khác.
TSCĐVH là những TSCĐ không có hình thái vật chất cụ thể, thể hiện
một số tiền nhất định mà DN đã đầu tư nhằm thu được các lợi ích kinh tế
SV: Lª Tó HuÖ 7 Líp: K 43/21.06
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa kÕ to¸n
trong tương lai. Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam về TSCĐVH (VAS 04)
thì: “TSCĐVH là tài sản không có hinh thái vật chất nhưng xác định được giá
trị và do DN nắm giữ, sử dụng trong SXKD, cung cấp dịch vụ hoặc cho các
đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐVH”. Theo tính
chất của tài sản, TSCĐVH trong DN bao gồm: Quyền sử dụng đất có thời
hạn; Nhãn hiệu hàng hóa; Quyền phát hành; Phần mềm máy vi tính; Giấy
phép và giấy phép nhượng quyền; Bản quyền bằng sáng chế; Công thức và
cách thức pha chế, kiểu mẫu, thiết kế và vật mẫu và TSCĐVH đang triển
khai.
Việc phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện có tác dụng giúp DN nắm
được những tư liệu lao động hiện có với giá trị và thời gian sử dụng bao nhiêu
để từ đó có phương hướng sử dụng TSCĐ có hiệu quả.
1.2.1.2. Phân loại tài sản cố định theo quyền sở hữu
Theo cách này toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp được phân thành
TSCĐHH tự có và thuê ngoài
TSCĐ này cần xử lý nhanh chóng để thu hồi vốn sử dụng cho việc đầu tư đổi
mới TSCĐ.
Phân loại TSCĐ theo tình hình sử dụng giúp doanh nghiệp nắm được
những TSCĐ nào đang sử dụng tốt, những TSCĐ nào không sử dụng nữa để
có phương hướng thanh lý thu hồi vốn cho doanh nghiệp
Mặc dù TSCĐ được phân thành từng nhóm với đặc trưng khác nhau
nhưng trong việc kế toán thì TSCĐ phải được theo dõi chi tiết cho từng tài
sản cụ thể và riêng biệt, gọi là đối tượng ghi TSCĐ. Đối tượng ghi TSCĐ là
từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ
phận tài sản liên kết với nhau thực hiện một hay một số chức năng nhất định.
SV: Lª Tó HuÖ 9 Líp: K 43/21.06
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa kÕ to¸n
1.2.2. Đánh giá tài sản cố định
Đánh giá TSCĐ là việc vận dụng phương pháp tính giá để xác định giá
trị của TSCĐ ở những thời điểm nhất định theo những nguyên tắc như nguyên
tắc giá phí lịch sử, giả định hoạt động liên tục và nguyên tắc phù hợp. Một
TSCĐ cụ thể được đánh giá theo nguyên giá, giá trị đã hao mòn và giá trị còn
lại.
1.2.2.1. Đánh giá TSCĐ theo nguyên giá
* Xác định nguyên giá TSCĐHH
- Nguyên giá của TSCĐHH do mua sắm bao gồm giá mua (trừ các khoản
được chiết khấu thương mại, giảm giá), các khoản thuế (trừ các khoản thuế
được hoàn lại) và các chi phí liên quan trực tiếp đến việc đưa TSCĐ vào trạng
thái sẵn sàng sử dụng như chi phí lắp đặt chạy thử, chi phí vận chuyển bốc
xếp ban đầu, chi phí chuyên gia và các chi phí liên quan trực tiếp khác.
- Nguyên giá TSCĐHH do tự xây dựng hoặc tự chế gồm giá thành thực
tế của TSCĐ tự xây dựng hoặc tự chế cộng (+) chi phí lắp đặt chạy thử.
- Nguyên giá TSCĐHH do đầu tư xây dựng cơ bản theo phương thức
giao thầu là giá quyết toán công trình xây dựng theo quy định chế quản lý đầu
tư xây dựng cơ bản hiện hành.
đổi trong các trường hợp sau:
+ Thực hiện đánh giá lại giá trị TSCĐ theo quyết định của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền. Việc đánh giá lại TSCĐ làm ảnh hưởng đến nguyên giá
và giá trị hao mòn và tất yếu ảnh hưởng đến chi phí, lợi nhuận của DN do đó
đánh giá lại TSCĐ phải được sự phê duyệt của cấp có thẩm quyền.
SV: Lª Tó HuÖ 11 Líp: K 43/21.06
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa kÕ to¸n
+ Nâng cấp, cải tạo làm tăng năng lực và kéo dài thời gian hữu dụng của
TSCĐ.
+ Tháo dỡ một hay một số bộ phận của TSCĐ. Trường hợp này DN phải
cân nhắc đến tính hệ thống trong việc thực hiện chức năng của TSCĐ và các
điều kiện ghi nhận TSCĐ để xác định sự thay đổi nguyên giá.
1.2.2.2. Đánh giá tài sản cố định theo giá trị còn lại
Giá trị còn lại của TSCĐ là phần giá trị của TSCĐ chưa chuyển dịch vào
giá trị của sản phẩm sản xuất ra. Giá trị còn lại của TSCĐ được tính như sau:
Giá trị còn lại = Nguyên giá – Hao mòn lũy kế
Trường hợp có đánh giá lại TSCĐ thì giá trị còn lại của TSCĐ được điều
chỉnh theo công thức:
Giá trị còn lại của TSCĐ
sau khi đánh giá lại
=
Nguyên giá sau
khi đánh gá lại
-
Giá trị hao mòn TSCĐ
sau khi đánh giá lại
Việc đánh giá TSCĐ theo giá trị còn lại giúp DN xác định được phần
vốn đầu tư cần phải thu hồi từ TSCĐ, đồng thời thông qua giá trị còn lại của
TSCĐ có thể đánh giá hiện trạng TSCĐ nhờ đó ra các quyết định bổ sung, sửa
chữa, đổi mới TSCĐ.
1.3.1. Đánh số tài sản cố định
Đánh số TSCĐ là quy định cho mỗi đối tượng ghi TSCĐHH một số hiệu
riêng theo nguyên tắc nhất định, đảm bảo sử dụng thống nhất trong phạm vi
toàn DN.
Việc đánh số TSCĐ là yêu cầu cần thiết trong công tác quản lý TSCĐ.
Mỗi TSCĐ phải được đánh một số hiệu riêng trong suốt quá trình tồn tại của
SV: Lª Tó HuÖ 13 Líp: K 43/21.06
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa kÕ to¸n
nó. Những số hiệu đã được đánh cho một TSCĐ nào đó thì không được dùng
để đánh cho một TSCĐ khác khi TSCĐ này đã hư hỏng, thanh lý.
Số hiệu của TSCĐ phải được đánh trực tiếp vào TSCĐ sao cho không
thể tẩy xóa được. Số liệu này có thể được viết bằng sơn hoặc đánh chìm vào
TSCĐ.
Mỗi DN có cách đánh số TSCĐ riêng, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của
DN đó nhưng phải đảm bảo yêu cầu: Số hiệu TSCĐ phải thể hiện được
nhóm, loại và không trùng lặp.
1.3.2. Kế toán chi tiết TSCĐ tại phòng kế toán và bộ phận sử dụng
1.3.2.1. Kế toán chi tiết tăng TSCĐ tại phòng kế toán và bộ phận sử dụng
Mọi trường hợp tăng TSCĐ, DN đều phải lập biên bản nghiệm thu, kiểm
nhận TSCĐ, biên bản giao nhận TSCĐ.
Biên bản giao nhận TSCĐ: Nhằm xác nhận việc giao nhận TSCĐ sau khi
hoàn thành xây dựng mua sắm, được cấp…đưa vào sử dụng tại đơn vị hoặc
TSCĐ của đơn vị bàn giao cho các đơn vị nội bộ khác. Biên bản này không sử
dụng khi nhượng bán, thanh lý TSCĐ hoặc khi TSCĐ thừa thiếu phát hiện khi
kiểm kê. Biên bản ghi nhậnTSCĐ là căn cứ để giao nhận TSCĐ và ghi sổ, thẻ
TSCĐ, sổ kế toán liên quan.
Biên bản giao nhận TSCĐ lập cho từng TSCĐ đối với trường hợp giao
nhận cùng một lúc nhiều TSCĐ cùng loại và do cùng một đơn vị giao có thể
lập chung 1 biên bản giao nhận TSCĐ. Khi lập biên bản cần ghi rõ số thứ tự,
tên, ký, mã hiệu…
bản giao nhận TSCĐ và các chứng từ khác có liên quan. Biên bản thanh lý
TSCĐ là chứng từ kế toán được lập ra để xác nhận việc thanh lý TSCĐ. Biên
bản thanh lý do ban thanh lý lập và phải có đầy đủ chữ ký của trưởng ban
thanh lý, của kế toán trưởng và thủ trưởng đơn vị.
SV: Lª Tó HuÖ 15 Líp: K 43/21.06
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa kÕ to¸n
Căn cứ vào Biên bản thanh lý TSCĐ và các chứng từ khác kế toán ghi
giảm TSCĐ trên Thẻ TSCĐ, Sổ TSCĐ và Sổ tài sản theo đơn vị sử dụng.
- Trên thẻ TSCĐ: Căn cứ vào Biên bản thanh lý nhượng bán TSCĐ kế
toán ghi vào dòng “ghi giảm TSCĐ theo chứng từ
số…ngày…tháng…năm…lý do giảm…” trên thẻ này.
- Trên sổ TSCĐ: Căn cứ vào Biên bản thanh lý nhượng bán TSCĐ kế
toán dùng bút đỏ gạch bỏ TSCĐ bị thanh lý trong sổ sau đó ghi vào phần “ghi
giảm TSCĐ” và ghi vào cùng với dòng vừa gạch.
1.4. KẾ TOÁN TỔNG HỢP TÌNH HÌNH BIẾN ĐỘNG TĂNG GIẢM
TÀI SẢN CỐ ĐỊNH
1.4.1. Tài khoản sử dụng
Theo chế độ hiện hành, việc kế toán các nghiệp vụ liên quan đến TSCĐ
kế toán sử dụng một số tài khoản như sau:
1.4.1.1. TK 211- TSCĐ hữu hình
Tài khoản này phản ánh giá trị hiện có, tình hình biến động tăng giảm
của toàn bộ TSCĐ của DN theo nguyên giá.
TK 211 được quy định mở các tài khoản cấp 2.
+ Tài khoản 2111 – Nhà cửa, vật kiến trúc;
+ Tài khoản 2112 – Máy móc thiết bị;
+ Tài khoản 2113 – Phương tiện vận tải truyền dẫn;
+ Tài khoản 2114 – Thiết bị dụng cụ quản lý;
+ Tài khoản 2115 – Cây lâu năm, súc vật làm việc;
+ Tài khoản 2118 – TSCĐ khác.
SV: Lª Tó HuÖ 16 Líp: K 43/21.06
(4)
TK 133
TK 241
TK 142
TK 222
(5)
(6)
(7)
TK 133
(8)
Truy
nhập
TK 811
TK 214
(9)
(10)
TK 222
TK 711
TK 153
(11)
TK 1381
(12)
TK 214
(13)
TK 412
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa kÕ to¸n
Sơ đồ kế toán cá nghiệp vụ chủ yếu liên quan đến TSCĐ đi thuê tài chính
Chú thích:
(1)Nhận TSCĐ thuê tài chính, ghi tăng TSCĐ thuê tài chính theo nguyên
giá;
(4)
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa kÕ to¸n
(2d) Nếu TSCĐ thuê tài chính phục vụ hoạt động SXKD hàng hóa dịch
vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp hoặc không
chịu thuế GTGT, xác định số thuế GTGT phải trả;
(2e) Xác định tiền lãi thuê trả từng kỳ;
(3a) Chi thêm tiền mua lại TSCĐ thuê tài chính, số tiền trả thêm được
tính vào nguyên giá TSCĐ;
(3b) Hết thời hạn thuê tài chính, đơn vị trả lại TSCĐ thuê tài chính cho
bên cho thuê;
(3c) Khi mua lại TSCĐ đồng thời kết chuyển giá trị hao mòn;
(4)Định kỳ trích khấu hao TSCĐ thuê tài chính vào chi phí SXKD nếu
TSCĐ thuê dùng vào hoạt động SXKD.
Sơ đồ kế toán các nghiệp vụ chủ yếu liên quan đến TSCĐ đi thuê hoạt
động
SV: Lª Tó HuÖ 20 Líp: K 43/21.06
TK 627, 641, 642
TK 001
Khi nhận TSCĐ
đi thuê
Khi trả lại
TSCĐ đi thuê
TK 111, 112, 131, 138
TK 142, 242
TK 133
Nếu trả trước tiền
thuê cho nhiều kỳ
Khi phân bổ tiền thuê
phải trả từng kỳ
Nếu thanh toán tiền
trong kỳ.
- Những TSCĐ còn lại không tham gia vào hoạt động sản xuất kinh
doanh thì không phải trích khấu hao, bao gồm: TSCĐ không cần dùng, chưa
cần dùng; TSCĐ thuộc dự trữ Nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý hộ,
TSCĐ sử dụng cho hoạt động phúc lợi dự án; TSCĐ dùng chung cho cả xã
hội mà nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý, quyền sử dụng đất lâu dài và
TSCĐ đã khấu hao hết mà vẫn còn sử dụng cho sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên theo thông tư số 33/2005/TT- BTC ngày 29/4/2005 của Bộ
trưởng Bộ Tài chính quy định:
“ Mọi tài sản cố định hiện có của công ty (gồm cả tài sản chưa dùng,
không cần dùng, chờ thanh lý) đều phải trích khấu hao theo qui định hiện
hành. Khấu hao TSCĐ dùng trong sản xuất kinh doanh hạch toán vào chi phí
kinh doanh; Khấu hao TSCĐ chưa dùng, không cần dùng, chờ thanh lý hạch
toán vào chi phí khác.
Đối với những TSCĐ chưa khấu hao hết đã hư hỏng, mất mát, phải xác
định nguyên nhân, trách nhiệm của tập thể, cá nhân để xử lý bồi thường. Hội
đồng quản trị, Giám đốc công ty đối với công ty không có Hội đồng quản trị
quyết định mức bồi thường. Chênh lệch giữa giá trị còn lại của tài sản với tiền
bồi thường và giá trị thu hồi được hạch toán vào chi phí khác của công ty”.
- Việc trích hay thôi không trích khấu hao TSCĐ được thực hiện bắt đầu
từ ngày mà TSCĐ tăng giảm hoặc ngừng tham gia vào hoạt động kinh doanh.
1.5.3. Phương pháp tính khấu hao
Đơn vị có thể áp dụng các phương pháp tính khấu hao sau:
- Phương pháp tuyến tính cố định
- Phương pháp số dư giảm dần
SV: Lª Tó HuÖ 22 Líp: K 43/21.06
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa kÕ to¸n
- Phương pháp khấu hao theo số lượng sản phẩm.
Căn cứ khả năng đáp ứng các điều kiện áp dụng quy định cho từng
phương pháp trích khấu hao TSCĐ, doanh nghiệp được lưạ chọn các phương
Tỷ lệ khấu hao
nhanh
=
Tỷ lệ khấu hao TSCĐ theo
X
Hệ số điều
chỉnh
phương pháp đường thẳng
SV: Lª Tó HuÖ 23 Líp: K 43/21.06
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa kÕ to¸n
TSCĐ tham gia vào hoạt động kinh doanh được trích khấu hao theo
phương pháp số dư giảm dần có điều chỉnh phải thỏa mãn đồng thời các điều
kiện sau:
+ TSCĐ đầu tư mới
+ TSCĐ trong các DN thuộc các lĩnh vực có công nghệ đòi hỏi phải thay
đổi, phát triển nhanh. Các DN hoạt động có hiệu quả kinh tế cao được khấu
hao nhanh nhưng không quá 2 lần mức khấu hao xác định theo phương pháp
đường thẳng để nhanh chóng đổi mới công nghệ. Khi thực hiện trích khấu hao
nhanh, DN phải đảm bảo kinh doanh có lãi.
Tỷ lệ khấu hao nhanh ổn định trong suốt thời gian sử dụng TSCĐ.
1.5.3.3.Phương pháp khấu hao theo sản lượng
TSCĐ trong DN được trích khấu hao theo phương pháp khấu hao theo số
lượng, khối lượng sản phẩm như sau:
+ Căn cứ vào hồ sơ kinh tế kỹ thuật của TSCĐ, DN xác định tổng số
lượng, khối lượng sản phẩm sản xuất theo công suất thiết kế của TSCĐ, gọi
tắt là sản lượng theo công suất thiết kế.
+ Căn cứ tình hình hình thực tế sản xuất, doanh nghiệp xác định số
lượng, khối lượng sản phẩm thực tế sản xuất hàng tháng, hàng năm của
TSCĐ.
+ Xác định mức trích khấu hao trong tháng của TSCĐ theo công thức