Ban
Giám đốc
Phòng
Phục vụ
Khách hàng
Phòng
Kế toán
Tin học
Phòng
Hành
chính
Phòng
Giao dịch
Kho quỹ
Phòng
Giao dich
Đò quan
Phòng
Giao dịch
Lạc quần
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Xuất phát từ thực tiễn hoạt động của VPBank chi nhánh Nam Định:
Các năm 2006 và 2007 VPBank Việt Nam thực hiện chiến lược mở
rộng màng lưới hoạt động đến các tỉnh, thành phố loại 2 trực thuộc trung
ương. Sau một thời gian tiến hành khảo sát thị trường, Thành phố Nam
Định được VPBank lựa chọn để xây dựng chi nhánh cấp I.
Tháng 5/2007 Chi nhánh Nam Định chính thức khai trương đi vào
hoạt động. Bước đầu đi vào hoạt động quy mô còn nhỏ, thu nhập không
đủ trang trải các chi phí… Việc nhanh chóng đẩy mạnh hoạt động chiếm
lĩnh thị trường, nâng cao hiệu quả hoạt động, đảm bảo trang trải các chi phí
Luận văn tập trung đi sâu nghiên cứu các lý luận cơ bản về hoạt động
cho vay, mở rộng cho vay của ngân hàng thương mại. Luận văn còn
nghiên cứu về các chính sách phát triển, định hướng phát triển hoạt động
cho vay của VPBank Việt Nam. Luận văn đi sâu vào nghiên cứu thực trạng
về hoạt động cho vay và mở rộng cho vay của Vpbank Nam Định, hệ thống
ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Nam Định và nền kinh tế Nam
Định.
Từ kết quả nghiên cứu lý luận về hoạt động cho vay, kết hợp với các
nghiên cứu thực tiễn cho vay và mở rộng cho vay tại địa bàn Nam Định,
luận văn đã đưa ra các giải pháp để mở rộng cho vay một cánh an toàn và
hiệu quả phù hợp với định hướng phát triển của VPBank Việt Nam.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề cơ bản của hoạt động cho vay,
mở rộng cho vay của các ngân hàng thương mại, mối quan hệ giữa mở rộng
cho vay và chất lượng cho vay.
Nghiên cứu chính sách tín dụng của VPBank, nghiên cứu mục tiêu,
chiến lược của VPBank Việt Nam.
2
2
Nghiên cứu chiến lược và mục tiêu cho vay của VPBank Nam Định.
Nghiên cứu thực tiễn hoạt động cho vay của VPBank Nam Định trong
chính sách tín dụng của VPBank Việt Nam.
Luận văn còn nghiên cứu một số khía cạnh về hoạt động cho vay và
mở rộng cho vay của hệ thống ngân hàng thương mại trên địa bàn Thành
phố Nam Định.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp
nghiên cứu chủ yếu như sau:
Phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Phương pháp so sánh
1.1.1 Khái niệm cho vay của ngân hàng thương mại
Cho vay là một quan hệ kinh tế, trong quan hệ này người cho vay
chuyển giao quyền sử dụng tiền trong một thời gian nhất định cho người đi
vay. Khi đến hạn trả nợ người đi vay có nghĩa vụ hoàn trả số tiền gốc và lãi
vay.
Như vậy cho vay được hiểu như sau :
Cho vay phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa một bên là người cho vay
(NHTM) còn bên kia là người vay (khách hàng vay vốn )
1.1.2.Nguyên tắc cho vay của ngân hàng thương mại :
Nguyên tắc thứ nhất
Nguyên tắc quản lý mục đích tiền vay.
Theo nguyên tắc này mặc dù người đi vay phải thế chấp tài sản để
được vay tiền, nhưng người cho vay ( ngân hàng thương mại ) có quyền
kiểm tra việc sử dụng vốn vay đối với người vay. Người vay phải xây dựng
dự án, phương án xin vay vốn và phải có trách nhiệm thực hiện theo đúng
hợp đồng đã ký với ngân hàng. Mục đích của việc đề ra nguyên tắc này là
đảm bảo tính hoàn trả của đồng vốn đồng thời quản lý vốn đầu tư theo
đúng định hướng và cơ cấu đầu tư. Quản lý vốn đầu tư đúng định hướng từ
đó đảm bảo tính cân đối trong nền kinh tế.
Nguyên tắc thứ hai
Nguyên tắc hoàn trả :
Vốn vay phải được hoàn trả cả gốc và lãi cho ngân hàng sau thời
gian vay vốn. Thời gian vay vốn là khoảng thời gian kể từ khi người vay
lĩnh tiền vay lần đầu tiên đến khi trả hết nợ gốc và tiền lãi. Nguyên tắc hoàn
5
trả thể hiện ở hai khía cạnh: khía cạnh thứ nhất là số lượng hoàn trả Số
lượng hoàn trả sẽ bằng tổng số tiền gốc của khoản vay và số lãi phát sinh
trong quá trình vay vốn. Khía cạnh thứ hai là thời gian hoàn trả. Thời gian
hoàn trả phải thực hiện theo thoả thuận giữ hai bên được ghi trong hợp
đồng vay tiền.
lưu động.
Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn
Cho vay sản xuất kinh doanh
Cho vay sản xuất kinh doanh là loại cho vay mà tiền vay tham gia
vào quá trình sản xuất kinh doanh. Quá trình sản xuất kinh doanh là quá
trình bỏ vốn mua các yếu tố sản xuất sau đó thực hiện quá trình lao động để
kết hợp các yếu tố sản xuất thành sản phẩm và tiêu thụ, sau đó tiếp tục quá
trình tái sản xuất.
Đối với cho vay sản xuất kinh doanh có thể cho vay ngắn hạn, trung
hạn hay dài hạn. Thông thường đối với lĩnh vực lưu thông hàng hoá các
ngân hàng thường cho vay ngắn hạn.
Cho vay tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng là loại cho vay mà mục đích là để sử dụng vào
tiêu dùng.
Khác với cho vay sản xuất kinh doanh, cho vay tiêu dùng vốn vay bị
tiêu dùng dần không tạo ra sản phẩm hàng hoá, vì vậy cho vay tiêu dùng
phải có nguồn thu nợ độc lập với dự án, như nguồn tiền lương, nguồn thu
từ bán các tài sản khác của người vay…
Căn cứ vào biện pháp bảo đảm tiền vay
Cho vay có bảo đảm bằng tài sản.
7
Để thực hiện được nguyên tắc hoàn trả khi cho vay các ngân hàng
thường áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay. Đảm bảo tiền vay là việc
bằng cơ sở pháp lý tạo thêm cho ngân hàng một nguồn thu thứ hai độc lập
với nguồn thu từ tài sản cho vay. Các biện pháp đảm bảo tiền vay thông
thường là thế chấp, bảo lãnh, cầm cố…
Cho vay có bảo đảm bằng tài sản là loại cho vay mà hình thức bảo
đảm là tài sản.
Khi cho vay bảo đảm bằng tài sản song song với hợp đồng vay tiền
ngân hàng và khách hàng ký thêm hợp đồng bảo đảm bằng tài sản. Nội
tính trên số tiền vay ban đầu. Vì vậy mà lãi suất cho vay trả góp theo
phương thức này thường thấp hơn lãi suất cho vay các phương thức cho
vay khác. Sở dĩ cho vay trả góp theo phương thức này có lãi suất thấp bởi
vì nó được tính trên dư nợ ban đầu khi khách hàng nhận nợ, thực tế số dư
nợ giảm dần theo thời gian.
Phương thức cho vay trả góp thứ hai là tính lãi trên số dư nợ thực tế.
Khi cho vay khách hàng và ngân hàng thoả thuận số tiền gốc được chia đều
cho các kỳ trả nợ, số tiền lãi được tính trên số tiền gốc của kỳ trước. Như
vậy số tiền trả nợ không bằng nhau giữa các kỳ trả nợ do số tiền lãi nhỏ dần
theo dư nợ thực tế
Phương thức cho vay trả góp thường áp dụng đối với cho vay trung,
dài hạn. Phương thức cho vay trả góp mà tiền lãi được tính trên dư nợ ban
đầu sau đó chia đều cho các kỳ trả nợ hiện rất phổ biến khi cho vay tiêu
dùng, như cho vay mua ôtô trả góp, cho vay mua nhà trả góp…Ưu điểm
của phương thức này là khách hàng rất dễ nhớ và dễ tính toán bởi tính đều
đặn của nó.
Cho vay phi trả góp.
Cho vay phi trả góp là các phương thức cho vay mà quá trình trả nợ
gốc không đều, không đều về chu kỳ trả nợ và không đều về số tiền trả nợ
từng chu kỳ.
9
Căn cứ để xây dựng kế hoạch trả nợ giữa ngân hàng và khách hàng
là nguồn tra nợ, những dự án có nguồn trả nợ đều thì cho vay theo phương
thức cho vay trả góp. Những dự án không có nguồn trả nợ đều thì cho vay
theo các phương thức phi trả góp. Cho vay phi trả góp có rất nhiều phương
thức cho vay, phổ biến hiện nay là các phương thức cho vay mà quá trình
trả nợ gốc do hai bên thoả thuận, quá trình trả nợ lãi trả định kỳ hằng tháng
hoặc cùng kỳ với kỳ trả gốc. Căn cứ để ngân hàng và khách hàng xây dựng
kỳ hạn trả nợ là nguồn trả trả nợ của khách hàng, đặc điểm luân chuyển vốn
vay và khả năng nguồn vốn của ngân hàng..
theo hạn mức tín dụng là phương thức cho vay mà khách hàng và ngân
hàng thoả thuận với nhau một mức dư nợ tối đa mà khách hàng được duy
trì trong một khoảng thời gian nhất định. Trong phạm vi hạn mức tín dụng
về dư nợ khách hàng có thể rút vốn và trả nợ làm nhiều lần nhưng không
được vượt quá hạn mức dư nợ đã thoả thuận với ngân hàng. Hồ sơ cho vay
Theo hạn mức tín dụng được lập một lần trong suốt thời gian của hạn mức
tín dụng . Mỗi lần rút vốn khách hàng chỉ cần lập giấy nhận nợ mà thôi.
Thời gian duy trì hạn mức tín dụng thông thường là một năm. Hết thời hạn
hạn mức tín dụng ngân hàng sẽ tiến hành đánh giá lại quá trình vay vốn,
nếu thấy vốn vay an toàn hiệu quả ngân hàng có thể gia hạn hạn mức tín
dụng .
Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng thường áp dụng đối với
các khách hàng có nhu cầu vay vốn thường xuyên và vay vốn ngắn hạn.
Các phương thức cho vay khác
Còn rất nhiều các phương thức cho vay khác như cho vay trực tiếp,
cho vay gián tiếp, cho vay đồng tài trợ, cho vay theo dự án, cho vay nội tệ,
cho vay ngoại tệ, cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng…
Các phương thức cho vay mà các ngân hàng thương mại thực hiện
đối với khách hàng là nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu vốn của khách hàng.
11
Việc phân loại các phương thức cho vay lại tuỳ thuộc vào tiêu chí phân loại
của người nghiên cứu.
1.1.4. Quy trình cho vay
Quy trình cho vay là tập hợp những nội dung nghiệp vụ cơ bản, các
bước tiến hành từ khi bắt đầu đến khi kết thúc một món vay. Thông thường
hiện nay các ngân hàng thương mại trong quy trình cho vay đều có các
bước cơ bản sau:
- Khai thác khách hàng:
Muốn có khách hàng các ngân hàng phải thực hiện bước khai thác
và ngân hàng có đủ khả năng về nguồn vốn thì ngân hàng ra chấp thuận
cho vay. Ngược lại nếu không đáp ứng được các điều kiện cho vay thì từ
chối cho vay.
- Kiểm tra hoàn chỉnh hồ sơ cho vay và hồ sơ đảm bảo tiền vay:
Sau khi ra quyết định cho vay, nếu khách hàng được ngân hàng chấp
thuận cho vay, ngân hàng và khách hàng cùng phối hợp để xây dựng hồ sơ
cho vay và hồ sơ đảm bảo tiền vay. Hồ sơ chia thành 3 loại là hồ sơ do
khách hàng lập, hồ sơ do ngân hàng và khách hàng cùng lập và hồ sơ do
ngân hàng lập.
- Ký kết hợp đồng vay tiền và hợp đồng bảo đảm tiền vay:
Soạn thảo xong hồ sơ cho vay là việc ký kết các hợp đồng. Thông
thường mỗi món cho vay có hại loại hợp đồng là hợp đồng vay tiền và hợp
đồng bảo đảm tiền vay. Hợp đồng đảm bảo tiền vay tuỳ theo biện pháp bảo
đảm tiền vay và loại tài sản mà có những tên khác nhau, có thể là hợp đồng
thế chấp, hợp đồng cầm cố, hợp đồng bảo lãnh ngân hàng…
- Rải ngân và kiểm soát trong và sau khi cho vay :
Hoàn chỉnh hồ sơ cho vay, hợp đồng vay tiền và hợp đồng bảo đảm
tiền vay được ký kết, các bên tiến hành làm thủ tục rải ngân tiền vay. Rải
ngân tiền vay có thể rải ngân bằng tiền mặt hoặc bằng chuyển khoản. Rải
13
ngân bằng chuyển khoản không chỉ có ý nghĩa tiết kiệm lao động, chi phí
lưu thông tiền mặt mà còn có ý nghĩa kiểm soát trong quá trình cho vay.
Ngân hàng chỉ rải ngân bằng tiền mặt khi nghiệp vụ kinh tế phát sinh đòi
hỏi phải thanh toán bằng tiền mặt. Tiến độ rải ngân phải phù hợp với tiến
độ triển khai dự án.
- Kiểm soát quá trình sử dụng tiền vay, thu hồi nợ, cơ cấu lại kỳ hạn nợ, gia
hạn nợ:
Sau khi rải ngân, định kỳ khách hàng phải gửi báo cáo tình hình tài
chính cho ngân hàng cho vay. Ngân hàng phải thường xuyên theo dõi, kiểm
tra việc sử dụng tiền vay của khách hàng. Nếu ngân hàng phát hiện khách
tức là ngân hàng thực hiện tăng quy mô hoạt động cho vay trên cơ sở nâng
cao hiệu quả hoạt động và đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng.
* Sự cần thiết phải mở rộng cho vay
Trước thực trạng cạnh tranh gay gắt trong nền kinh tế thị trường, các
NHTM cũng như bất kể một doanh nghiệp nào khác đều phải tập trung các
nguồn lực để chiếm lĩnh thị trường. Ở Việt Nam do đặc điểm nền kinh tế
Việt Nam về cơ bản là nền kinh tế sản xuất nhỏ, nhu cầu các dịch vụ ngân
hàng nhất là các dịch vụ ngân hàng hiện đại còn rất hạn chế vì vậy hoạt
động dịch vụ của các ngân hàng thương mại chưa có điều kiện phát triển .
Hoạt động dịch vụ chưa có điều kiện phát triển nên hoạt động cho vay có
vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động của các NHTM, mở rộng cho
vay của các NHTM không chỉ đem lại lợi ích cho chính họ mà còn có tác
dụng thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển. Vì vậy, mở rộng cho
vay đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay là nhu cầu bức
thiết.
Lợi ích cụ thể của mở rộng cho vay đem lại cho các NHTM được cụ
thể như sau
- Mở rộng cho vay làm gia tăng lợi nhuận của các ngân hàng thương mại.
15
Mục tiêu hoạt động của các ngân hàng thương mại là lợi nhuận. Các
ngân hàng thương mại đều mong muốn có lợi nhuận ngày càng tăng. Muốn
có lợi nhuận ngày càng cao phải gia tăng các hoạt động trong đó có việc gia
tăng cho vay. Đối với các ngân hàng thương mại truyền thống hoạt động
chủ yếu là các nghiệp vụ truyền thống thì việc mở rộng cho vay còn có ảnh
hưởng lớn hơn đối với lợi nhuận, thậm chí còn là nhân tố quyết định đến
gia tăng lợi nhuận.
Ở Việt Nam các ngân hàng thương mại hầu hết là các ngân hàng
Thương mại truyền thống, hoạt động thu hút nguồn vốn và cho vay là hoạt
động có quy mô lớn nhất. Muốn gia tăng lợi nhuận thì việc mở rộng cho
vay là tất yếu.
nhiêu thương hiệu của mình. Mở rộng cho vay khiến thương hiệu của ngân
hàng tăng lên bao nhiêu? Việc tính toán chỉ tiêu này rất phức tạp rất khó có
thể lượng hoá thành những số liệu chính xác. Tuy không trực tiếp nhưng
giá cả cổ phiếu của ngân hàng cũng ít nhiều phản ánh được chỉ tiêu này.
Mức gia tăng sự hài lòng của khách hàng vay vốn.
Chỉ tiêu này cho biết khi thực hiện mở rộng cho vay làm cho sự thoả
mãn của khách hàng vay vốn gia tăng bao nhiêu. Rõ ràng khi mở rộng cho
vay sẽ gia tăng số lượng khách hàng vay vốn, làm cho nhiều người được
vay hơn, giải quyết được nhiều nhu cầu đối với khách hàng hơn nhưng
không thể lượng hoá và đo lường được nó. Nếu gián tiếp thì có thể dùng
chỉ tiêu mức gia tăng số lượng khách hàng vay vốn để đo lường.
Mức gia tăng năng lực cạnh tranh
Chỉ tiêu này phản ánh sau khi mở rộng cho vay năng lực cạnh tranh
của ngân hàng tăng lên bao nhiêu. Rõ ràng khi mở rộng cho vay ngân hàng
sẽ gia tăng được doanh số cho vay, gia tăng dư nợ tiền vay, gia tăng lợi
nhuận từ hoạt động cho vay… các nhân tố đó làm gia tăng năng lực cạnh
tranh của các ngân hàng. Do năng lực cạnh tranh của ngân hàng bị tác động
17
bởi rất nhiều yếu tố vì vậy mà khó có thể đo lượng một cách chính xác
Được. Với các ngân hàng cổ phần thì giá trị cổ phiếu của nó phản ánh khá
sát với đánh giá của công chúng đối với ngân hàng đó, đó cũng có thể làm
căn cứ để đánh giá gián tiếp năng lực cạnh tranh. Chỉ tiêu lợi nhuận cũng là
chỉ tiêu phản ánh tổng quát năng lực hoạt động của một ngân hàng, chỉ tiêu
lợi nhận cũng có thể dùng để đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng.
* Nhóm chỉ tiêu định lượng
Các chỉ tiêu như doanh số cho vay, dư nợ tiền vay, kết quả tài chính
của hoạt động cho vay đều là những chỉ tiêu có thể phản ánh mở rộng cho
vay. Với các điều kiện bình thường thì khi cho vay được mở rộng sẽ kéo
theo gia tăng về doanh số cho vay, gia tăng về dư nợ, gia tăng về thu nhập,
chi phí, kết quả tài chính từ hoạt động cho vay.
mà khách hàng đang nợ ngân hàng vào một thời điểm nhất định ( thường là
cuối ngày, cuối tháng, cuối quý, cuối năm).
Nhóm chỉ tiêu dư nợ có các chỉ tiêu dẫn suất như sau:
+ Dư nợ cuối kỳ = DN đầu kỳ + DSCV trong kỳ - DS thu nợ trong kỳ
+ Mức gia tăng dư nợ
Mức gia tăng dư nợ = dư nợ kỳ này – dư nợ kỳ trước.
+ Tốc độ tăng trưởng dư nợ.
Dư nợ kỳ này – Dư nợ kỳ trước
Tốc độ tăng dư nợ =
_________________________________ ______
X 100%
Dư nợ kỳ trước
Chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng dư nợ phản ánh sự gia tăng dư nợ cho vay so
với một điểm mốc thời gian nhất định (cuối kỳ trước, cùng kỳ năm
trước…).
Chỉ tiêu dư nợ, mức gia tăng dư nợ, tốc độ tăng trưởng dư nợ là
những chỉ tiêu rất cơ để đánh giá mở rộng cho vay. Suy cho đến cùng mục
tiêu của mở rộng cho vay là tăng thu nhập từ hoạt động cho vay. Thu nhập
từ hoạt động cho vay chủ yếu là thu lãi. Khối lượng lãi tiền vay được xác
định bằng dư nợ nhân với lãi suất cho vay. Nếu bỏ qua yếu tố lãi suất cho
vay thì thu lãi tiền vay tỷ lệ thuận với quy mô dư nợ.
19
Nhìn vào công thức xác định dư nợ tiền vay cho ta thấy, muốn gia
tăng dư nợ cần phải có mức gia tăng doanh số cho vay lớn hơn mức gia
tăng doanh số thu nợ. Doanh số thu nợ là yếu tố cố định cho mới thời kỳ,
nó phụ thuộc vào số lượng nợ đáo hạn trong kỳ đó. Muốn gia tăng dư nợ
thì phải đẩy mạnh cho vay.
Để chi tiết hơn người ta còn có thể tính toán dư nợ bình quân của
một thời kỳ. Dư nợ bình quân là trung bình cộng dư nợ của các thời điểm
trong kỳ phân tích.
Lợi nhuận =
_________________________________ ______
X 100%
Cho vay LNCV kỳ trước
Nhón chỉ tiêu liên quan đến giảm nợ xấu.
Nợ xấu là những khoản nợ đã xuất hiện khả năng xảy ra rủi ro cao.
Chỉ tiêu nợ xấu là một trong những chỉ tiêu đo lường mở rộng cho vay về
mặt chất lượng.
Theo quy định hiện hành thì dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng
được phân chia thành 05 nhóm: từ nhóm 1 đến nhóm 5 theo mức độ rủi ro
khác nhau. Nợ xấu là tổng dư nợ của các khoản cho vay được phân loại từ
nhóm 3 đến nhóm 5. Cơ sở pháp lý để các NHTM tiến hành phân loại dư
nợ là quyết định 493 của ngân hàng Nhà nước. Theo quyết định 493 của
ngân hàng Nhà nước căn cứ để phân loại dư nợ thành 5 nhóm là khả năng
xảy ra rủi ro của các khoản cho vay mà thể hiện ra ngoài chính là thời gian
đã các khoản vay đã quá hạn theo hợp đồng đã ký với các NHTM
Đối với các ngân hàng thương mại thì việc quản lý chất lượng tín
dụng có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mở rộng cho vay. Nếu quản lý
tốt chất lượng cho vay thì đó là nhân tố thúc đẩy mở rộng cho vay, ngược
lại nếu quản lý không tốt chất lượng tín dụng thì sẽ tác động tiêu cực đến
mở rộng cho vay.
Liên quan đến nợ xấu có các chỉ tiêu dẫn suất như sau:
+ Tổng dư nợ xấu = tổng dư nợ các khoản cho vay được xếp loại từ nhóm 3
đến nhóm 5.
+ Mức giảm nợ xấu
21
Nếu đem so sánh tổng dư nợ xấu giữa các thời kỳ ta có chỉ tiêu mức giảm
nợ xấu
Mức giảm nợ xấu = dư nợ xấu kỳ trước – dư nợ xấu kỳ này.
tố thúc đẩy sán xuất kinh doanh từ đó mà tạo điều kiện mở rộng cho vay.
Không chỉ có chính trị trong nước mà tình hình chính trị quốc tế
cũng tác động đến mở rộng cho vay. Toàn cầu hoá là xu thế tất yếu, các nền
kinh tế của các quốc gia hiện nay đều phát triển theo xu hướng phát triển
nền kinh tế mở để tranh thủ cơ hội phát triển kinh tế. Nền kinh tế mở chịu
ảnh hưởng rất lớn của nền kinh tế thế giới. Các biến động thị trường thế
giới ngay lập tức tác động đến nền kinh tế trong nước, và thông qua đó tác
động đến giá cả và tác động đến sản xuất, từ sản xuất sẽ tác động đến mở
rộng cho vay của ngân hàng. Nền kinh tế thế giới phát triển ổn định là nhân
tố thúc đẩy mở rộng cho vay.
* Môi trường kinh tế vĩ mô
Môi trường kinh tế vĩ mô cũng có ảnh hưởng đến mở rộng cho vay.
Xét cho đến cùng thì cái gốc để mở rộng cho vay an toàn và hiệu quả
vẫn là phát triển kinh tế , khi kinh tế phát triển nó là nhân tố thúc đẩy mở
rộng cho vay và ngược lại, khi kinh tế suy thoái sẽ tác động tiêu cực đến
Mở rộng cho vay. Đến lượt kinh tế phát triển cũng chịu tác động của hàng
loạt các nhân tố khác mà các nhân tố đó không còn chỉ đơn thuần là kinh tế
nữa như các vấn đề về xã hội, an ninh, quốc phòng….
Mặt khác khi nền kinh tế phát triển ổn định niềm tin tiêu dùng của
công chúng tăng cao, đó là nhân tố mở rộng cho vay tiêu dùng.
Các biến số kinh tế vĩ mô như: chỉ số CPI, các chỉ số thị trường
chứng khoán, tăng trưởng kinh tế, cán cân thương mại… là những nhân tố
có ảnh hưởng đến mở rộng tín dụng . Có thể ví nền kinh tế như một cơ thể
trong đó mỗi biến số vĩ mô là một cơ quan trong một cơ thể, vì vậy khi có
sự thay đổi của biến số này sẽ ảnh hưởng đến biến số khác và ngược lại.
Môi trường kinh tế vĩ mô ổn định và phát triển tạo điều kiện cho các các
nhà đầu tư tiến hành đầu tư, nhu cầu vốn đầu tư tăng tạo tiền đề để các
ngân hàng thương mại mở rộng cho vay.
23
*Môi trường pháp lý
Yếu tố mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng cũng ảnh hưởng đến
mở rộng cho vay . Mức độ cạnh tranh càng khốc liệt thì khả năng mở rộng
cho vay càng khó khăn và ngược lại mức độ cạnh tranh càng thấp thì khả
năng mở rộng cho vay càng dễ.
Có nhiều ngân hàng cùng hoạt động trên cùng một địa bàn thì thị
trường sẽ bị phân chia cho các ngân hàng. Tỷ lệ phân chia khách hàng giữa
các ngân hàng tuỳ thuộc vào năng lực cạnh tranh của từng ngân hàng. Năng
lực cạnh tranh mạnh sẽ chiếm được nhiều thị trường, năng lực cạnh tranh
yếu sẽ bị hạn chế thị trường. Thường thì các ngân hàng luôn luôn xây dựng
cho chính mình một chính sách khách hàng và một thị trường mục tiêu để
từ đó thiết kế sản phẩm đặc thù để mở rộng cho vay.
1.3.2. Nhân tố chủ quan
* Năng lực và uy tín của ngân hàng.
Muốn mở rộng cho vay ngân hàng phải có đủ năng lực: năng lực về
nguồn vốn, năng lực về nhân lực, màng lưới phân phối, công nghệ …
Về nguồn vốn: Quy mô vốn của ngân hàng quyết định mở rộng cho
vay, chỉ khi có nguồn vốn mới có thể mở rộng được cho vay. Vốn tự có của
ngân hàng thương mại thể hiện sức mạnh về tài chính của ngân hàng đó,
vốn tự có càng cao chứng tỏ ngân hàng đó càng mạnh. Để quản lý quy mô
hoạt động thì các ngân hàng thương mại chỉ được phép huy động một
lượng vốn bằng một tỷ lệ nhất định so với vốn tự có ( ở Việt Nam là 20
lần ). Vì vậy mà vốn tự có lớn sẽ là điều kiện để huy động vốn với quy mô
lớn. Mặt khác để quản trị rủi ro ngân hàng nhà nước đưa ra các giới hạn
như giới hạn cho vay đối với một khách hàng ( không quá 15% vốn tự có),
tỷ lệ dùng vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn, tỷ lệ dùng vốn tự có để
mua sắm tài sản cố định. Những nhân tố đó trực tiếp hay gián tiếp tác động
đến mở rộng cho vay của các ngân hàng thương mại.
25