BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
HUỲNH ANH
PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA
NGƯỜI GỬI TIỀN TẠI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
HUỲNH ANH
PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA
NGƯỜI GỬI TIỀN TẠI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60.38.50
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THANH BÌNH
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2010
LỜI CAM ĐOAN
: Tổ chức tín dụng
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 1
1 - Tính cấp thiết của đề tài ...............................................................................................1
2 - Tình hình nghiên cứu đề tài .........................................................................................3
3 - Mục đích, đối tƣợng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu ...............................4
4 - Các phƣơng pháp tiến hành nghiên cứu ....................................................................5
5 - Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài .......................................................5
6 - Kết cấu của luận văn ....................................................................................................6
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI
CỦA NGƢỜI GỬI TIỀN TẠI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG ....... 7
1.1.
Tổ chức tín dụng và hoạt động của tổ chức tín dụng .......................................... 7
1.1.1. Khái quát về tổ chức tín dụng ...................................................................................7
1.1.2. Các hoạt động của tổ chức tín dụng .........................................................................9
1.2.
Khái quát tiền gửi ................................................................................................. 16
1.2.1. Khái niệm tiền gửi ...................................................................................................16
1.2.2. Các hình thức tiền gửi .............................................................................................17
1.3.
Vai trò của tiền gửi ............................................................................................... 19
khoản,...), an toàn tài khoản. ..................................................................................34
1.6.4. Quyền được cung cấp thông tin về tiền gửi: lãi suất, số dư,... ...............................37
1.6.5. Quyền định đoạt tiền gửi, để lại di sản thừa kế ......................................................38
1.6.6. Quyền được bảo hiểm chi trả khi tổ chức tín dụng gặp rủi ro ...............................39
1.6.7. Quyền khởi kiện tổ chức tín dụng có hành vi vi phạm hợp đồng đã cam kết theo
quy định của pháp luật. ...........................................................................................39
CHƢƠNG 2: THỰC TIỄN PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA
NGƢỜI GỬI TIỀN TẠI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
VÀ HƢỚNG HOÀN THIỆN ....................................................... 41
2.1.
Quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi của ngƣời gửi tiền ............................. 41
2.1.1. Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh việc bảo vệ quyền lợi
của người gửi tiền .................................................................................................. 41
2.1.2. Thực tiễn pháp luật điều chỉnh việc bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền .............. 42
2.2.
Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi của
ngƣời gửi tiền ......................................................................................................... 78
2.2.1. Hoàn thiện những quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người
gửi tiền ................................................................................................................... 78
2.2.2. Hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền ......................................... 86
KẾT LUẬN CHUNG ................................................................................................. 8
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
1
Đối với các nước bảo vệ tốt quyền lợi người gửi tiền là yếu tố quan trọng trong giải quyết khủng hoảng tài
chính, nhờ đó thị trường tài chính không bị rối ren, các tổ chức tín dụng giải thể, phá sản trong vòng trật tự
(điển hình là Mỹ); ngược lại, ở các nước không bảo vệ tốt quyền lợi người gửi tiền đã làm cho hệ thống tài
chính - ngân hàng bị rối loạn, hiện tượng rút tiền hàng loạt đã diễn ra (điển hình là ở Anh). Đó là lí do vì sao
sự sụp đổ của ngân hàng ở Anh là rất lớn còn ở Mỹ thì có nhiều ngân hàng sụp đổ nhưng khủng hoảng dây
chuyền không nặng nề như ở Anh.
Huỳnh Anh
2
này vẫn còn những hạn chế, từ hạn mức chi trả bảo hiểm đến ghi nhận vai trò, mô
hình của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam chưa thật phù hợp nên hiệu quả bảo vệ quyền
lợi người gửi tiền chưa cao. Bởi bảo vệ quyền lợi người gửi tiền không chỉ dừng lại
ở việc chi trả bảo hiểm mà còn phải hạn chế sự sụp đổ của tổ chức tín dụng, hạn chế
tình trạng mất khả năng thanh toán của tổ chức tín dụng. Thực tiễn cho thấy người
gửi tiền chưa thật sự yên tâm về sự an toàn tiền gửi của mình. Minh chứng là người
gửi tiền dễ dàng nghe theo tin đồn thất thiệt, dẫn đến hiện tượng rút tiền hàng loạt
tại một số ngân hàng trong thời gian qua như Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á
Châu (2003), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nông thôn Ninh Bình (2005),…
Ngoài ra, an toàn tiền gửi cũng như đảm bảo những quyền lợi liên quan đến
tiền gửi (lãi suất, giá trị và tiện ích của các dịch vụ được cung ứng) là sự quan tâm
của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào khi gửi tiền tại các tổ chức tín dụng. Đặc biệt, khi
đó lại là những khoản tiền dành dụm, chắt chiu để đảm bảo cuộc sống thì tiền gửi
đối với người gửi tiền càng trở nên quan trọng. Ước tính khoảng 60% - 65% tổng
lượng tiền gửi tại các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng hiện nay là của
người dân với số người gửi tiền lên tới hàng chục triệu người. Vì thế, bảo vệ quyền
tín dụng, bảo vệ lợi ích hợp pháp của người gửi tiền”3.
Từ những lý do trên, việc đúc kết kinh nghiệm của các nước, kết hợp thực
tiễn Việt Nam để bổ sung, hoàn thiện những quy định của pháp luật về bảo vệ
quyền lợi người gửi tiền là rất cần thiết. Do đó, tác giả chọn đề tài “Pháp luật về
bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền tại các tổ chức tín dụng” để làm luận văn tốt
nghiệp cao học luật của mình.
2 - Tình hình nghiên cứu đề tài
Thời gian qua, với phạm vi và mức độ nghiên cứu khác nhau, có nhiều tác
giả có bài viết, công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền lợi người
gửi tiền tại các tổ chức tín dụng như: luận văn tốt nghiệp cử nhân luật “Một số vấn
đề pháp lý về bảo hiểm tiền gửi”(2004) của tác giả Đặng Thị Đỉnh; luận văn tốt
nghiệp cử nhân luật “Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong hình thức
nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng”(2005) của tác giả Bùi Thị Thúy Triều; luận văn
tốt nghiệp cử nhân luật “Một số vấn đề pháp lý về bảo hiểm tiền gửi”(2005) của tác
giả Nguyễn Thị Thu Thảo; luận văn tốt nghiệp cử nhân luật “Bảo hiểm tiền gửi công cụ pháp lý bảo vệ quyền lợi người gửi tiền” (2006) của tác giả Vũ Tuyết
Minh; luận văn tốt nghiệp cao học luật “Bảo hiểm tiền gửi - quy định của pháp luật
và thực tiễn áp dụng” (2009) của tác giả Nguyễn Thị Diệu Linh. Một số bài viết của
các tác giả như: “Bàn thêm về vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong việc bảo
vệ người gửi tiền và đảm bảo sự phát triển an toàn của hệ thống ngân hàng”(2009)
của TS. Phùng Văn Hùng; “Tăng cường bảo vệ quyền lợi người gửi tiền”(2009) của
TS. Nguyễn Thị Kim Oanh & ThS. Lê Việt Nga…
Tuy nhiên, các công trình trên chủ yếu nghiên cứu dưới góc độ bảo hiểm tiền
gửi, tập trung nghiên cứu những vấn đề liên quan đến bảo hiểm tiền gửi mà không
đặt trọng tâm bảo vệ quyền lợi người gửi tiền. Cũng có tác giả đặt trọng tâm bảo vệ
quyền lợi người gửi tiền (tác giả Bùi Thị Thúy Triều, Vũ Tuyết Minh) nhưng chỉ
nghiên cứu trong mối tương quan với bảo hiểm tiền gửi, đồng thời các công trình
nghiên cứu này cũng đã lâu (2005), đến nay điều kiện kinh tế - xã hội cũng như
những quy định của pháp luật đã có sự thay đổi. Vì vậy, có thể nói, việc nghiên cứu
một cách tập trung và hệ thống những quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi của
người gửi tiền tại các tổ chức tín dụng trong điều kiện hội nhập hiện nay là một nội
Hoạt động huy động vốn của tổ chức tín dụng bao gồm huy động vốn bằng
nhận tiền gửi, huy động vốn bằng phát hành giấy tờ có giá, huy động vốn bằng vay
vốn giữa các tổ chức tín dụng, vay vốn của . Trong phạm vi luận văn này, tác giả
chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động huy động vốn của tổ chức tín dụng bằng nhận
tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá. Người gửi tiền được nghiên cứu trong luận văn
này là cá nhân, tổ chức có tiền gửi tại tổ chức tín dụng thông qua hoạt động nhận
tiền gửi của tổ chức tín dụng và phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng nhằm
huy động vốn. Người gửi tiền ở đây không bao gồm, các tổ chức tín dụng là chủ nợ
cho vay nợ, .
Huỳnh Anh
5
Tác giả tập trung nghiên cứu những quy định cơ bản nhất về quyền lợi của
người gửi tiền trong các hoạt động nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá của tổ
chức tín dụng.
4 - Các phƣơng pháp tiến hành nghiên cứu
Thực hiện đề tài này tác giả đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng,
phương pháp phân tích, tổng hợp để làm rõ những quy định về hoạt động của tổ
chức tín dụng và quy định pháp luật về bảo vệ người gửi tiền tại các tổ chức tín
dụng. Trên cơ sở đó luận văn đi từ cơ sở lý luận đến thực trạng pháp luật và chỉ ra
những hạn chế; đồng thời đề xuất những giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về
bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền.
5 - Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Đề tài có những đóng góp mới như sau:
Một là, tác giả phân tích để thấy rõ hơn khái niệm tiền gửi, có liên hệ so sánh
giữa khái niệm tiền gửi theo quy định hiện hành và khái niệm tiền gửi theo Luật
Các tổ chức tín dụng 2010.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
cấu trúc thành 2 chương, bao gồm:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền tại
các tổ chức tín dụng.
- Chương 2: Thực tiễn pháp luật bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền tại các
tổ chức tín dụng và hướng hoàn thiện.
Huỳnh Anh
7
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI
CỦA NGƢỜI GỬI TIỀN TẠI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
1.1.
Tổ chức tín dụng và hoạt động của tổ chức tín dụng
1.1.1. Khái quát về tổ chức tín dụng
1.1.1.1. Khái niệm
Khi xã hội loài người phát triển đến một giai đoạn nhất định, xuất hiện nhu
cầu trao đổi sản phẩm cho nhau và hàng hóa xuất hiện, sản xuất hàng hóa ra đời.
Khi sản xuất hàng hóa hình thành và phát triển thì tiền tệ xuất hiện và ngành nghề
kinh doanh tiền tệ cũng ra đời. Từ đó, xuất hiện những tổ chức chuyên thực hiện các
hoạt động thu nhận các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội và sử dụng để cấp tín dụng,
làm các dịch vụ tiền tệ khác, người ta gọi chúng là các TCTD. Hiện nay, các TCTD
tồn tại với nhiều loại hình, tên gọi khác nhau, nghiệp vụ kinh doanh ngày càng đa
dạng, phức tạp. Ngày càng có nhiều các loại hình kinh doanh mới bên cạnh các loại
hình kinh doanh truyền thống như kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm,...
Hoạt động của các TCTD vốn phức tạp và có vai trò không nhỏ đối với nền
ngân hàng tùy theo hình thức tổ chức và hoạt động của loại hình TCTD đó, từ đó
một TCTD có thể thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng.
Theo luật hiện hành, căn cứ vào phạm vi hoạt động, TCTD gồm các loại: TCTD
là NH và TCTD phi NH. Cụ thể5:
- Ngân hàng là loại hình TCTD được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân
hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Tùy theo tính chất
và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm: ngân hàng thương
mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách,
ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác.
- Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực
hiện một số hoạt động ngân hàng như là nội dung kinh doanh thường
xuyên, nhưng không được nhận tiền gửi không kỳ hạn, không làm dịch vụ
thanh toán. Tổ chức tín dụng phi ngân hàng gồm công ty tài chính, công
ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác.
1.1.1.2. Đặc điểm của tổ chức tín dụng
Từ khái niệm TCTD có thể thấy TCTD có những đặc điểm sau:
- Một là, TCTD là doanh nghiệp có đối tượng kinh doanh trực tiếp là tiền tệ.
Cũng giống như các doanh nghiệp khác, TCTD kinh doanh vì mục tiêu lợi
nhuận, nhưng đối tượng kinh doanh trực tiếp không phải là hàng hóa phục vụ thông
thường, mà đó là tiền tệ - một loại hàng hóa đặc biệt, vật ngang giá chung trong trao
đổi và chịu sự tác động của nhiều yếu tố chính trị - xã hội .
- Hai là, TCTD là doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh chính, chủ yếu,
thường xuyên và mang tính chất nghề nghiệp là hoạt động ngân hàng. Đó là các
hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Từ những hoạt động này dẫn đến những nét rất riêng biệt của TCTD.
+ Thứ nhất, TCTD hoạt động trên nguyên tắc “đi vay để cho vay”, nghĩa là
nguồn vốn cho vay của TCTD chính là vốn huy động từ khách hàng dưới
5
Theo Khoản 2 và Khoản 3 Điều 20 Luật Các TCTD 2004.
1.1.2.1. Huy động vốn
Huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của
TCTD. Hoạt động này mang lại nguồn vốn để TCTD có thể thực hiện các hoạt động
khác như cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ khác cho khách hàng. Hoạt động
huy động vốn của TCTD gồm các nội dung như nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có
giá, vay vốn giữa các TCTD và vay vốn của NHNN.
a) Nhận tiền gửi
Nhận tiền gửi là hoạt động huy động vốn chủ yếu của TCTD, nó chiếm tỉ lệ
lớn trong tổng nguồn vốn huy động ở mỗi TCTD. Theo Luật Các TCTD 2004
Huỳnh Anh
10
không đưa ra khái niệm nhận tiền gửi. Để tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt
động này, Luật Các TCTD 2010 đưa ra khái niệm nhận tiền gửi như sau:
Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức
tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành
chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi
khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền
theo thỏa thuận6.
Tùy thuộc vào hình thức hoạt động của TCTD, các TCTD sẽ nhận tiền gửi với
phạm vi khác nhau. TCTD là NH không bị giới hạn về hình thức nhận tiền gửi, tức
là có thể thực hiện tất cả các hình thức nhận tiền gửi. TCTD phi NH chỉ được nhận
tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên của tổ chức, cá nhân theo quy định của
NHNN. Như vậy, TCTD phi NH không thể nhận tiền gửi ngắn hạn và tiền gửi
không kỳ hạn7. Quy định này nhằm góp phần đảm bảo khả năng chi trả cho khách
hàng của các TCTD phi NH. Bởi vì các TCTD phi NH chủ yếu cấp tín dụng trung
và dài hạn8, nếu cho phép tổ chức này nhận tiền gửi không kỳ hạn hoặc nhận tiền
giấy tờ có giá dài hạn hay trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền. Có
thể nhận thấy các điều kiện này đều nhằm mục đích đảm bảo an toàn trong hoạt
động của TCTD và đảm bảo khả năng chi trả của TCTD cho khách hàng mua giấy
tờ có giá. Vì vậy, một trong các điều kiện không thể thiếu trong phát hành là TCTD
được phát hành giấy tờ có giá phải tuân thủ đầy đủ các hạn chế để đảm bảo an toàn
trong hoạt động theo quy định của Luật Các TCTD và hướng dẫn của NHNN11.
10
Khoản 2, Khoản 3, Khoản 4 và Khoản 5 Điều 4 Quy chế phát hành giấy tờ có giá.
11
Xem Điều 18, Điều 22 Quy chế phát hành giấy tờ có giá.
Huỳnh Anh
12
Các TCTD có thể phát hành giấy tờ có giá theo bốn phương thức: TCTD trực
tiếp phát hành giấy tờ có giá; bảo lãnh phát hành giấy tờ có giá thông qua TCTD
khác, công ty chứng khoán được phép hoạt động bảo lãnh giấy tờ có giá và các định
chế tài chính theo quy định tại giấy phép hoạt động; hoặc phương thức đại lý phát
hành, theo đó TCTD ủy quyền cho một số tổ chức khác phát hành giấy tờ có giá;
hoặc phát hành theo hình thức đấu thầu giấy tờ có giá.
Hiện nay, theo Luật Các TCTD 2004, phát hành giấy tờ có giá là một trong
các hình thức huy động vốn, được quy định riêng rẽ với hình thức huy động vốn là
nhận tiền gửi. Điều này đã dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau khi xác định tiền
gửi12. Thực chất, có một số loại giấy tờ có giá (như chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu, kỳ
phiếu) khi TCTD phát hành chúng xét về bản chất cũng là một hình thức nhận tiền
13
"Vay vốn giữa các tổ chức tín dụng" là việc cấp tín dụng dưới hình thức cho
vay của tổ chức tín dụng (bên cho vay) cho một tổ chức tín dụng khác (bên vay)”.
TCTD có thể vay vốn của TCTD nước ngoài13.
Như vậy, việc vay vốn giữa các TCTD cũng là hoạt động cấp tín dụng. Vì
vậy, cũng tương tự như hoạt động cho vay của TCTD đối với các tổ chức, cá nhân
khác. Điểm khác biệt trong quan hệ này là bên vay cũng là một TCTD. Nội dung
quan hệ vay vốn cũng bao gồm những thỏa thuận về nghĩa vụ trả gốc và lãi của bên
vay, các khoản phí khác phải trả của bên vay, về thời hạn cho vay, về các biện pháp
bảo đảm, về phương thức cho vay,...
Hoạt động vay vốn giữa các TCTD được thực hiện trên thị trường liên NH.
Các TCTD trong khi tham gia hệ thống thanh toán có thể mở tài khoản tại các
TCTD khác. Qua tài khoản này, các TCTD có thể cho nhau vay vốn. Thông thường
các TCTD chỉ vay vốn của TCTD khác nhằm đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi trả cấp
bách, trong nhiều trường hợp nó bổ sung và thay thế cho các khoản vay từ NHNN.
d) Vay vốn của Ngân hàng Nhà nước
Trong quá trình hoạt động của TCTD, có những trường hợp TCTD rơi vào
tình huống tạm thời mất khả năng chi trả vì chưa kịp thu hồi nguồn vốn đã cho vay
để chi trả cho khách hàng khi họ có yêu cầu. Vì vậy, pháp luật quy định các TCTD
là NH được phép vay vốn của NHNN trong trường hợp này, qua đó giúp các TCTD
vượt qua khó khăn tạm thời về thanh khoản, bảo vệ quyền lợi cho NGT.
Đây cũng chính là một công cụ mà NHNN sử dụng nhằm thực hiện chính
sách tiền tệ quốc gia - công cụ tái cấp vốn. Qua việc tái cấp vốn cho NH đang gặp
khó khăn về thanh khoản, NHNN đã góp phần đảm bảo ổn định chung cho nền kinh
tế, bởi rủi ro của một NH có tính dây chuyền, có thể ảnh hưởng đến nhiều tổ chức,
cá nhân khác và có thể ảnh hưởng đến sự an toàn của cả hệ thống NH.
Theo quy định hiện hành, “Tổ chức tín dụng là ngân hàng được vay vốn
ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước dưới hình thức tái cấp vốn theo quy định tại
vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng”17.
Thẩm quyền cấp tín dụng của TCTD được quy định tại Điều 49 Luật Các
TCTD 2004 như sau: “Tổ chức tín dụng được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân
dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo
lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà
nước.”
Như vậy, theo quy định trên, hoạt động tín dụng của TCTD thực chất là một
giao dịch hợp đồng, theo đó TCTD thỏa thuận để cho khách hàng sử dụng một số
tiền của mình trong một thời gian nhất định với điều kiện có hoàn trả trên cơ sở sự
tín nhiệm. Loại giao dịch này có những đặc điểm:
- Một bên chủ thể tham gia quan hệ giao dịch là TCTD. TCTD đóng vai trò
là bên cung cấp vốn.
- Nguồn vốn mà TCTD cung cấp cho khách hàng chủ yếu là nguồn vốn huy
động.
15
Điều 17 Luật NHNN 1997; Theo Luật NHNN 2010 các hình thức cho vay tái cấp vốn được quy định như
sau: a) Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá; b) Chiết khấu giấy tờ có giá; c) Các hình thức tái cấp
vốn khác.
16
Xem Điều 30 Luật Các TCTD 1997
17
Khoản 8 Điều 20 Luật Các TCTD 2004. Theo Điều 10 Luật Các TCTD 2004, “Cấp tín dụng là việc tổ
chức tín dụng thoả thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp
vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác”.
Huỳnh Anh
khác của các TCTD như sau:
-
TCTD góp vốn, mua cổ phần trong giới hạn pháp luật quy định.
-
TCTD được kinh doanh ngoại hối và vàng ở thị trường trong nước và
quốc tế khi được NHNN cho phép.
-
TCTD được ủy thác, nhận ủy thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan
đến hoạt động ngân hàng.
Huỳnh Anh
16
-
Được thành lập công ty độc lập để kinh doanh bảo hiểm theo quy định
pháp luật.
1.2.
1.2.1.
Khái quát tiền gửi
tiền gửi; Nghị định số109/2005/NĐ-CP ngày 24 tháng 8 năm 2005 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 1999 về bảo hiểm tiền gửi; Thông tư số 03/2006/TTNHNN ngày 25 tháng 4 năm 2006 về việc hướng dẫn một số nội dung tại Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày
01 tháng 9 năm 1999 về bảo hiểm tiền gửi và Nghị định 109/2005/NĐ-CP ngày 24 tháng 8 năm 2005 về việc
sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 1999 về bảo hiểm tiền
gửi.
19
Khoản 13 Điều 4 Luật Các TCTD 2010.
Huỳnh Anh
17
Như vậy, thông qua khái niệm huy động vốn, chúng ta nhận thấy tiền gửi có
thể được hiểu như sau: Tiền gửi là số tiền của tổ chức, cá nhân gửi tại tổ chức
nhận tiền gửi dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi
tiết kiệm; tiền của tổ chức, cá nhân mua một số loại giấy tờ có giá như chứng chỉ
tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu của các tổ chức tín dụng hoặc các tổ chức khác có
hoạt động ngân hàng.
Theo khái niệm mới này, Luật không liệt kê cụ thể các tổ chức nhận tiền gửi
như trước đây để tránh sự thiếu sót, phạm vi tiền gửi được đưa ra rộng hơn, phù hợp
hơn. Đây cũng là phạm vi nghiên cứu mà chúng tôi hướng đến.
Thực tế có một số tổ chức khác như các tổ chức thực hiện dịch vụ tiết kiệm
bưu điện vẫn có hoạt động nhận tiền gửi. Theo đó, các tổ chức này có thể nhận tiền
gửi tiết kiệm bưu điện, phát hành chứng chỉ tiền gửi và giấy tờ có giá khác theo quy
định của pháp luật20.Theo khái niệm mới này, những khoản tiền này cũng được xem
là tiền gửi.
1.2.2.
chuyên dùng của khách hàng để phục vụ cho mục đích kinh doanh chứng khoán.
Hiện nay, để thu hút khách hàng, hầu hết các NH không thu phí duy trì tài khoản
loại này và khách hàng vẫn được tính lãi trên số dư tiền gửi trong tài khoản.
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn:
Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi
tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ
chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo
hiểm tiền gửi.
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm mà NGT có thể rút tiền
theo yêu cầu mà không cần báo trước vào bất kỳ ngày làm việc nào của tổ chức
nhận tiền gửi tiết kiệm. Đây là loại tiền gửi của các tầng lớp dân cư trong xã hội
nhằm mục đích an toàn tiền gửi, tích lũy và tiết kiệm. NGT được hưởng lãi và được
BHTG. Loại tiền gửi này là tiền để dành của cá nhân chứ không phải để thanh toán.
Tài khoản tiền gửi loại này không được sử dụng để phát hành séc và thực
hiện các giao dịch thanh toán bằng các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt để
chi trả cho người khác, trừ trường hợp tiền gửi tiết kiệm bằng đồng Việt Nam của
người cư trú được sử dụng để chuyển khoản thanh toán tiền vay của chính chủ sở
hữu tiền gửi tiết kiệm hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm tại tổ chức nhận tiền
gửi tiết kiệm đó; hoặc chuyển khoản sang tài khoản khác do chính chủ sở hữu tiền
gửi tiết kiệm hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm là chủ tài khoản tại tổ chức
nhận tiền gửi tiết kiệm đó.
1.2.2.2. Tiền gửi có kỳ hạn
Bao gồm tiền gửi có kỳ hạn của cá nhân, tổ chức và tiền gửi tiết kiệm có kỳ
hạn của cá nhân.
- Tiền gửi có kỳ hạn của cá nhân, tổ chức là loại tiền gửi mà khách hàng gửi
tại các TCTD trên cơ sở có sự thỏa thuận với TCTD nhận tiền gửi về thời gian rút
tiền. Tuy nhiên, hiện nay hầu hết các tổ chức nhận gửi đều cho phép khách hàng có
thể rút tiền trước hạn nếu thỏa mãn những điều kiện nhất định như thời gian báo
trước hoặc có thỏa thuận.
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm mà NGT chỉ có thể rút tiền
hộ NGT đối với phần tiền gửi của họ, đáp ứng nhu cầu tiết kiệm cho khách hàng.
Đối với khách hàng gửi tiền, lợi ích mà họ có được từ việc gửi tiền tại TCTD
trước hết đó chính là khoản lãi của tiền gửi. Những số tiền tiết kiệm này sẽ không tự
nhiên đem lại thu nhập cho chủ sở hữu nhưng từ hoạt động nhận tiền gửi của các
TCTD đã tạo thu nhập cho NGT thông qua việc trả lãi. Vì thế, tiền gửi cũng mang ý
nghĩa đầu tư, bởi tiền gửi sẽ sinh lợi, tạo cơ hội cho NGT gia tăng tiêu dùng trong
tương lai. Khi gửi tiền tại tổ chức nhận tiền gửi, NGT sẽ được nhận một khoản lãi
trên số tiền gửi, từ đó số tiền của khách hàng ngày càng gia tăng. Số tiền lãi khách
hàng nhận được phụ thuộc vào giá trị tiền gửi và hình thức gửi tiền mà khách hàng
lựa chọn. Chẳng hạn, với cùng một số tiền gửi nhưng lãi suất gửi tiết kiệm có kỳ
hạn cao hơn lãi suất gửi tiết kiệm không kỳ hạn.
- Việc gửi tiền tại TCTD có ý nghĩa đảm bảo tính an toàn tiền gửi, bí mật cá
nhân liên quan đến tiền gửi
21
Điều 16 Quy chế về tiền gửi tiết kiệm được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 47/2006/QĐ-NHNN.
Huỳnh Anh