Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
Hiện nay xu hớng toàn cầu hoá, khu vực hoá đang diễn ra mạnh mẽ vì
vậy hoạt động ngoại thơng chiếm vị trí quan trọng và có tính quyết định đến
toàn bộ quá trình phát triển kinh tế xã hội và quá trình hội nhập vào nền kinh tế
khu vực và thế giới.
Nhng bản thân hoạt động ngoại thơng ở nớc ta hiện nay còn chứa đựng
nhiều những bất cập nh tình trạng xuất khẩu bừa bãi thiếu định hớng, gian lận
thơng mại, trốn thuế..... Vì vậy để nâng cao hiệu qủa của hoạt động ngoại thơng
góp phần phát triển kinh tế thì cần phải có vai trò quản lý của nhà nớc. Vai trò
quản lý của nhà nớc ở đây phải mang tính định hớng và khuyến khích hoạt
động ngoại thơng. Trong qúa trình thực hiện vai trò đó ở nhiều lúc, nhiều nơi
nhà nớc cha thực sự thực hiện đợc vai trò định hớng và khuyến khích cho hoạt
động ngoại thơng tức là hoạt động quản lý của nhà nớc đối với hoạt động ngoại
thơng còn chứa đựng nhiều bất cập vì vậy em xin chọn đề tài này, nhng do hạn
chế về kiến thức và do phạm vi của đề tài em chỉ xin đề cập đến vai trò quản lý
nhà nớc đối với hoạt động xuất khẩu.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Lệ Thuý đã tận
tình hớng dẫn em và em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong
khoa cũng nh các bạn lớp quản lý kinh tế 39B đã giúp em hoàn thành đề tài
này.
Phần I
Vai trò của hoạt động xuất khẩu trong
phát triển kinh tế
1. Đóng góp của Xuất khẩu vào tăng trởng kinh tế :
Từ khi Đảng và Nhà nớc ta chủ trơng mở cửa nền kinh tế thì nền kinh tế
nớc ta đã có những bớc phát triển đáng kể đặc biệt trên thị trờng xuất khẩu.
Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu của nớc ta đã tăng trởng vợt bậc, năm 1990
kim ngạch xuất khẩu đạt 2300 triệu USD và thời kỳ 1991 - 1995 tốc độ tăng
kim ngạch xuất khẩu bình quân hàng năm đạt 28%/ năm, năm 1996 tăng
31,1% so với năm 1995, năm 1997 tăng 22,7% so với năm 1996, năm 1998 do
1991 4,8% 1995 9,7%
1992 6,1% 1996 6,9%
1993 6,0% 1997 4,4%
1994 9,0% 1998
2. Đóng góp của hoạt động xuất khẩu vào nâng cao chất lợng sản
phẩm :
Trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực, hàng hoá
các nớc phải chịu sự cạnh tranh khốc liệt với hàng hoá các nớc khác và gặp
phải sự cản trở quyết liệt của các hàng rào thuế quan và phi thuế quan của các
nớc đặt ra vì vậy để tồn tại, đứng vững và phát triển đợc thì các nớc phải không
ngừng nâng cao chất lợng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm... để tạo sức cạnh
tranh mạnh mẽ cho hàng hoá nớc mình nhằm đứng vững, phát triển trên thị tr-
ờng và chống trả đợc sự cạnh tranh quyết liệt của hàng hoá các nớc khác.
Riêng đối với Việt Nam để hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực
thì với điều kiện là một nớc đi sau và có trình độ công nghệ và năng lực công
nghệ thấp kém nếu chất lợng sản phẩm sản xuất ra còn cha cao, giá thành sản
phẩm cao nên sức cạnh tranh của hàng hoá còn rất thấp so với hàng hoá của các
nớc khác trên thế giới, vì vậy để thực hiện thành công quá trình hội nhập vào
nền kinh tế thế giới và khu vực thì nớc ta phải không ngừng nâng cao chất lợng
hàng hoá, hạ giá thành sản phẩm... tạo sức cạnh tranh cho hàng hoá trong nớc,
đặc biệt là khi nớc ta tham gia AFTA, APEC, WTO thì hàng hoá của nớc ta
càng phải chịu áp lực cạnh tranh rất lớn trên thị trờng thế giới và khu vực cũng
nh thị trờng trong nớc vì vậy nâng cao chất lợng hàng hoá, hạ giá thành sản
3
phẩm tạo sức cạnh tranh mạnh mẽ cho hàng hoá của nớc ta là yêu cầu mang
tính tất yếu khi tham gia hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực.
Vậy thông sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trờng xuất khẩu tức là thông
qua tiến hành hội nhập kinh tế mà chất lợng sản phẩm hàng hoá trên toàn thế
giới nói chung và của nớc ta nói riêng ngày một đợc nâng cao.
3. Đóng góp của hoạt động xuất khẩu vào chuyển dịch cơ cấu kinh
làm, nâng cao đời sống nhân dân
Tác động của xuất khẩu đến đời sống bao gồm rất nhiều mặt,trớc hết sản
xuất hàng xuất khẩu là nơi thu hút hàng triệu lao động vào làm việc và có thu
nhập không thấp. Xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu
dùng thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng ngày một phong phú thêm nhu cầu
tiêu dùng của nhân dân.
ở nớc ta hiện nay, kể từ khi Đảng và Nhà nớc thực hiện chính sách mở
cửa nền kinh tế thì kim ngạch xuất khẩu của nớc ta không ngừng tăng lên đã
tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nớc phát triển, tạo nguồn thu cho ngân
sách và giải quyết công ăn việc làm cho hàng triệu lao động.
5. Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế
đối ngoại :
Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại đã làm cho nền kinh tế nớc
ta gắn chặt với phân công lao động quốc tế. Thông thờng hoạt động xuất khẩu
ra đời sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác nên nó thúc đẩy các quan
hệ này phát triển. Chẳng hạn, xuất khẩu và sản xuất hàng hoá thúc đẩy các
5
quan hệ tín dụng, đầu t, vận tải quốc tế.... đến lựơt nó chính các quan hệ kinh tế
đối ngoại lại tạo điều kiện để cho mở rộng xuất khẩu.
Tóm lại, đẩy mạnh xuất khẩu đợc coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lợc để
phát triển kinh tế, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc nhất là trong
điều kiện hiện nay xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá đang diễn ra mạnh mẽ trên
toàn thế giới và nó là cơ hội cho mỗi quốc gia hội nhập vào nền kinh tế thế
giới và khu vực.
Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu công nghiệp hoá đất n-
ớc đòi hỏi phải có số vốn rất lớn để nhập khẩu máy móc, thiết bị kỹ thuật vật t
và công nghệ tiên tiến.
Nguồn vốn nhập khẩu có thể sử dụng từ các nguồn
- Liên doanh đầu t nớc ngoài với nớc ta
- Thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ
gạo đứng vị trí thứ 2 trên toàn thế giới, xuất khẩu ca phê vối đứng vị trí thứ 2
trên thế giới...
Vị trí địa lý mang lại nhiều thuận lợi cho Việt Nam trong việc phát triển
kinh tế nói chung và phát triển hoạt động ngoại thơng nói riêng vì Việt Nam
nằm ở khu vực có nhiều đờng hàng không và hàng hải, đã tạo điều kiện thuận
lợi cho việc phát triển dịch vụ vận tải quốc tế và xây dựng các trung tâm thơng
mại, tuy nhiên điều này đòi hỏi đầu t vốn lớn vào kết cấu hạ tầng tức là phải có
một hệ thống cơ sở hạ tầng tơng đối phát triển nhng thực trạng của hệ thống cơ
sở hạ tầng của nớc ta hiện nay hết sức lạc hậu điều này đã tác động xấu đến
hoạt động sản xuất nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng.
7
Lực lợng lao động phong phú và dồi dào là tiềm năng lớn của đất nớc,
mức lơng quá thấp cũng là một lợi thế đáng kể trong việc hạ giá thành sản
phẩm để tạo sức cạnh tranh mạnh mẽ cho hàng hoá của nớc ta. Từ đó mà nó có
vai trò quyết định đến sự tồn tại, đứng vững và phát triển của hàng nớc ta trên
thị trờng trong nớc cũng nh trên thị trờng thế giới, tức là nó là nhân tố quan
trọng quyết định đến việc mở rộng thị trờng cho hàng xuất khẩu của nớc ta.
Tuy nhiên, lực lợng lao động của nớc ta có chất lợng thấp cần phải đẩy mạnh
đào tạo kỹ năng nghề nghiệp và quản lý, mặt khác lực lợng lao động của nớc ta
còn cha đợc khai thác một cách có hiệu quả. Cẩn phải khai thác có hiệu quả
hơn để tạo lợi thế so với các nớc khác trong việc phát triển sản xuất nói chung
và thúc đẩy hoạt động xuất khẩu.
Mặt khác thông qua quá trình đổi mới thì nền kinh tế nớc ta đã có sự
chuyển biến tích cực về mọi mặt kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội có bớc phát
triển nhất định, tốc độ phát triển kinh tế cao và ổn định, môi trờng kinh tế ổn
định,..... đã tác động góp phần đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu làm cho kim
ngạch xuất khẩu của nớc ta tăng trung bình 22%/ năm.
2. Môi trờng Chính trị - xã hội
Cùng với quá trình mở cửa để hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu
vực. Đảng và Nhà nớc ta đã chủ trởng phát triển hoạt động ngoại thơng theo h-
xuất khẩu nói riêng.
Tạo khả năng mở rộng thị trờng ra nớc ngoài trên cơ sở các hiệp định th-
ơng mại đã ký kết với các nớc trong khu vực và trên thế giới. Nếu thực hiện đầy
đủ các cam kết trong AFTA thì đến năm 2006 hàng công nghiệp chế biến có
xuất xứ từ nớc ta sẽ đợc tiêu thụ trên tất cả thị trờng các nớc ASEAN với dân
9
số trên 500 triệu ngời và GDP trên 700 tỷ USD. Nếu sau khi nớc ta ra nhập
WTO thì sẽ đợc hởng u đãi dành cho các nớc đang phát triển theo quy chế tối
huệ quốc trong quan hệ với 132 nớc thành viên của tổ chức này do vậy hàng
hoá của nớc ta xuất khẩu vào các nớc đó đợc dễ dàng hơn, từ năm 2020 hàng
rào thuế quan của các nớc APEC sẽ đợc dỡ bỏ. Đây cũng là cơ hội để nớc ta
xuất khẩu hàng hoá vào các nớc thành viên APEC.
Toàn cầu hoá đã và đang tạo điều kiện, cơ hội cho nớc ta đẩy mạnh xuất
khẩu để khai thác triệt để lợi thế so sánh về lao động, tài nguyên của nớc ta để
phát triển sản xuất trong nớc thông qua đó đa dạng hoá các mặt hàng xuất khẩu
và đáp ứng đợc nhu cầu của thị trờng thế giới.
2. Mặt khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi thì thông qua quá trình toàn cầu hoá thì môi tr-
ờng thế giới cũng đặt ra cho hoạt động xuất khẩu của nớc ta không ít những
khó khăn và thách thức.
Tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế để đi đến tự do hoá thơng mại
tức là chấp nhận t cách thành viên cạnh tranh ngang bằng với các nớc khác, nh-
ng hiện nay nớc ta vẫn còn bị tụt hậu khá xa về kinh tế ( nhất là trình độ công
nghệ và thu nhập bình quân đầu ngời ) vì vậy chất lợng hàng hoá của nớc ta
còn kém xa các nớc khác do đó mà sức cạnh tranh của hàng hoá nớc ta còn
kém xa sức cạnh tranh của hàng hoá các nớc khác.
Vì vậy hàng hoá của nớc ta phải cạnh tranh ngang bằng với hàng hoá n-
ớc khác thì đó là một khó khăn rất lớn cho hàng hoá nớc ta tồn tại, đứng vững,
phát triển đợc trên thị trờng trớc sự cạnh tranh quyết liệt của hàng hoá các nớc
khác.
đợc thành lập. Trong điều kiện thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm quản lý và khả
năng vơn tầm hoạt động ra thị trờng thế giới của từng doanh nghiệp còn hạn
11