MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng
yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Nghị quyết số 29-NQ/TW của Hội nghị
Trung ương 8 khóa XI cũng xác định: “Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát
triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi
dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo
dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, năng
lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng
sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời”. Và để thực hiện những yêu cầu
trên, toàn ngành Giáo dục – Đào tạo cần: “Đa dạng hóa nội dung, tài liệu học tập,
đáp ứng yêu cầu của các bậc học, các chương trình giáo dục, đào tạo và nhu cầu học
tập suốt đời của mọi người. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học
theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến
thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ
máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để
người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ
học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động
xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin
và truyền thông trong dạy và học”.
Trong lí luận và phương pháp dạy học chung, hoạt động giáo dục ngoài giờ
lên lớp (còn gọi là hoạt động ngoại khoá) từ lâu đã được xác định như một phần
không thể thiếu của hoạt động giáo dục. Điều lệ Trường trung học cơ sở, trường
trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học (Ban hành kèm theo
Quyết định số 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và
Đào tạo), điều 26 cũng nêu rõ: “Các hoạt động giáo dục bao gồm hoạt động trong
giờ lên lớp và hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm giúp học sinh phát triển toàn diện
về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá
nhân, tính năng động và sáng tạo, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong khoảng hai mươi năm trở lại đây, vấn đề ngoại khoá văn học đã được
một số công trình nghiên cứu chú ý, đề cập.
Đáng chú ý nhất là trong giáo trình Phương pháp dạy học Văn (Phan Trọng
Luận chủ biên, NXB ĐHQGHN, 1996), toàn bộ nội dung chương IX được dành cho
Hoạt động ngoại khoá văn học ở trường phổ thông trung học (tr.378-390). Ở đây,
những định hướng cơ bản của hoạt động ngoại khoá văn học được các tác giả triển
khai qua các tiểu mục: 1) Vị trí, mục đích, nhiệm vụ của hoạt động ngoại khoá văn
học ở nhà trường PTTH trong điều kiện mới; 2) Khả năng đào tạo, giáo dục học
sinh qua hoạt động ngoại khoá văn học ở PTTH; 3) Nguyên tắc hoạt động ngoại
khoá văn học ở PTTH; 4) Hình thức hoạt động ngoại khoá văn học ở PTTH. Tuy
nhiên, trong những giáo trình, tài liệu hướng dẫn về phương pháp dạy học văn xuất
bản trong thời gian gần đây (Phan Trọng Luận, Trương Dĩnh, Phương pháp dạy học
Văn, NXB ĐHSP, 2004; Nguyễn Thanh Hùng, Lê Thị Diệu Hoa, Phương pháp dạy
học Ngữ văn THPT, những vấn đề cập nhật, NXB ĐHSP, 2006, v.v.), nội dung
ngoại khoá văn học không được chính thức đề cập đến.
Trong số các bài báo, Trần Thanh Bình có bài Tổ chức và hướng dẫn học
sinh đọc ngoại khóa văn học (Tạp chí Giáo dục số 223, tháng 10/2009) đề cập đến
cách thức triển khai vấn đề đọc ngoại khoá - một nội dung trong hoạt động ngoại
khoá văn học. Cũng với cách tiếp cận tương tự, Nguyễn Trọng Hoàn trong bài Một
số vấn đề về đọc hiểu văn bản Ngữ văn (Tạp chí Giáo dục số 156, tháng 4/2004),
Trần Thanh Bình trong bài Mấy ý kiến về đọc hiểu văn bản văn học Việt Nam lớp
10 chương trình chuẩn (Tạp chí Dạy và học ngày nay, tháng 11/2007 v.v.) đều đánh
giá cao vai trò hỗ trợ tích cực của các “văn bản phụ” được tiếp nhận qua chương
trình ngoại khoá đối với hoạt động đọc hiểu các văn bản văn học trong chương trình
chính khoá v.v.
Gần đây, qua một số hội thảo như: “Hiệu quả của hoạt động ngoại khóa đối
với việc nâng cao chất lượng dạy- học trong nhà trường phổ thông” của Viện
- Xác định cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc xây dựng chương trình
ngoại khoá văn học cho học sinh lớp 11 trường THPT.
- Đề xuất quy trình, cách thức xây dựng và vận dụng chương trình ngoại
khoá văn học cho học sinh lớp 11 trường THPT trên cả hai phương diện: đọc ngoại
khoá và hoạt động ngoại khoá.
- Thực nghiệm: Thiết kế một kế hoạch triển khai thực hiện cụ thể nhằm minh
hoạ cho quy trình đã xây dựng; tổ chức thực nghiệm để rút kinh nghiệm, đánh giá
kết quả và tính khả thi của việc ứng dụng đề tài vào thực tiễn.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: giáo viên Ngữ văn, học sinh Trường THPT Phạm
Thái Bường- thành phố Trà Vinh và một số trường THPT trong tỉnh.
- Phạm vi nghiên cứu: chương trình Ngữ văn lớp 11 THPT (chương trình
chuẩn).
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: được sử dụng để nghiên cứu lịch sử vấn
đề và phát hiện, rút ra những kết luận cần thiết về cơ sở lí luận thông qua việc tìm
hiểu các tư liệu, giáo trình, các bài nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến đề tài.
- Phương pháp điều tra, khảo sát: được sử dụng để thu thập những tư liệu
thực tế về tình hình dạy học LV ở địa phương.
- Phương pháp thực nghiệm: thực nghiệm các giáo án đề xuất để rút kinh
nghiệm, kiểm nghiệm khả năng ứng dụng cũng như xem xét mức độ đúng đắn, tính
khả thi của đề tài.
- Phương pháp thống kê: được sử dụng để xử lí các số liệu thu thập trong quá
trình khảo sát, thực nghiệm, hỗ trợ cho phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm đạt
tới kết luận chính xác, khách quan.
giáo dục nói chung và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nói riêng. Một
trong số đó là các quan điểm về giáo dục học có liên quan tới hoạt động ngoại
khóa.
1.1.1.1. Nguyên lí giáo dục
Đầu tiên, phải nói tới nguyên lí giáo dục được quán xuyến trên toàn bộ
các nền giáo dục và xuyên suốt trong hệ thống giáo dục của nước ta. Nguyên
lí ấy được ghi rõ trong luật giáo dục: “Hoạt động giáo dục phải được thực
hiện theo nguyên lí học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản
xuất, lí luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục
gia đình và giáo dục xã hội” (Luật Giáo dục 2005, điều 3). Theo nguyên lí
này, hoạt động học không chỉ hiểu lí thuyết mà phải biết áp dụng thực tế. Nói
về điều này, Bác cũng đã có hình ảnh so sánh thú vị. Người chỉ ra: “Lý luận
phải đem ra thực hành. Thực hành phải nhằm theo lý luận. Lý luận cũng như
cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để bắn. Có tên mà
không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên. Lý luận cốt để áp
dụng vào thực tế. Chỉ học thuộc lòng, để đem loè thiên hạ thì lý luận ấy cũng
vô ích. Vì vậy, chúng ta phải gắng học, đồng thời học thì phải hành” [16]. Từ
đó, ta thấy, học là một hoạt động nhận thức tích cực. Việc học của mỗi người
bao giờ cũng gắn với một động cơ nhất định. Chính động cơ học tập quyết
định phương hướng, thái độ, nội dung, phương pháp học tập. Còn “hành” là
sự vận dụng những điều đã học vào giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt
ra. Trong quá trình học tập “hành” có tính chất toàn diện với mức độ khác
nhau. Đó là sự vận dụng những hiểu biết để giải quyết bài tập , thực hành
trong phòng thí nghiệm, ở vườn trường… Đó còn là sự vận dụng tri thức đã
học để tổ chức cuộc sống của mình, của môi trường xung quanh mình, làm
cho nó trở nên phong phú, đẹp đẽ. Từ mỗi trường phổ thông cần có chiến
lược và kế hoạch cho các nội dung phối hợp ở ba phương diện: kiến thức, thái
độ, kỹ năng. Những nội dung phối hợp này có thể dựa vào mục tiêu, nhiệm
ko biết rèn luyện bản thân. Bên cạnh việc đề cao giữa thu nhận kiến thức và
thực hành, UNESCO đã chỉ ra:" học để chung sống, học để tự khẳng định
mình". Đây chính là mục đính học tập rất nhân văn. Học tập giúp ta hiểu hơn
về thế giới xung quanh, làm cho những trạng thái tâm hồn ta trở nên linh hoạt
hơn, đa dạng phong phú hơn. Ta đã biết mỉm cười trước niềm vui của người
khác, biết đau trước những nỗi đau của con người, biết giúp đỡ, chia sẻ, cảm
thông và tìm được chính mình. Tri thức tự nó đã là sức mạnh giúp cho con
người rộng lượng hơn, vị tha hơn và tự tin hơn trong cuộc sống. Như vậy, học
hiện nay không phải chỉ để thi cử với nội dung bó hẹp ở trường lớp, học trên
sách vở mà còn học để có kĩ năng sống tốt hơn. Mục đích học tập này, ta có
thể tìm thấy trong hoạt động ngoại khóa.
Bằng những luận điểm nền tảng trên, ta có thêm kim chỉ nam chỉ dẫn
toàn bộ các hoạt động của hệ thống giáo dục nói chung và hoạt động giáo dục
ngoài giờ lên lớp nói riêng đồng thời từ đó ta khẳng định rõ hơn vai trò quan
trọng của hoạt động ngoại khóa.
1.1.2. Cơ sở lí luận dạy học:
Để xây dựng chương trình ngoại khóa văn học, chúng ta không chỉ dựa
trên cơ sở giáo dục học mà còn dựa trên cơ sở lí luận dạy học. Đây là cơ sở lí
luận mang tính định hướng cho hoạt động ngoại khóa. Trong đó, ta đi sâu vào
lí luận về hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Đây là phần lí thuyết nền tảng
của hoạt động ngoại khóa văn học.
1.1.2.1. Khái niệm hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Theo nghĩa rộng, khái niệm hoạt động giáo dục bao gồm hoạt động giáo
dục trong giờ lên lớp (hoạt động dạy học) và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp; theo nghĩa hẹp, hoạt động giáo dục dùng để chỉ riêng các hoạt động giáo
dục ngoài giờ lên lớp (hoạt động tập thể, hoạt động giáo dục theo chủ đề, hoạt
động hướng nghiệp, hoạt động giáo dục nghề phổ thông…). Hoạt động giáo
dục ngoài giờ lên lớp là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các bộ
tiếp cận khác nhau.
1.1.2.2. Vai trò của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Để đảm bảo tính thống nhất, toàn diện của hoạt động giáo dục (theo
nghĩa rộng), nội dung kế hoạch giáo dục các môn học trong chương trình giáo
dục phổ thông cần phải bao gồm đầy đủ cả hoạt động giáo dục trong giờ lên
lớp và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Nó tạo điều kiện gắn bó các kiến
thức môn học với đời sống, địa phương, cộng đồng, đất nước. Từ đó, hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp có vai trò giúp cho học sinh được củng cố,
mở rộng, khắc sâu một số kiến thức cơ bản đã được học qua các môn văn hoá,
rèn luyện sức khỏe, nâng cao thể lực, phát triển nhận thức về một số lĩnh vực
đời sống xã hội phù hợp với lứa tuổi. Thông qua các hoạt động này, ta còn
góp phần hình thành, phát triển những phẩm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm,
giá trị, kỹ năng sống và những năng lực chung cần có ở con người trong xã
hội hiện đại, nhất là trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước, môi
trường tự nhiên; tính tự lập, tự tin, tự chủ; các năng lực sáng tạo, hợp tác, giao
tiếp, tự quản lí bản thân, hình thành cho học sinh những kỹ năng hoạt động
tập thể, kỹ năng giao tiếp ở mức độ phù hợp với lứa tuổi, bao gồm các kỹ
năng hợp tác, kỹ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề, kỹ năng kiên định,
kỹ năng đặt mục tiêu, kỹ năng ứng phó với căng thẳng; giúp các em biết vận
dụng, thực hành những kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống như biết tự
trọng, tự tin, có trách nhiệm với bản thân, gia đình và tập thể; có hứng thú,
tích cực, chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong các hoạt động tập thể của lớp,
trường. Có thể nói hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là sự nối tiếp bổ sung
hoạt động trên lớp, là con đường gắn lý luận với thực tiễn, tạo ra sản phẩm
đáp ứng mục tiêu của xã hội và đáp ứng mục tiêu tiêu giáo dục.
Cụ thể, nó thể hiện ở các mặt sau:
Về nhận thức: Củng cố và khắc sâu kiến thức của các môn học, mở
rộng và nâng cao hiểu biết cho học sinh về các lĩnh vực của đời sống xã hội,
1) Trang bị những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, có tính hệ
thống về ngôn ngữ và văn học – trọng tâm là tiếng Việt và văn học Việt Nam
– phù hợp với trình độ phát triển của lứa tuổi và yêu cầu đào tạo nhân lực
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
2) Hình thành và phát triển ở học sinh các năng lực sử dụng tiếng Việt,
tiếp nhận văn bản, cảm thụ thẩm mỹ, phương pháp học tập tư duy, đặc biệt là
phương pháp tự học, năng lực ứng dụng những điều đã học vào cuộc sống. Ở
cấp THPT mục tiêu trực tiếp, chủ yếu của môn Ngữ văn THPT là hình thành
và rèn luyện cho học sinh năng lực đọc - hiểu cũng như tạo lập các loại văn
bản. Chính vì thế, theo GS Đỗ Ngọc Thống , chương trình được tạo dựng theo
hai trục tích hợp: Đọc văn và Làm văn [6]. Phân môn Văn học có chức năng
cung cấp một hệ thống tri thức phổ thông, cơ bản, hiện đại về văn học Việt
Nam và thế giới, thông qua việc phân tích tác phẩm văn chương mà bồi
dưỡng cho học sinh những giá trị Chân - Thiện - Mỹ. Học sinh không chỉ
được rèn luyện năng lực phân tích, cảm thụ tác phẩm nghệ thuật, mà còn biết
vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống. Phân môn Làm văn có chức năng
rèn luyện kỹ năng viết văn bản. Ban đầu các đề thi chỉ yêu cầu làm nghị luận
văn học, càng về sau, nghị luận xã hội càng được chú trọng. Hiện nay, trong
các đề thi Ngữ văn tốt nghiệp THPT và tuyển sinh Đại học có câu nghị luận
xã hội 3 điểm, bàn về một tư tưởng đạo lý hoặc một vấn đề xã hội. Nghĩa là
việc dạy học Ngữ văn ngày càng xích lại gần đời sống. Còn chức năng của
phân môn Tiếng Việt là hình thành và rèn luyện cho HS năng lực sử dụng
thành thạo tiếng mẹ đẻ với bốn kỹ năng cơ bản: đọc, viết, nghe, nói, qua đó
mà rèn luyện tư duy. Đồng thời, giúp các em có những hiểu biết nhất định về
hệ thống tri thức tiếng Việt và ngôn ngữ để sử dụng tiếng mẹ đẻ một cách
thành thạo, có ý thức.
3) Bồi dưỡng cho học sinh tình yêu tiếng Việt, văn học, văn hóa, tình
yêu gia đình, thiên nhiên, đất nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lập, tự
Nguyễn Trãi là gì? Liên hệ với cuộc kháng chiến chống Pháp, cuộc kháng
chiến chống Mỹ.
Văn còn là nghệ thuật, do vậy dạy và học Văn phải sáng tạo. Không thể
chỉ phụ thuộc vào vài bài văn mẫu mà đủ, người học người dạy phải phát huy
tư duy năng động để phá hiện ra cái mới. Đương nhiên, cái mới không thể ra
đời với những người chỉ biết ngồi bàn, đọc kiến thức SGK. Phải tham gia
nhiều hoạt động, mở mang hiểu biết thì mới sáng tạo được. Các văn bản trong
chương trình ngữ văn THCS đều được chọn lọc rất kỹ và là những tác phẩm
nghệ thuật tiêu biểu, đặc sắc. Nó giúp HS nhận thức cuộc sống, đưa đến
những bài học, những cảm xúc thẩm mỹ cao đẹp, sâu lắng trong tâm hồn và
tình cảm con người. Những điều này lại phụ thuộc vào bề dày vốn sống, tri
thức kinh nghiệm sống của mỗi cá nhân. Do vậy tiếp nhận văn bản là một hệ
thống mở và kết quả tiếp nhận ở mỗi HS có thể khác nhau, thậm chí có nhiều
mới lạ chưa hẳn trùng khớp với dự kiến của GV. Dạy văn thực chất là giúp
cho HS biến tác phẩm của nhà văn thành tác phẩm của mình. Chính vì thế đổi
mới PPDH còn có nghĩa là tôn trọng và đề cao những tìm tòi, khám phá, cảm
thụ phân tích văn bản tích cực của HS. Đây cũng là một biểu hiện của tính cá
thể hóa và sáng tạo trong tiếp nhận văn bản.
Từ những điều trên, ta thấy, việc dạy học Ngữ văn ngày càng xích lại gần
đời sống và phải có sự sáng tạo cao. Điều đó đòi hỏi các cơ sở giáo dục phải
quan tâm xây dựng và ngày càng hoàn thiện chương trình ngoại khoá văn học
một cách thích hợp, phù hợp với những điều kiện cụ thể của mình để làm môn
Văn đi đúng tính chất của nó.
1.2. Cơ sở thực tiễn:
1.2.1. Thực tiễn xây dựng chương trình ngoại khoá văn học ở trường trung
học phổ thông
1.2.1.1. Ý kiến, dư luận xã hội trên các phương tiện thông tin đại chúng
Có một mâu thuẫn lớn đang xảy ra giữa vai trò của môn Văn với sự quan
cách GV phải tạo điều kiện cho HS rèn luyện kỹ năng học tập tích cực, chủ
động, hình thành thói quen vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn
đề thực tiễn. Trong giảng dạy cần chú ý khai thác vốn kiến thức, kinh nghiệm,
kỹ năng nghe - nói - đọc - viết mà HS đã có. Sự vận dụng các PPDH phải đi
từ cái HS đã có đến cái HS cần có, từ thực tiễn cuộc sống của HS tới kiến
thức trong sách vở và quay trở về phục vụ cuộc sống. So với cách dạy truyền
thống, sự vận dụng PPDH trong giờ ngữ văn đã có sự thay đổi cơ bản về chất:
từ thông báo, tái hiện sang tổ chức cho HS tiếp nhận, cảm thụ; từ dạy học tính
chất tĩnh sang tính chất động…
Một trong những biện pháp đổi mới là kết hợp dạy Văn chính khóa với
thực hành ngoại khóa văn học. Hoạt động ngoại khóa vừa là một hoạt động
giải trí vừa là một phương pháp giáo dục - một phương pháp đã được nhiều
nền giáo dục tiên tiến trên thế giới vận dụng. Lồng ghép ngoại khóa trong dạy
và học môn Ngữ văn, kết hợp với những phương pháp dạy học khác sẽ có ý
nghĩa tích cực đối với yêu cầu đổi mới hiện nay. Thực hiện ngoại khóa nhằm
bổ sung và đổi mới những phương pháp dạy học Ngữ văn truyền thống. Giải
pháp này sẽ làm thay đổi không khí căng thẳng trong các giờ học, tăng thêm
hứng thú cho người học, học sinh sẽ chú ý hơn, chủ động hơn trong chuẩn bị,
mạnh dạn hơn trong đề xuất ý kiến của mình, phát huy tư duy sáng tạo,…
Hứng thú và chủ động trong học tập là sự khởi đầu tốt cho việc nắm bắt kiến
thức, hình thành kĩ năng và phát triển nhân cách ở học sinh qua bộ môn Văn.
Hoạt động ngoại khoá Văn học theo quan niệm đổi mới phương pháp
dạy học là một hình thức tự học tích cực, bổ ích và có hiệu quả, nối
liền bục giảng với thực tiễn đời sống, mở rộng, kéo dài trường suy
tưởng - thẩm định về bài học cho học sinh; phát huy tính tích cực,
chủ động sáng tạo của người học, kiểm tra lại chất lượng dạy học
trong giờ chính khoá. Hoạt động ngoại khoá Văn học, vì thế, vừa là
hoạt động giáo dục, vừa là hoạt động thẩm mỹ, "góp phần tạo ra lối
mới; 2) Khả năng đào tạo, giáo dục học sinh qua hoạt động ngoại khoá văn
học ở PTTH; 3) Nguyên tắc hoạt động ngoại khoá văn học ở PTTH; 4) Hình
thức hoạt động ngoại khoá văn học ở PTTH. Ngoài ra, thầy còn viết cuốn:
“Hoạt động văn học ngoài nhà trường, vị trí của công tác ngoại khóa văn
học”. Trong cuốn “Hoạt động văn học ngoài nhà trường, vị trí của công tác
ngoại khóa văn học”, thầy đã chỉ rõ phải kết hợp cả hoạt động văn học ngoài
nhà trường, giảng dạy trên lớp chỉ là phần xác, phải đem tới phần hồn bằng
chính các trải nghiệm bên ngoài. Ngoại khóa văn học là một cách đem tới
phần hồn. Thầy có chỉ ra một số hình thức ngoại khóa như: đọc ngoại khóa,
sưu tầm tư liệu, đóng kịch,….Cuốn thứ ba là “Công tác ngoại khóa văn học
với nhiệm vụ đào tạo con người toàn diện của nhà trường xã hội chủ nghĩa”.
Cuốn sách này cũng tương tự như cuốn trên, trong đó, thầy chủ yếu đi vào tác
dụng của ngoại khóa, phần biện pháp cụ thể cũng có nhưng chưa rõ ràng.
Cuốn thứ tư là “Nguyên tắc hoạt động ngoại khóa văn học” có phần lí thuyết
về ngoại khóa đầy đủ, rõ ràng hơn. Ta có thể lấy cuốn sách này làm cơ sở lí
luận cho đề tài luận văn này. Với cách trình bày khoa học, có dẫn chứng cụ
thể trong chương trình, cuốn sách đã giúp chúng ta mường tượng được hướng
đi trong thiết kế, thực hiện hoạt động ngoại khóa. Tuy vậy, cuốn sách mới
dùng ở lí thuyết. Tóm lại, các cuốn sách đều nêu được tác dụng lớn lao của
ngoại khóa, coi ngoại khóa là bộ phận không thể thiếu để giáo dục học sinh.
Thầy còn dẫn chứng các hoạt động ngoại khóa từng được tổ chức tại các
trường THPT. Từ đó, thầy đề ra một số hướng dẫn quan trọng giúp chúng ta
xây dựng chương trình ngoại khóa và tiến hành hiệu quả trong hoàn cảnh đất
nước còn nhiều khó khăn. Tuy nhiên, cuốn sách viết từ lâu nên có một số nội
dung khá cũ, chưa cập nhật. Chúng ta chỉ tham khảo được tư tưởng đề cao
ngoại khóa xuyên suốt trong cuốn sách của thầy. Nhiều phần viết nặng về lí
thuyết. Thiết kế cụ thể ra sao, đặc biệt ở chương trình lớp 11 thì chưa được
nhắc tới. Ngoài ra, trong những giáo trình, tài liệu hướng dẫn về phương pháp
đều chỉ ra tác dụng lớn của ngoại khóa và việc cần thiết phải áp dụng trong
trường THPT. Song cũng có bài nêu lên sự hạn chế khi tiến hành hoạt động
này, đó là bởi chúng ta còn đi theo lối dạy cũ, cơ sở vật chất và kinh phí quá
hạn hẹp trong khi tổ chức ngoại khóa “ra hồn” thì tốn kém vô cùng. Thực tế,
ở thành phố, may ra các em có vài buổi sinh hoạt chung trước cờ hoặc đi tham
quan. Ở nông thôn thì hầu như không có. Ngay cả đi tham quan cũng chỉ
mang tính chất đi chơi, ngoại khóa văn học ít có “đất sống”. Các em thích ca
hát và các trò chơi hiện đại thay vì học văn. Đó là thực tế phổ biến mà một số
bài trong hội thảo đã thẳng thắn chỉ ra.
Có liên quan gần gũi với đề tài chúng tôi là một số luận văn thạc sĩ do
các học viên sau đại học thực hiện trong những năm gần đây; ví dụ
- Luận văn “Tác động của hoạt động ngoại khóa đến tính tích cực học
tập của học sinh THPT” của Nguyễn Thị Thảo (Viện Đảm bảo chất lượng
giáo dục – ĐHQGHN, 2013).
- Luận văn “Hoạt động ngoại khóa văn học ở trường THPT” của Đoàn
Thuỵ Bảo Châu (Trường ĐHSP TPHCM, 2010)
- Luận văn “Tổ chức và hướng dẫn học sinh lớp 10 đọc ngoại khoá phần
Văn học Việt Nam” của Hồ Thị Kim Chung (Trường ĐHSP TPHCM, 2014).
Các luận văn trên đều triển khai phần lí luận cụ thể, trong đó, tư tưởng
bám sát là coi ngoại khóa văn học là phân môn riêng, không thể sát nhập với
hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường. Luận văn “Tác động của hoạt động
ngoại khóa đến tính tích cực học tập của học sinh THPT” của Nguyễn Thị
Thảo chỉ rõ được vai trò của ngoại khóa với việc làm học sinh thêm yêu thích
môn học, trong đó đặc biệt là môn Văn. Lí do chính bởi Văn là môn có đất
cho ngoại khóa và cũng là môn dễ bị đánh giá là nhàm chán nếu không kết
hợp kiến thức từ bên ngoài. Luận văn “Hoạt động ngoại khóa văn học ở
trường THPT” của Đoàn Thuỵ Bảo Châu cũng có phần lí luận và thực tiễn rõ
nét, nhưng đóng góp lớn nhất của luận văn này là tác giả đã chỉ rõ các hình
học. Từ đó, đưa ra những nhận xét chuẩn xác về thực trạng xây dựng chương
trình ngoại khoá văn học ở các trường phổ thông tỉnh Trà Vinh.
b. Phương pháp nghiên cứu gồm:
- Phương pháp quan sát với đối tượng quan sát là các giờ hoạt động ngoại
khóa, cách thức giáo viên tổ chức ngoại khóa, hoạt động tham gia của học
sinh. Phương pháp quan sát được phối hợp cùng phương pháp trò chuyện với
giáo viên và học sinh ngay sau buổi ngoại khóa được quan sát.
- Phương pháp điều tra bằng phiếu câu hỏi với đối tượng điều tra: Giáo
viên và học sinh khối 11 các trường THPT Trà Vinh. Nội dung điều tra là
nhận thức của giáo viên về bản chất, ý nghĩa, vai trò cũng như cách thức tổ
chức hoạt động ngoại khóa văn học cho học sinh khối 11, những khó khăn và
đề xuất của giáo viên đối với việc tổ chức hoạt động này.
c. Đối tượng, địa bàn, thời gian khảo sát:
- Đối tượng, địa bàn khảo sát: Giáo viên, học sinh các trường THPT
thành phố Trà Vinh (44 GV, 200 HS). Các trường này có đội ngũ cán bộ; giáo
viên nhiệt tình, ham học hỏi và có kinh nghiệm trong giảng dạy, có những
điều kiện thuận lợi cho việc chăm sóc và giáo dục trẻ.
- Thời gian khảo sát: từ tháng 1-2015 đến 2-2015
d. Nội dung khảo sát:
- Tìm hiểu nhận thức của giáo viên và học sinh về ngoại khóa.
- Khảo sát cách thức giáo viên tổ chức ngoại khóa văn học và khảo sát số
lượng, tần suất tổ chức ngoại khóa văn học.
- Khảo sát hoạt động tham gia ngoại khóa của học sinh
1.2.2.2. Kết quả nghiên cứu thực tiễn
a. Thực trạng tổ chức hoạt động ngoại khóa của giáo viên
a1. Thực trạng số lượng, tần suất tổ chức ngoại khóa văn học
20%
hiện
30%
60%
80%
4
5
phẩm
Sáng tác văn học
Tọa đàm văn học
0%
0%
50%
20%
50%
80%
Nhận xét:
Bảng thống kê cho thấy thực trạng chung của các trường trong tổ chức
ngoại khóa. Nhìn chung, số lượng, tần suất sử dụng các hình thức tổ chức
hoạt động ngoại khóa còn ít. Các trường chỉ thỉnh thoảng tổ chức nhân một
dịp nào đó hoặc phải do giáo viên đầu tư tổ chức riêng trong các tiết sinh hoạt
ở lớp. Giờ sinh hoạt dưới cờ rất ít khi tổ chức ngoại khóa văn học, chủ yếu là
tổ chức kiểm điểm, một số trường câu lạc bộ tiếng Anh được ưu tiên hơn.
30%
40%
4
5
phẩm
Sáng tác văn học
Tọa đàm văn học
30%
40%
50%
50%
quả
10%
20%
20%
10%
Nhận xét:
Từ kết quả khảo sát trên, chúng tôi nhận thấy cả 5 loại hình hoạt
động ngoại khóa được đưa ra đều đạt hiệu quả khá cao. Điều này cho thấy
hoạt động ngoại khóa đã được tổ chức có chiều sâu, tác động nhất định tới
học sinh. Tuy nhiên để chuẩn bị cho một buổi ngoại khóa đạt được kết quả tốt
là công sức, tâm huyết của nhiều người; đồng thời chương trình và cách thức
thường vẫn còn tự phát. Nếu có hướng dẫn cụ thể thì việc tiến hành sẽ đơn