Tến đề tài: “Phát triển năng lực tự học tác phẩm sự của học viên ở
Trung tâm GDTX tỉnh Điện Biên” (Qua tác phẩm Vợ nhặt của Kim
Lân).
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Trong quá trình dạy học hiện đại, người thầy phải tôn trong
những nguyên tắc: Bám sát đặc trưng bộ môn, phát huy chủ thể người
học, gắn với đời sống tinh thần của dân tộc và nhân loại... Nhưng làm
cách nào để người học viên (HV) thực sự là chủ thể tiếp nhận một cách
sáng tạo trong quá trình học bộ môn Ngữ văn- một môn nghệ thuật “trò
diễn nằng ngôn từ”, để HV được “trả lại những gì thuộc về nó” (J.
Dewey) là một thách thức không nhỏ, thậm chí quá phức tạp đối với
người thầy giáo dạy Ngữ văn ở trường phổ thông bình thường, chưa nói
rằng công việc dạy học lại ở một trường miền núi với đối tượng có thể
xem là đặc biệt như HV ở Trung tâm giáo dục thường xuyên (GDTX)
tỉnh..... Để phát triển toàn diện năng lực, phẩm chất cho học sinh, các
nhà nghiên cứu đã chỉ ra nhiều hướng đi, nhiều cách dạy: Nêu và giải
quyết vấn đề, trực tuyến Internet, hướng đối thoại, hợp tác, dự án...
Nhưng phát triển năng lực tự học đối với HV Bổ túc THPT còn là vấn đề
cần phải nghiên cứu một cách kĩ lưỡng sâu sắc hơn.
1.2. Nghị quyết 29- NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 Hội nghị
lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn
bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo đã ghi: “Phát triển hài hòa, hỗ trợ
giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền. Ưu tiên
đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn,
vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối
1
tượng chính sách”. [...] Vậy bằng cách nào để giúp cho HV miền núi có
thể rút ngắn được khoảng cách tri thức, hình thành ở họ quá trình tự đào
tổng hợp và tạo lập những văn bản mới bảo đảm tính khoa học, sáng tạo
thì dạy học tác phẩm văn chương lại tập trung vào việc phát triển năng
lực tiếp nhận hết sức phong phú và đa dạng: Tri giác ngôn ngữ, tái hiện
hình tượng, liên tưởng, tưởng tượng, kết hợp cụ thể và khái quát, nhận
biết loại thể để định hướng tiếp nhận và đặc biệt là năng lực tự đánh giá,
thẩm định, thanh lọc tâm hồn. Để đạt được những mục tiêu phong phú và
lớn lao ấy, người thầy dù tài năng nhưng cũng không thể trang bị hết
được cho HV mà chỉ bằng cách là kích thích năng lực tự học, tạo ra được
động lực tự học cho HV. Vậy động lực tự học được bắt đầu từ đâu?
Động lực tự học bắt nguồn từ cảm xúc và hứng thú. Lê-Nin trong “Bút
ký tự học” có viết: “Nếu không có cảm xúc thì không và không bao giờ
con người có khát vọng đi tìm chân lý”. Quá trình tự học là sự chủ động
của mỗi cá nhân khác hẳn với quá trình học tập thụ động, nhồi nhét.
“Kiến thức tự học là kết quả của hứng thú tìm tòi, của lựa chọn, của định
hướng ứng dụng” […]
1.6. Trong giáo dục thì giáo dục lòng yêu lao động là khó nhất và
học tập là thứ lao động bền bỉ, gian khổ nhất trong các lao động của con
người. Nhưng có điều là học tập văn chương lại thường xuyên giải quyết
vấn đề tiếp nhận hình tượng. Trong nhiều loại hình tượng nghệ thuật thì
hình tượng văn học là độc đáo và đặc sắc nhất. Nó tác động đến tất cả
các giác quan của con người. Vì vậy nó cũng có những thuận lợi nhất
định trong việc tạo ra cảm xúc của người tiếp nhận cũng từ đó mà việc
kích thích tự học trong dạy học tác phẩm văn chương có những lợi thế
riêng của nó.
3
1.7. Điều 44 trong Luật Giáo dục năm 2005 nêu rõ: “Giáo dục
thường xuyên giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt
tự học”.
Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn là người đã có nhiều công trình nghiên
cứu về tự học như: “Học và dạy cách học”; “Tự giáo dục, tự học”;“Luận
bàn về kinh nghiệm tự học”...
Bên cạch đó cũng có nhiều đề tài luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ
nghiên cứu về vấn đề tự học. Tuy nhiên chưa có công trình, bài viết
nào đi sâu vấn đề phát triển năng lực tự học dành cho đối tượng HV
Bổ túc THPT qua dạy học tác phẩm tự sư. Sau khi khảo sát các công
trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy “Phát triển năng lực tự học tác
phẩm tự sự của học viên ở Trung tâm GDTX tỉnh .....” là vấn đề mới,
thiết thực.
3. Mục đích nghiên cứu
Dựa trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quá trình tự học,
luận văn đề xuất những biện pháp cụ thể nhằm phát triển năng lực tự
học, tự tiếp cận chiếm lĩnh tri thức về tác phẩm văn chương một cách
chủ động, từ đó hình thành và phát triển năng lực tự học cho HV, giúp
HV không những học tốt tác phẩm văn chương mà còn học tốt các môn
học khác, qua đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học của Trung tâm.
4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận của các biện pháp phát
triển năng lực tự học và thực trạng tự học tác phẩm tự sự của học viên ở
Trung tâm GDTX tỉnh ... Đề ra một số biện pháp nhằm phát triển năng lực
tự học tác phẩm tự sự cho học viên Bổ túc THPT thông qua dạy tác phẩm
Vợ nhặt trong chương trình Ngữ văn 12.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển năng
lực tự học của HV trong dạy học tác phẩm tự sự ở Trung tâm GDTX tỉnh
Ngoài phần Mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn .
Chương 2: Biện pháp phát triển năng lực tự học tác phẩm tự sự
của học viên ở Trung tâm GDTX tỉnh Điện Biên.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
7
NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Các quan niệm về tự học
Các nhà giáo dục bắt đầu nghiên cứu vấn đề tự học một cách
nghiêm túc từ 1954, khi chúng ta bắt tay vào xây dựng xã hội chủ nghĩa
ở miền Bắc. Từ đó đến nay, ta được biết thêm nhiều công trình nghiên
cứu với các quan điểm khác nhau về tự học. Tuy nhiên, có thể liệt kê ra
một số quan điểm nổi bật như sau:
- Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm tự học đóng vai trò quan trọng
nhất trong việc học tập. Bác cho rằng trong cách học, phải lấy tự học làm
nòng cốt. Vì tư tưởng ấy nên Bác đã trở thành một tấm gương sáng về
tình thần và phương pháp tự học. Lênin cũng nói: “ Học, học nữa, học
mãi”. Anhxtanh cũng nói: “ Kiến thức chỉ có được qua tư duy của con
ngời ”. Gibbon khẳng định: “Mỗi ngời đều phải nhận hai thứ giáo dục,
một thứ do ngời khác truyền cho, một thứ quan trọng hơn - do chính
mình tạo lấy.” [17,tr34]
- Thủ tướng Phạm Văn đồng, một trong những học trò xuất sắc của
chủ tịch Hồ Chí Minh, đã tiếp nhận thể hiện và làm phong phú tư tưởng
điều khiển của GV trực tiếp hoặc gián tiếp của GV nhưng điều cốt yếu
để đạt được thành công của quá trình học phải do nỗ lực tự học của HS.
9
Nhóm 2: Có tác giả lại xem hoạt động tự học là một phương thức
tự nghiên cứu, tìm hiểu của HS để nâng cao tri thức của bản thân. Có thể
lấy một số quan niệm của các nhà nghiên cứu như TS Lê Ngọc Trà, PGS
Lê Khánh Bằng,…để làm ví dụ. Các nhà nghiên cứu trên đều cho rằng
bản chất của tự học là tự làm việc với chính mình, nghiên cứu tài liệu,
trao đổi với bạn bè, với nhóm và được thầy khơi gợi, hướng dẫn. Tự học
là tự đi tìm lấy kiến thức. Đây là hoạt động được xét về phái người học.
TS Hà Thị Đức khẳng định: “Tự học là hình thức hoạt động cá nhân, do
bản thân ngời học nỗ lực thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ học tập trên
lớp hay ngoài lớp , có thể diễn ra khi còn đang học, khi đã ra trường và
trong suốt cả cuộc đời” [14, tr.12].
Tóm lại: Qua tìm hiểu các quan niệm về tự học ở trên, chúng tôi
thấy tự học là vấn đề ngày càng được quan hơn trong giáo dục học. Các
nhà nghiên cứu đều thừa nhận tự học là một nhu cầu, một năng lực
cần có của mọi người, đặc biệt trong thời đại ngày nay. Có nhiều tác giả
nghiên cứu về tự học vì thế nên quan điểm về khái niệm tự học rất phong
phú. Có người cho đó là cách dạy, có người cho đó là cách học. Đây đều
là các quan niệm đúng về khái niệm tự học. Từ đó, ta thấy mục tiêu quan
trọng của các nhà trường là trang bị cho cả GV và HS phương pháp tự
học.
1.1.2. Khái niệm tự học
Trong hệ thống ý kiến như trên, tác giả luận văn nhất trí với hệ
thống ý kiến thứ hai, ở đó, ta xem tự học như một phương thức tự đào
tạo.
điểm kết thúc của chu trình này là điểm khởi đầu của chu trình khác. Sau
mỗi chu trình kiến thức của ngời học lại được nâng lên một tầm mới. Cụ
thể như sau:
12
1. Tự nghiên cứu.
2. Tự thể hiện.
3. Tự kiểm tra, tự điều chỉnh.
Tóm lại, tự học là hoạt động của cá nhân của HS. Tự học cũng là
công việc khó khăn, phải trải qua chu trình, hình thức, nhiều đòi hỏi. Tuy
nhiên, không thể có thể làm hộ học sinh việc đó.
1.1.3. Vai trò của năng lực tự học
Với bản thân mỗi cá nhân, tự học có vai trò quan trọng. Nhiều
người có khát vọng học vấn cao đẹp song hoàn cảnh lại chịu sự thiệt
thòi. Vì vậy, không phải ai cũng được may mắn đến trường. Họ phải lấy
tự học để bù đắp. Nhiều vĩ nhân đã thành đạt từ trong cuộc đấu tranh vươn lên bằng con đường tự học. Song chính nhờ tự học, họ đã thành đạt,
hơn nữa lại được thử thách, rèn luyện và hình thành ý chí cao đẹp. Quả
thực, tự học là biểu hiện chí lớn lập nghiệp của mỗi con người trên con
đường hoà nhập vào cộng đồng. Lịch sử đã chứng minh rằng có nhiều
tấm gương thành công do tự học. Các danh nhân, nhà văn hoá, nhà chính
trị, nhà khoa học lớn thành công đều do tự học. Có nhiều người thành đạt
nhờ tự học như các giáo sư, nhà giáo nhân dân Nguyễn Cảnh Toàn, Lê
Trí Viễn, Lê Đình Kị,… Có người chưa hề đi tu nghiệp tại nước ngoài
lần nào nhưng kết quả tự học đã được nhà nước công nhận và phong
tặng các danh hiệu cao quý.
Với đất nước, tự học cũng có ý nghĩa lớn. Nhận xét về vai trò của
tư học với đất nước ta hiện nay, GS Pham Trọng Luận đã viết: “Tự học
đang trở thành chìa khoá vàng trong thời đại bùng nổ thông tin ngày nay.
14
liệu, so sánh đối chiếu hay từ những vấn đề cụ thể mà rút ra ý nghĩa, bản
chất của sự vật, hiện tượng. Học sinh ngày nay rất năng động, lại thêm
sự hỗ trợ của công nghệ thông tin làm khả năng tự học của HS được
nâng cao. Quá trình tìm tòi tri thức sẽ lôi cuốn HS, tạo cơ sở cho HS làm
chủ được tri thức, lối sống và hành vi của mình. HS được lôi cuốn vào
niềm đam mê khám phá, phát hiện và sáng tạo. Biết cách tự học, HS sẽ
rèn được thói quen làm việc độc lập, khoa học làm tiền đề cho công việc
lao động mai sau. Những HS ngay từ khi học phổ thông đã biết tự học
chắc chắn sẽ thành đạt hơn trong cuộc sống. Thực tế đã chứng minh
không ít những tấm gương thành đạt đều biết nghiên cứu từ những năm
còn thơ ấu. Tự học góp phần thể hiện nhân cách trưởng thành và tính độc
lập, tự chủ cao trong học tập của HS THPT. Việc phát triển năng lực học
tập, năng lực tư duy cho HS THPT là vấn đề đáng quan tâm ở mọi quốc
gia. Trong điều kiện và hoàn cảnh hiện nay học tập bằng phương pháp
ghi nhớ và tái hiện tỏ ra không còn hiệu quả cao nữa. Tính độc lập, sáng
tạo của HS không được kích thích, khơi gợi. Cần phải có một cách thức
đào tạo khác để phát huy sự chủ động của HS, tự học là một trong những
cách đó. Quả thực, nhân cách người học sinh chính là phẩm chất và năng
lực được hình thành và phát triển trong quá trình đào tạo tại nhà.
Tự học còn là cách thức, là nội lực quyết định sự phát triển tri thức
của học sinh. Không ai có thể nắm hộ các tri thức cho HS. Chỉ có tự
nắm bắt thì các em mới có thể ghi nhớ và vận dụng tri thức về sau. Hơn
nữa, nếu các em tự mình tìm ra được kiến thức thì các em sẽ ghi nhớ vô
cùng lâu, khả năng sáng tạo và tư duy logic cũng được hoàn thiện hơn.
Tự học là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi HS trên con đường
học vấn thừờng xuyên của cả cuộc đời. Tri thức thu nhận được qua quá
trình tự lực tư duy mới là tri thức bền vững. Quá trình tự học khác với
học còn là quá trình nhận thức. Đổi mới phương pháp không thể tách rời
16
nội dung tri thức. Vận dụng linh hoạt cách thức tự học để tìm hiểu nội
dung tri thức sẽ giúp HS có cái nhìn toàn diện hơn về giá trị của nó.
Tóm lại, hình thành thói quen tự học cho HS có vai trò to lớn về
nhiều phương diện. Nó không chỉ giúp HS tiếp thu kiến thức tốt hơn,
hình thành phong cách sống năng động mà còn giúp đổi mới phương
pháp dạy học theo nguyên tắc hướng vào HS.
1.1.4. Những yếu tố ảnh hưởng tới việc phát triển năng lực tự học
cho HS
1.1.4.1. Yếu tố khách quan
a. Đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước; các nghị quyết, chỉ
thị, thông tư, hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo,... có liên quan tới
quá trình giáo dục đào tạo của thầy và trò nhà trường. Cùng đó là nội
dung chương trình đào tạo của nhà trường
- Đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước; các nghị quyết, chỉ
thị, thông tư, hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo,...phải đề cập, quan
tâm tới hoạt động tự học của HS. Nhiều bài viết đã khẳng định vai trò
của tự học: “Xã hội Việt Nam đang có những sự chuyển mình. Nhiều
vấn đề, nhiều kiến thức, nhiều quan niệm mới hôm qua còn đợc chấp
nhận, hôm nay đã có thể không còn thích hợp nữa. Trong lúc đó, mục
tiêu giáo dục không phải chỉ nhằm đào tạo nghề nghiệp trớc mắt cho con
người mà phải đào tạo con ngời thích ứng linh hoạt với những hoàn
cảnh, nghề nghiệp, những công việc luôn thay đổi sau này. Đó chính là
những con ngời thạo việc, năng động, sáng tạo, biết lo cho bản thân, biết
cống hiến cho cộng đồng.” [9; tr.89]. Hiện nay chính sách của Nhà nước
và của bộ Giáo dục đều đề cập tới. Song triển khai thế nào ở các trường
thì còn nan giải.
c. Các điều kiện cơ sở vật chất phòng học, thư viện, hệ thống
mạng Internet, phương tiện thiết bị, sách giáo khoa và các tài liệu tham
khảo …phục vụ cho tự học.
Trường phải cố gắng xây dựng những phòng tự học. Phải làm sao
để đảm bảo các trường đều thư viện cung cấp phương tiện thiết bị, sách
giáo khoa và các tài liệu tham khảo, …phục vụ cho tự học. Thứ ba là
phòng tin học cùng hệ thống mạng Internet nên sớm cập nhật để HS có
thêm cơ hội tra cứu tư liệu.
Tại nhà, HS phải sắp xếp cho mình một không gian tự học riêng.
Tốt nhất là học tại phòng riêng, nếu không ít nhất HS cũng phải có góc
học tập cá nhân. Góc học tập phải yên tĩnh, tránh xa mọi yếu tố gây
nhiễu như: truyền hình, ca nhạc, điện tử,... để HS tập trung cao nhất vào
việc tự học. Góc học tập nên đầy đủ phương tiện học tập và bài trí gọn
gàng, đơn giản. “Có được môi trờng nghiên cứu khi làm việc độc lập ở
nhà, HS sẽ có điều kiện thả mình trong những phút giây tưởng tợng, liên
tưởng, có thời gian so sánh đối chiếu giữa văn bản này với văn bản khác
để tìm ra những kiến giải hợp lí.” [9; tr.85].
d. Thời gian dành cho tự học: Hoạt động tự học đòi hỏi phải có
quỹ thời gian phù hợp, nên học sinh phải bố trí kế hoạch thật khoa học
để đảm bảo quá trình tự học đạt hiệu quả.
Tại nhà, HS nên sắp xếp khoảng thời gian phù hợp cho việc tự
học. Việc đi học thêm ở ngoài không thể thay thế được tự học, thậm chí
nó còn phản tác dụng nếu HS học quá nhiều, không chú ý tới tự học. Bản
thân HS cũng phải có ý thức xây dựng cho mình thời gian biểu hợp lí và
có ý thức tự học. Các em có thể làm việc độc lập với SGK, sách tham
khảo, tìm hiểu trước những vấn đề liên quan tới văn bản sắp học như:
19
khái quát hoá, tự kiểm tra đánh giá .v.v. Để tự học đạt kết quả thì HS
phải có tri thức, có tư duy khoa học, biến động cơ tự học thành kết quả
và tự tin vào bản thân, từ đó bồi dưỡng và phát triển hứng thú học tập,
duy trì tính tích cực, chủ động, sáng tạo và tư duy khoa học trong hoạt
động tự học.
b. Yếu tố sức khoẻ cá nhân
Hoạt động tự học là hoạt động căng thẳng, mất nhiều năng lượng
thần kinh. Do vậy, đòi hỏi học sinh phải có sức khoẻ tốt thì mới đảm bảo
cho hoạt động tự học đạt hiệu quả. Bộ óc của HS không phải là cái máy
tính để GV nạp dữ liệu liên tục. Hiện tượng HS học quá tải còn diễn ra
quá nhiều. Khi phải chịu sức ép lớn của thi cử, học hành, HS không thể
có niềm say mê học tập, thậm chí học tập với HS trở thành “cơn ác
mộng”. Có học tập phải có nghỉ ngơi. Khi học nên tập trung hết sức để
đạt hiệu quả cao nhất, sau đó nghỉ ngơi thoải mái, không lo lắng tới bài
học nữa. “Học ra học, chơi ra chơi” là cách sống và làm việc hiệu quả,
khoa học nhất.
HS có thể kết hợp điều độ giữa học tập và nghỉ ngơi qua việc cân
bằng giấc ngủ, bằng các hoạt động vui chơi giải trí hay thay đổi các hoạt
động trí tuệ. Vấn đề này có liên quan tới quá trình chăm sóc sức khoẻ
cho HS tại gia đình đồng thời là sự tiếp cận sinh tồn đối với giáo dục.
Tóm lại: Có nhiều yếu tố chi phối đến hoạt động tự học, trong đó
các yếu tố chủ quan đóng vai trò cốt lõi, các yếu tố khách quan đóng
vai trò chi phối. Nắm được các yếu tố chi phối hoạt động tự học sẽ giúp
quản lý tốt hoạt động tự học của học sinh.
1.1.5. Những hoạt động dạy học nhằm phát triển năng lực tự học
của học viên
21
Hoạt động dạy học của GV bao gồm các nhân tố: mục đích, nội
hn chng 2 ca lun vn.
Hầu hết các phơng pháp đều nhằm phát huy tính t học của HS
và đều có đặc điểm chung là:
- Dạy học bằng việc tăng cờng tổ chức các hoạt động cho HS.
- Dạy học chú trọng rèn luyện phơng pháp tự học.
- Tăng cờng học tập cá nhân và hoạt động nhóm.
- Dạy HS tự đánh giá, tự điều chỉnh.
Nú c c th húa qua cỏc bng sau:
Bng so sỏnh hỡnh thc dy hc th ng
v dy hc cú tớnh tớch cc [1; tr.222-223]
Dy hc th ng
Dy hc tớch cc
1.GV truyn kin thc
1.GV t chc, hng dn HS lnh hi
2.GV c thoi, phỏt vn
2.i thoi GV - HS, HS HS
3.GV ỏp t kin thc cú sn
3.HS hp tỏc vi GV khng nh kin
thc HS tỡm ra
4.HS th ng nhn thc
4.HS t mỡnh tỡm kin thc bng hot
thảo luận, tranh luận, đóng vai, vận
dụng tri thức.
-Phối hợp, thu hút sự hợp tác của HS - Phát huy vốn tri thức sẵn có và
trong việc khẳng định, rút ra những hợp tác với GV trong một số vấn
kết luận về nội dung dạy học.
đề học tập.
- Giải đáp thắc mắc
- Nêu thắc mắc học tập
- Bổ sung phơng pháp, kiến thức,rèn - Bổ sung, sữa chữa, hoàn thiện,
luyện kĩ năng
hệ thống hoá kiến thức.
Xét cụ thể trong dạy học nhằm bồi dưỡng năng lực tự học cho HS,
ta có thể chú ý tới một số hoạt động sau:
24
- GV cần bồi dưỡng động cơ tự học cho HS. Mọi hoạt động của
con người đều có mục đích, được thúc đẩy bởi động cơ, động cơ hoạt
động là lực đẩy giúp chủ thể vượt khó khăn để đạt được mục đích đã
định. Do vậy, hình thành nhu cầu, động cơ tự học cho HS là yếu tố quyết
định tới tự học.
- GV cần xây dựng và thực hiện kế hoạch tự học cho HS. Kế hoạch
tự học là bảng phân chia nội dung tự học theo thời gian một cách hợp lý