CÔNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƯỞNG "SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
NĂM: 2007
Tên công trình
MỘT SỐ KHÓ KHĂN CỦA GIÁO VIÊN KHI
DẠY DÂN CA CHO TRẺ Ở CÁC TRƯỜNG
MẦM NON HIỆN NAY
Thuộc nhóm ngành: XH
1
Công trình nghiên cứu bao gồm các phần sau:
Mở đầu
I. Lý do chọn đề tài
II. Lịch sử vấn đề
III. Mục đích nghiên cứu
IV. Nhiệm vụ nghiên cứu
V. Giả thiết khoa học
VI. Phƣơng pháp nghiên cứu
VII. Đóng góp của đề tài
VIII. Giới hạn đề tài
IX. Cấu trúc đề tài
Chương I: Cơ sở lý luận về dân ca và dạy dân ca cho trẻ mầm non
§1. Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mầm non khi hát dân ca
I. Khả năng về âm vực giọng hát
II. Sự phát triển của tai nghe và trí nhớ âm nhạc
III. Khả năng diễn đạt tiết tấu
Trong cuộc sống của chúng ta ngày nay có rất nhiều loại hình giải trí khác nhau, trong
đó có âm nhạc. Khi thƣởng thức âm nhạc, ta bắt gặp nhiều loại hình âm nhạc khác nhau,
trong đó có một loại hình âm nhạc mà phần lớn mọi ngƣời đặc biệt là các bạn trẻ ngày nay ít
quan tâm, không yêu thích và ngày càng xa lạ hơn, đó chính là dân ca. Để dân ca ngày càng
đến gần với mọi ngƣời, đến gần hơn với bạn trẻ, ta cần đƣa dân ca vào chƣơng trình giáo dục
âm nhạc các bậc học đặc biệt từ bậc học mầm non. Nhƣng theo thống kê điều tra trên 53 giáo
viên với 15 bài hát dân ca của chƣơng trình giáo dục âm nhạc cho trẻ thì có:
+ 15% giáo viên không biết
+ 25% giáo viên biết nhƣng không thể hát đƣợc
+ 60% giáo viên hát đƣợc nhƣng không đạt yêu cầu
Thêm vào đó là tình hình thực tế của việc giáo dục âm nhạc ở các trƣờng mầm non
của chúng ta hiện nay, thì chính những bài học đầu tiên trong cuộc đời ấy, việc nuôi dƣỡng và
phát triển những giá trị tâm hồn dân tộc ấy lại chƣa thật sự đƣợc phát huy tích cực. Giáo viên
không biết dân ca thì làm thế nào có thể dạy dân ca cho trẻ tốt đây? Chẳng lẽ "dân ca sẽ bị
lãng quên mà mất đi hay sao"? Vậy "Phƣơng thức nào, theo tiêu chí nào để lựa chọn một bài
dân ca phù hợp cho trẻ? Làm cách nào để các cô mạnh dạn, tự tin dạy dân ca cho trẻ? Khi dạy
dân ca cho trẻ các giáo viên cần phải lƣu ý những điều gì?". Đây là điều mà có lẽ còn rất ít
ngƣời để ý, nghiên cứu và cho đến nay vẫn chƣa có một công trình nghiên cứu nào về vấn đề
này.
Vì tất cả những lý do trên, tôi thấy đây là vấn đề cần đƣợc quan tâm, cần đƣợc tìm
hiểu và cần đƣa ra hƣớng khắc phục phù hợp nhất. Vì thế, tôi quyết định chọn nghiên cứu đề
tài: « Một số khó khăn của giáo viên khi dạy dân ca cho trẻ ở các trƣờng mầm non hiện nay».
II. Lịch sử vấn đề
Dân ca là bài học đầu tiên trong cuộc đời, là nguồn sữa mẹ ngọt ngào nuôi dƣỡng tâm
hồn. Nếu mỗi chúng ta không biết từ những câu hát dân gian truyền môi, không biết "Đãi cát
tìm vàng" để phát hiện ra những giá trị làm nên bản sắc dân tộc độc đáo ấy thì điều đó đồng
nghĩa với việc tự làm cho mình bị "suy dinh dƣỡng" về mặt tinh thần vì đã chối bỏ "nguồn
sữa" ngọt lành của âm nhạc dân gian - dân tộc.
Đáp ứng yêu cầu "Giáo dục âm nhạc" theo hƣớng mới và khuyến khích các giáo viên
trẻ.
VI. Phương pháp nghiên cứu
- Phƣơng pháp quan sát, khảo sát
- Phƣơng pháp thực nghiệm
- Phƣơng pháp tổng hợp và rút ra kinh nghiệm
VII. Đóng góp của đề tài
1) Về lý luận
Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về dân ca và dạy dân ca cho trẻ, về một số mặt còn tồn tại,
khó khăn của giáo viên khi dạy dân ca cho trẻ và một số vấn đề cần lƣu ý đối với giáo viên
mầm non khi dạy dân ca cho trẻ.
2) Về thực tiễn
- Phân tích các bài dân ca trong chƣơng trình giáo dục âm nhạc cho trẻ mầm non.
- Quyển sách "Dân ca và trẻ thơ" gồm các bài dân ca phù hợp với lứa tuổi mầm non,
đặt lời mới cho các làn điệu dân ca đó và phân chia theo chủ đề chủ điểm.
- Đĩa nhạc nền 45 bài dân ca.
VIII. Giới hạn đề tài
Dân ca là mảng đề tài rất phong phú, đa dạng và sâu sắc. Do thời gian và kiến thức
không chuyên sâu về âm nhạc nên tôi chỉ đề cập đến một số khó khăn, một số vấn đề cần lƣu
ý đối với giáo viên khi dạy dân ca cho trẻ, cụ thể là đi sâu vào dân ca lao động, dân ca trữ
tình của 15 bài hát dân ca trong chƣơng trình giáo dục âm nhạc cho trẻ mầm non.
IX. Cấu trúc đề tài
Mở đầu
Chƣơng 1 : Cơ sở lý luận về dân ca và dạy dân ca cho trẻ mầm non
Chƣơng 2: Thực trạng của việc dạy dân ca cho trẻ mầm non
Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm
Kết luận chung và đề xuất
với yêu cầu của các bài dân ca trong chƣơng trình vì do cả cô và trẻ ít nghe cũng nhƣ hát các
bài dân ca. Ví dụ nhƣ bài "Cò lả "- Dân ca Bắc Bộ, có âm vực giọng từ Rê 1 – Rê 2, bài "Cây
trúc xinh "-Dân ca Quan họ Bắc Ninh có âm vực từ Rê 1 – Fa 2 nhƣng một số cô, trẻ không
hát đúng âm vực đó. Cô và trẻ thƣờng hát dân ca bằng chất giọng tự nhiên và theo khả năng
của bản thân. Cô-trẻ có âm vực giọng cỡ nào thì sẽ hát bài dân ca theo âm vực đó (có thể thay
đổi âm vực giọng bài hát bằng nút transpose trên đàn).
II. Sự phát triển của tai nghe và trí nhớ âm nhạc.
Ở tuổi này, các cháu thích nghe và chăm chú lắng nghe cô giáo hát hoặc chú ý lắng
nghe các bài hát dân ca trong các băng đĩa, trên đài phát thanh, truyền hình,... Từ đó, các cháu
đã nhận ra đƣợc tên bài hát, nói đúng tên bài hát khi nghe lại âm điệu
5
(không cần có lời). Nhƣ vậy, là đã có sự phát triển về trí nhớ các giai điệu bài hát. Nhƣng trẻ
con ngày nay ít đƣợc nghe và hát các bài dân ca nên việc phát triển tai nghe và hoàn thành trí
nhớ âm nhạc cho trẻ khó có thể thực hiện tốt. Mặt khác, phần lớn các bài dân ca có ca từ, nội
dung tƣơng đối xa lạ với trẻ, trẻ không hiểu nên trẻ khó nhớ và khó hát đúng đƣợc. Qua việc
so sánh giữa hai bài dân ca "Bèo dạt mây trôi" - dân ca Bắc Bộ và bài "Thật đáng chê" - Theo
điệu "Bắc kim thang", lời Việt Anh, ta sẽ thấy rõ điều này. "Bèo dạt mây trôi" nghiêng về
tình cảm lứa đôi với các ca từ khó hiểu, với nội dung mà trẻ chƣa từng trải nghiệm đƣợc, các
ca từ không nằm trong vốn ngôn ngữ riêng của trẻ. Vì thế, khi cho trẻ nghe bài hát này giáo
viên cần có sự giải thích nghiêng về tình cảm gia đình nhiều hơn. Còn bài "Thật đáng chê"
nói về những tính "không ngoan" của trẻ khi đi học, khi ăn uống qua những hình ảnh thật
sinh động, gần gũi với trẻ, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý trẻ (sử dụng hình ảnh chim
chích chòe, cò), bài hát gần gũi, mang tính giáo dục nhẹ nhàng đối với trẻ. Đấy chính là
những điều, những cảm xúc thật mà trẻ đã trãi qua kèm theo là những ca từ gần gũi với trẻ
nên trẻ có thể cảm nhận bài dân ca tốt hơn. Kèm theo đó là sự phát triển sinh lý của trẻ về tai
nghe và trí nhớ âm nhạc chƣa hoàn chỉnh nên trẻ khó có thể hát và nghe tốt các bài dân ca
khó đƣợc.
Vai trò của giáo viên mầm non rất quan trọng, khi cô hát cho trẻ nghe, cần cô phải hát
này, lại có trẻ thích bài hát kia. Trẻ thƣờng thích các bài dân ca có cấu trúc đơn giản, ít luyến
láy, ca từ dễ hát dễ nhớ, lƣợng hơi tƣơng đối ngắn,... nhƣng các bài dân ca nhƣ thế thì hiện
nay rất ít để đáp ứng nhu cầu của trẻ. Các giáo viên mầm non cần sƣu tầm các bài dân ca theo
nhu cầu, khả năng và hứng thú của trẻ.
Ở trẻ có đặc điểm: khi trẻ đã thích một bài hát nào đó thì trẻ sẽ hát hoài, hát mãi một
cách say sƣa, không mỏi mệt. Và trong quá trình hát đó, trẻ từ từ hoàn thiện dần những
khuyết điểm lúc đầu khi mới hát nhƣ: hát sai lời, thiếu lời, sai giai điệu, sai tiết tấu mỗi một
lần hát lại, trẻ vừa nghe ngƣời lớn hát vừa hát theo, cùng lúc đó các cơ quan về tai nghe cũng
nhƣ trí nhớ của trẻ làm việc rất tích cực và từ từ trẻ hoàn thiện dần những khuyết điểm đó, để
đi đến kết quả cuối cùng là trẻ thuộc bài hát đó. Vì giọng hát của cô là cơ sở để trẻ dựa vào
đó để nghe để bắt chƣớc nên cô cần hát thật chuẩn xác về cao độ, ca từ, giọng điệu và diễn
cảm thật phù hợp với bài dân ca.
Trẻ có khả năng ghi nhớ giai điệu bài hát và thể hiện lại theo hứng thú của trẻ. Chúng
ta thƣờng thấy không chỉ ở trong lớp học, mà còn ở mọi nơi trong cuộc sống đời thƣờng,
trong sinh hoạt hằng ngày xung quanh nơi ta ở, nhiều trẻ vừa đi vừa hát rất vô tƣ, rất tự nhiên
những giai điệu bài hát một cách say sƣa mặc dù chỉ là hát cho chính mình nghe.
III. Khả năng diễn đạt tiết tấu
Trẻ đã có thể vừa hát vừa vỗ tay theo tiết tấu của bài dƣới sự hƣớng dẫn của cô giáo.
Để làm đƣợc những điều đó, đòi hỏi trẻ cần đƣợc thƣờng xuyên học tập và rèn luyện trực tiếp
trên các bài dân ca nhƣng do hiện nay trẻ đƣợc làm quen với ca khúc thiếu nhi nhiều hơn dân
ca nên khi thực hiện trên các bài dân ca trẻ rất lúng túng. Thêm vào đó là tiết tấu, cấu trúc các
làn điệu dân ca tƣơng đối phức tạp, có nhiều nốt luyến láy, nốt hoa mỹ, đảo phách,... nên trẻ
khó có thể gõ theo tiết tấu đƣợc tốt. Trẻ có thể cuộn cổ tay, nâng tay lên và hạ xuống; bƣớc
nhúng phối hợp với các động tác tay và chân - bƣớc đầu hình thành động tác múa. Khi nghe
và hát các bài dân ca trẻ cũng rất khó khăn khi múa. Do sự phát triển cơ thể trẻ cũng nhƣ khả
năng múa của cô còn hạn chế nên cả cô và trẻ đều khó khăn trong việc múa các điệu múa của
các bài dân ca dân tộc ít ngƣời (Thái, Khơmer,...). Có một số cô rất ngại khi phải múa minh
họa cho các bài hát dân ca, cô chƣa thể uốn dẻo cổ tay mềm mại, chân đi chƣa nhịp nhàng.
Cụ thể khi cho trẻ nghe và hát bài "Cò lả "-dân ca Bắc Bộ, thì động tác một con cò đang bay
(cổ tay cuộn tròn, chân đi nhịp nhàng, cánh tay giơ lên xuống mềm mại,...) thì cô rất khó thực
Ca từ trong các bài dân ca thƣờng mang nét riêng của phƣơng ngôn vùng miền, phụ
thuộc vào chất giọng của vùng miền đó. Do các giáo viên mầm non và trẻ không biết rõ về ý
nghĩa của các từ ngữ đó, phát âm chƣa đúng chất giọng của vùng miền dẫn đến không thích
nghe và hát dân ca. Các bài dân ca thuộc nhiều vùng miền nhƣng do điều kiện và nơi sống
khác nhau nên một số ngƣời gặp rất nhiều khó khăn trong việc hát các bài dân ca vùng miền
khác. Ví dụ nhƣ một giáo viên Nam Bộ thì khó có thể hát đúng chất giọng, ca từ của dân ca
Bắc Bộ hoặc Trung Bộ và ngƣợc lại giáo viên Bắc Bộ (Trung Bộ) thì cũng khó có thể hát ra
"chất" các bài dân ca Nam Bộ. Vì thế, giáo viên khó có thể truyền tải tốt các bài dân ca khác
vùng miền cho trẻ cảm nhận. Nếu cô phát âm sai sẽ làm cho trẻ bị "nhiễm" cách phát âm đó.
Điển hình qua bài "Cây trúc xinh" hay bài "Xe chỉ luồn kim" nếu cô không nắm bắt ngôn ngữ
cũng nhƣ chất giọng Bắc Bộ thì sẽ không thể hát và giải thích cho trẻ đúng các từ nhƣ: "cây
trúc xinh, xe chỉ luồn kim, vuông nhiễu tím". Do đó, đòi hỏi giáo viên phải tìm hiểu đặc điểm
dân ca các vùng miền, cấu trúc âm nhạc, ca từ, giai điệu của các bài dân ca trƣớc khi giới
thiệu đến trẻ. Nhƣng do điều kiện sống, môi trƣờng làm việc của các cô nên cô không có thời
gian, điều kiện học tập, rèn luyện và nâng cao khả năng âm nhạc cũng nhƣ khả năng hát dân
ca của mình.
8
§2. Cơ sở lý luận về dân ca
I. Khái niệm dân ca
Mọi ngƣời chúng ta, ngay từ khi mới lọt lòng mẹ đến lúc trƣởng thành đều đƣợc nghe
và hát những bài dân ca. Lúc còn đƣợc bế trên tay mẹ, đƣợc bà bồng trong lòng, chúng ta đã
đƣợc nghe những làn điệu êm dịu, nhẹ nhàng trìu mến của những bài hát ru. Thuở còn là trẻ,
ta chơi đùa cùng với những bài đồng dao đến khi trƣởng thành, ta đƣợc nghe những làn điệu
giao duyên, những lời ca tình tứ, duyên dáng và dí dỏm của những điệu hát đối đáp nam- nữ.
Dân ca cổ vũ ta trong những lúc lao động cực nhọc, hô hào hợp sức cùng nhau trong những
công việc nặng... dân ca là những bài hát gắn bó với mỗi giai đoạn của đời ngƣời, gắn bó với
con ngƣời, là tiếng nói của mỗi dân tộc. Vậy, dân ca là gì ?
9
b) Đƣa những từ mới, nhiều dạng và nhiều chức năng khác nhau. Ta có thể phân biệt:
❖ Những âm luyến láy (a, ơ, y ...), những tiếng "đƣa hơi" đặc trƣng cho các lối Ru,
Hò (à ơi, ạ ơi, ầu ơ, hò ơ...)
❖ Những từ "đƣa đẩy" hầu nhƣ chỉ có ý nghĩa nhịp điệu (mà, thời, mà rằng, ấy mấy,
là rằng,...)
❖ Những cụm "tiếng đệm" vừa có ý nghĩa giai điệu, nhịp điệu, vừa có chức năng
hoàn chỉnh khúc thức.
❖ Những từ đặc trƣng cho lối hò lao động (dô ta, dô hò, dô huậy, dô khoan, hò
khoan...)
❖ Những tiếng gọi: Ơi nàng ơi, ơi chàng ơi, ơi bậu ơi, ơi rƣợng ơi, anh cả anh hai đó
ơi, cô mình ơi...
❖ Những tiếng tƣợng thanh nhạc khí phụ họa: tình tính tang, tang tính tình (Cò lả),
tang tít tang nòn nang (Lý tang tít), ố tang tình tang (Lý tình tang)...
❖ Dùng ngay từ "lý" trong tiếng đệm: ta lý, ta lới (lới =lý), qua lý, qua lới, ba lý tang
tình (Hò ba lý)
c) Phát triển điệu thơ gốc. Biện pháp này thật đa dạng trong thực tế. Có thể quy ra
mấy hƣớng sau:
❖ Minh họa ý trong thơ. Ta thử so sánh một cặp 6- 8 khi còn là thơ gốc và khi trở
thành lời ca trong điệu "Lý cây đa" (Dân ca Quan họ Bắc Ninh). Thơ gốc:
Chẻ tre đan nón ba tầm
Cho cô xem hội đêm rằm tháng giêng
Ca từ:
Chẻ tre đan nón đan nón ới tầm ba tầm
Rằng tôi lý ới a ba tầm rằng tôi lới ới a ba tầm
Ai xui ối a tính tang tình rằng
Cho cô mình đội xem hội cái đêm trăng rằm
Rằng tôi lý ối a tháng giêng
âm nhạc khác hoặc dân ca từ nơi khác mang đến và do sức sáng tạo của nhân dân, dân ca
cũng do đó có nhiều thay đổi. Những bài hát dân gian ngày phát triển nhịp nhàng cân đối
hơn, lời ca đƣợc trau chuốt hơn, nhiều hình ảnh, biểu cảm hơn và phù hợp với tình cảm, cách
sống ngày càng phát triển của nhân dân. Tính thay đổi, phát triển không ngừng là một trong
những bản chất của dân ca.
III. Dân ca lao động và dân ca trữ tình giao duyên
Khi nói đến dân ca lao động, ngƣời ta lại nghĩ đến những điệu "hò". "Hò" là một hình
thức văn nghệ dân gian đặc biệt phổ biến nhất ở nông thôn Việt Nam khắp Bắc - Trung Nam đều có những điệu "hò" lao động. Hò lao động có cấu trúc là các câu hò, câu xƣớng
(hay kể) và câu xô.
Câu xƣớng (hay kể) chính là câu thơ gốc, thƣờng là một cặp 6- 8. Khi trình diễn, nó
thƣờng do một ngƣời "lĩnh xƣớng" dựa trên nhạc điệu thơ đƣợc ngắt nhịp bằng những tiếng
xô ngắn. Tiếng xô thƣờng đặt sau từ 2 và từ 6 câu 6, sau từ 4 của câu 8. Hết câu 8 cặp thơ là
đến câu xô. Phần xô là tiếng đồng ca tập thể hƣởng ứng tạo thêm không khí rộn ràng khẩn
trƣơng thích hợp với khung cảnh lao động.
- Hát giao duyên là một trong những loại hình dân ca phổ biến và đa dạng ở khắp các
vùng của đất nƣớc. Hát giao duyên là lối hát đối đáp giữa nam nữ trong những ngày mùa,
những dịp lao động nông nghiệp nhiều ngƣời, những đêm trăng sáng, những hội đám và
những ngày mùa xuân ... Tình cảm của con ngƣời đƣợc thổ lộ qua nhiều khía cạnh trong sinh
hoạt hàng ngày nhất là qua diễn xƣớng văn nghệ. Vì vậy mà ngay cả trong các bài dân ca lao
động là hình thức hò hát khi làm việc không mang tính chất giải trí mà vẫn chứa đựng nội
dung giao duyên rất rõ rệt.
Các lối hát giao duyên này đƣợc chia làm hai loại: các lối hát giao duyên - đối đáp
trong lúc lao động, không có lề lối, không tổ chức phƣờng, họ ... gồm: điệu Cò lả, hát Đò
đƣa, hát Trống quân, hát Ví... Và các lối hát có lề lối, theo quy định tƣơng đối chặt chẽ, có tổ
chức phƣờng họ nhƣ hát Đúm, hát Ghẹo, hát Quan họ.
1. Dân ca lao động và dân ca trữ tình giao duyên Bắc Bộ
Phần lớn các điệu hò miền Bắc là những điệu hò lao động, là những câu ca dao đƣợc
hát to lên theo nhịp điệu của công việc với những từ đệm nhƣ: dô ta, hò khoan, đố khoan đố
huầy, hụ là khoan, la hỡi... kèm theo những động tác, nhịp điệu lao động rất gần gũi với
những tiếng đệm. Có thể cùng một loại công việc, nhƣng mỗi điệu hò đều có giai điệu khác
thống: hò trên cạn và hò trên sông nƣớc: + Hò trên cạn: có nhiều làn điệu nhƣ: hò cấy, hò mái
ố,..
+ Hò trên sông nƣớc: Nam Bộ có địa hình nhiều kênh rạch cùng với nhiều lối sinh
hoạt, lao động trên địa hình này nên có nhiều điệu hò đƣợc hình thành và phát triển mang tên
khác nhau: hò chèo ghe, hò mái đoản, hò mái trƣờng, hò mái một, hò mái hai, hò mái ba,...
Dân ca trữ tình giao duyên Nam Bộ: bao gồm nhiều hình thức thể hiện nhƣ qua các
điệu hò, các bài lý trữ tình. Lý đƣợc hiểu với nghĩa là ca hát. Các bài lý mang những nội dung
khác nhau nhƣng nội dung giao duyên vẫn đƣợc phản ánh đậm nét trong các điệu lý (lý cây
bông, lý chiều chiều, lý Ba tri,...)
IV. Vai trò của dân ca trong việc góp phần giáo dục toàn diện cho trẻ
"Ngƣời không thích âm nhạc là ngƣời mất tính nhân bản"- GS-TS-NSND Quang Hải.
Dân ca có một sự tác động mạnh mẽ đối với con ngƣời, hình thành nhân cách trọn vẹn cho
con ngƣời. Nó giúp cho trẻ làm quen với các điệu hát dân gian của dân tộc cùng chung sống
trên đất nƣớc Việt Nam. Dân ca tạo cơ sở cho việc giáo dục thẩm mỹ âm nhạc, nhận thức vẻ
đẹp và có tình cảm yêu quý, trân trọng nền âm nhạc dân gian và âm nhạc dân tộc. Các nghiên
cứu khoa học cho thấy âm nhạc có tác dụng giúp trẻ thông minh hơn. Âm nhạc (Dân ca) làm
phát sinh những tình cảm đặc biệt. Nó có thể làm cho trẻ uốn éo thân hình theo điệu nhạc hay
lắc lƣ cái đầu theo mỗi dòng cảm xúc. Dân ca giáo dục truyền thống, giáo dục tâm hồn dân
tộc, ngôn ngữ dân tộc, giáo dục phong tục tập quán, tình yêu quê hƣơng - đất nƣớc, yêu cha
mẹ, yêu nhân loại, yêu hoà bình,... Dân ca làm cho tâm hồn ta rộng mở, chắp cánh cho trí
12
tƣởng tƣợng bay cao. Khi nghe bất cứ một làn điệu dân ca nào, tâm hồn ta nhƣ nhẹ lại, một
cảm giác yên bình, ấm cúng lan tỏa khắp nơi. Dù đi bất cứ đâu, khi nghe dân ca ta đều nhớ về
gia đình, quê hƣơng - đất nƣớc, nơi "chôn nhau cắt rốn".
Nhà tâm lý học về trẻ T.S Nguyễn Ánh Tuyết có nói rằng: "Tuổi thơ là bình minh của
cuộc đời, là giai đoạn phát triển nhanh nhất của các chức năng tâm lý ... là thời kỳ tiếp nhận
cái đẹp dễ dàng". Trẻ không thể tự nhận ra cái hay cái đẹp nếu ta không tạo điều kiện cho trẻ
của bàn tay, tay, chân, lƣng, đầu, vai và toàn thân ... Đồng thời, nhờ sự minh họa của những
giai điệu làm cho các chuyển động của trẻ càng chính xác và nhịp nhàng hơn. Ví dụ: Khi
nghe bài " Trống cơm" - Dân ca quan họ Bắc Ninh, trẻ có thể múa vận động theo. Trẻ có thể
vỗ tay vào trống, lắc lƣ cái đầu, chân thì hơi khụy xuống, múa theo để minh họa cho bài hát
sinh động hơn.
13
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY DÂN CA CHO TRẺ
MẦM NON
♦ Để nắm bắt đƣợc thực trạng của việc dạy dân ca cho trẻ mầm non tại các trƣờng
mầm non hiện nay, tôi đã thực hiện cuộc khảo sát nhƣ sau:
- Phát các phiếu điều tra, thăm dò cho cho ban giám hiệu 3 trƣờng mầm, cho các giáo
viên, cho phụ huynh, sinh viên khoa giáo dục mầm non.
- Đi dự các giờ dạy dân ca cho trẻ tại các nhóm lớp
- Trực tiếp lên tiết dạy dân ca cho trẻ
I. Kết quả điều tra thực trạng
Bảng 1: Trình độ của giáo viên tại ba trường mầm non
Trình độ
Trƣờng
Mầm Non 4A
MN Đồng Xanh
MNTT Lan Thảo
Tổng kết
Đại học
Ngƣời
14.7
99.9
70
37.74
♦ Nhận xét: Qua thống kê trên, chúng ta nhận thấy rằng trình độ của các giáo viên
ngày càng đƣợc nâng cao. Tuy nhiên, tỉ lệ giáo viên mầm non bậc đại học (16.98%) và cao
đẳng (45.28%) vẫn còn thấp nên chúng ta cần phải chuẩn hóa trình độ của các giáo viên lên
cao hơn nữa, để đáp ứng sự phát triển ngày càng cao của ngành giáo dục.
Bảng 2: Khả năng âm nhạc của giáo viên tại ba trường mầm non
Khả năng
Trƣờng
Mầm Non 4A
MN Đồng Xanh
MNTT Lan Thảo
Tổng kết
Tốt
Ngƣời
13
1
2
16
Khá
Tỉ lệ
(%)
38.24
18.87
♦ Nhận xét: Theo thống kê, chúng ta nhận thấy rằng khả năng âm nhạc (khả năng về
dân ca) của các giáo viên mầm non chƣa đồng đều. Khả năng âm nhạc (khả năng về dân ca) ở
mức trung bình chiếm tỉ lệ tƣơng đối cao. Điều này gây khó khăn cho các cô trong vấn đề dạy
dân ca cho trẻ.
14
Bảng 3: Khả năng sử dụng nhạc cụ âm nhạc, hát, múa
Khả năng
Sử dụng nhạc cụ
Hát
Múa
Không
Không
Không
Biết
Biết
Biết
Trƣờng
biết
biết
biết
MN4A
53.3%
14.7%
100%
Bảng 4: Trang thiết bị âm nhạc tại ba trường
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Phƣơng tiện phục vụ
Phòng âm nhạc
Đàn organ
Đàn ghita
Máy cassette
Băng, đĩa nhạc
Đầu đĩa
Tivi
Nhạc cụ dân tộc (trống lắc,
phách tre...)
Trang phục dân tộc
Số lƣợng
3
46
6
31
Thích
59
78.6%
Tỉ lệ (ngƣời, %)
Không thích
16
21.4%
Bảng 6: Phụ huynh tạo điều kiện cho trẻ nghe dân ca
Tỉ lệ (ngƣời, %)
Thƣờng xuyên
5/75
6.5 %
Tƣơng đối
22/75
29.5%
ít khi
43/75
57.5%
Không bao giờ
5/75
6.5%
Bắc
Trung
Nam
Tỉ lệ (%) Ngƣời
Tỉ lệ
Ngƣời Tỷ
lệ
Ngƣời (53)
Trƣờng
(53)
(%)
(53)
(%)
Mầm Non 4A
9
26.5
1
2.9
24
70.6
MN Đồng Xanh
1
li
0
0
8
99
MNTT Lan Thảo
2
Tỉ lệ (%) Ngƣời
Tỉ lệ (%)
Mầm Non 4A
7
20.5
0
0
27
79.5
MN Đồng Xanh
0
0
0
0
9
♦ Nhận xét: Theo khảo sát thì ta nhận thấy rằng: Các làn điệu dân ca Nam Bộ thì
tƣơng đối dễ hát.Nhƣng dân ca Trung Bộ thì tƣơng đối khó hát so với các giáo viên mầm non
hiện nay.
16
Bảng 10: Cô thích hát dân ca
Dân ca
Trƣờng.
Mầm Non 4A
MN Đồng Xanh
MNTT Lan Thảo
Tổng kết
Thích
Không thích
Tỉ
lệ
(%)
Ngƣời
(53) Tỉ lệ (%)
Ngƣời
(53)
25
73.5
9
26.5
8
8
9
10
l1
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
Inh lả ơi
Lý cây xanh
Múa đàn
Thật đáng chê
Gà gáy le te
Ru con (DC Nam bộ)
Mƣa rơi
Cò lả
Đi cấy
Cây trúc xinh
Bèo dạt mây trôi
28
23
16
36
42
8/
53
50
37
31
Cô không thích
Tỉ lệ
(%)
73.58
83
77.35
100
77.35
84.9
83
84.9
52.83
88.67
88.67
96.23
37.73
56.6
64.15
52.83
30
37
17
l1
45
0
3
16
22
26.42
17
22.65
0
22.65
15.1
17
15.1
47.17
11.33
11.33
3.77
62.27
43.4
35.85
47.17
56.61
69.82
32.08
20.76
8
26
11
31
22
45
14
9
56.6
15.09
49.06
20.75
58.49
41.5
84.9
26.41
16.98
23
45
27
42
22
31
8
39
44
43.4
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
Inh lả ơi
Lý cây xanh
Múa đàn
Thật đáng chê
Gà gáy le te
Ru con (DC Nam bộ)
Mƣa rơi
Cò lả
Đi cấy
Cây trúc xinh
Bèo dạt mây trôi
Trống cơm
Hoa thơm bƣớm lƣợn
Hát ru
Xe chỉ luồn kim
Chim bay
Hò ba lý
Lý hoài nam
(%)
43.4
3.77
16.9
3.77
20.75
30.2
43.4
5.66
52.83
5.66
6.41
3.77
64.1
58.5
52.83
56.6
49
79.24
16.9
3.77
90.56
0
Số cô
Tỉ lệ (%)
30
51
94.34
73.59
96.23
35.9
41.5
47.17
43.4
51
20.76
83.1
96.23
9.44
100
18
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
94.33
54.9
83
35.8
52.8
28.3
84.9
90.6
53
37
30
22
3
8
9
34
25
38
8
5
100
69.82
56.6
41.5
5.27
15.1
17
64.2
tộc cho trẻ thông qua các hoạt động dạy khác nhƣ qua việc dạy trẻ làm quen môi trƣờng
quanh, dạy trẻ làm quen văn học,...
19
Trong các trƣờng mầm non hiện nay đang tiến hành dạy các ca khúc thiếu nhi cho trẻ
chiếm tỉ lệ cao hơn so với việc dạy dân ca cho trẻ. Vì phần lớn các giáo viên cho rằng: "Tính
giáo dục của các ca khúc thiếu nhi gần gũi, trực tiếp hơn là tính giáo dục của các ca khúc dân
ca". Tôi không phủ định ý kiến trên nhƣng dân ca có tính giáo dục mà không một thể loại âm
nhạc nào có thể sánh đƣợc đó chính là giáo dục truyền thống, giáo dục tâm hồn dân tộc, ngôn
ngữ dân tộc, giáo dục phong tục tập quán, tình yêu quê hƣơng - đất nƣớc, yêu cha mẹ, yêu
nhân loại, yêu hoà bình. Chất tâm hồn Việt Nam là quan trọng, không thể thiếu đƣợc trong
mỗi chúng ta. Vì vậy nó cần phải đƣợc giáo dục ngay từ nhỏ, đặc biệt là lứa tuổi mầm non.
I. Dự giờ giáo viên
- Trực tiếp dạy một tiết về dân ca và một tiết tích hợp dân ca.
- Hai tiết dạy dân ca của hai giáo viên với hai giáo án khác nhau.
- Mƣời tiết dạy dân ca của 10 giáo viên trên cùng một giáo án mẫu.
III. Một số khó khăn của giáo viên mầm non khi dạy dân ca cho trẻ
Khó khăn của giáo viên mầm non khi dạy dân ca cho trẻ có thể kể một số điểm đáng
chú ý nhƣ sau:
- Không có năng khiếu âm nhạc (năng khiếu về dân ca)
- Đặc điểm ngôn ngữ từng vùng miền
Khó khăn lớn nhất của giáo viên mầm non khi dạy dân ca cho trẻ là năng khiếu về âm
nhạc (năng khiếu hát dân ca). Khi cô không có khả năng âm nhạc (khả năng về dân ca) thì
khó có thể hoàn thành tốt việc dạy nhạc, dạy dân ca cho trẻ.
Không có năng khiếu âm nhạc chính là không biết cách luyến láy, không biết cách
nhả chữ, không biết cách lấy hơi, không biết cách đẩy, không biết cách chia câu để lấy hơi,
không có khả năng diễn cảm (điệu bộ, nét mặt, cử chỉ), không có khả năng minh họa (múa,
Với một số khó khăn nhƣ trên, biện pháp khắc phục chủ yếu là:
- Học hỏi ở những ngƣời có am hiểu về âm nhạc (am hiểu về dân ca)
- Học tập và nâng cao kỹ năng âm nhạc
- Học tập và rèn luyện hát dân ca bằng cách nghe băng đĩa hát rồi bắt chƣớc theo
- Tìm hiểu đặc điểm dân ca từng vùng miền, tìm hiểu đời sống sinh hoạt, phong tục,
tập quán các vùng miền qua các tài liệu về dân ca, báo đài, tạp chí,...
- Tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ từng vùng miền
- Tận dụng các thiết bị có sẵn (máy casset, tivi, các dụng cụ âm nhạc, trang phục dân
tộc,...)
- "Tập dân ca không khó chỉ cần có sự chuyên cần" - GS - TS - Nghệ sĩ nhân dân Quang Hải. Tập dân ca thì "Trƣớc lạ sau quen". Nếu ta là ngƣời miền Nam nếu chịu khó
luyện tập, bắt chƣớc tốt thì vẫn có thể hát tốt các bài dân ca miền khác, vì về ngôn ngữ cả ba
miền tƣơng đối giống nhau (trong đó ngôn ngữ Bắc Bộ là chuẩn nhất do tiếp xúc nhiều với
ngƣời Việt), bắt chƣớc lâu dần rồi sẽ quen.
- Nếu ngƣời dạy âm nhạc (dạy dân ca) có khả năng đánh đàn thì càng tốt, điều này sẽ
giúp cho bản thân giáo viên, giúp cho trẻ có sự cảm nhận sâu sắc hơn về dân ca.
♦ Để giải quyết cho những vướng mắc của giáo viên ở phần trên, tôi xin trình bày
một số vấn đề để giáo viên có thể tự tin hơn khi đƣa dân ca đến với trẻ:
* Về vấn đề nội dung các làn điệu dân ca:
Vấn đề đặt ra ở đây không phải một bài dân ca phù hợp với chủ đề, chủ điểm thì mới
đƣa ra vào chƣơng trình, không cần phải yêu cầu trẻ nắm bắt và hiểu rõ nội dung các bài dân
ca. Vấn đề quan trọng chính là dân ca có vai trò đặc biệt trong việc giáo dục tinh thần dân
tộc, giáo dục lòng yêu quê hƣơng - đất nƣớc, yêu cha mẹ, yêu hòa bình,... đây chính là điều
cần thiết mà các giáo viên mầm non cần chuyển tải vào trẻ. Giáo dục tinh thần dân tộc, giáo
dục lòng yêu thƣơng cho trẻ không phải một sớm một chiều mà là cả một quá trình. Các giáo
viên mầm non cần phải biết lựa chọn thời điểm, điều kiện thích hợp để chuyển tải vào trẻ.
Còn về nội dung các bài dân ca, các cô có thể chuyển tải những nội dung nào phù hợp
với trẻ, cái gì cần thiết và phù hợp với trẻ thì cho trẻ biết, còn những gì không phù hợp thì sau
này trẻ lớn lên, trẻ sẽ hiểu. Cái ta muốn là các giáo viên nên cho trẻ làm quen dần với các làn
điệu dân ca, các làn điệu dân tộc, cho trẻ đƣợc nghe để trẻ quen và ngày càng thấm dần chất
dân tộc, để sau này lớn lên trẻ sẽ không cảm thấy ngỡ ngàng, xa lạ với những làn điệu dân ca,
thể dạy các ca khúc quốc tế cho trẻ giúp trẻ cảm nhận đƣợc "văn minh" của nƣớc bạn.
Cần chú ý rằng, ta phải có năng khiếu âm nhạc cộng thêm sự luyện tập, học hỏi thì
mới đạt đƣợc sự hoàn thiện khi dạy dân ca cho trẻ. Các cô không có năng khiếu âm nhạc thì
không nên dạy âm nhạc mà nhà trƣờng cần phải có giáo viên chuyên nhạc để dạy các em hay
sử dụng các phƣơng tiện khác (băng đĩa, ti vi,...). Vì âm nhạc có một sự tác động tƣơng đối
mãnh liệt đối với trẻ nếu dạy không tốt thì ảnh hƣởng rất lớn đến sự phát triển của trẻ.
V. Một số vấn đề cần lưu ý đối với giáo viên mầm non khi dạy dân ca cho
trẻ
1. Tư thế ca hát
Đối với giáo viên mầm non, khi hát trƣớc trẻ, giáo viên cần phải tạo cho mình một tƣ
thế đẹp, duyên dáng, nhẹ nhàng, lôi cuốn trẻ vào hoạt động cùng cô. Trong tiết học âm nhạc
nói chung và tiết dạy dân ca nói riêng, các cô có thể đứng, ngồi hoặc đi lại giao lƣu với trẻ
nhƣng cần phải đạt đƣợc yêu cầu của bài dạy đề ra và phù hợp với trẻ, phù hợp với nội dung
bài học và từng tiết học cụ thể.
22
+ Khi ngồi, cô có thể đặt tay lên đùi hay sử dụng tay đánh nhịp chỉ huy cho trẻ hát
hoặc minh họa nhẹ nhàng phù hợp bài hát. Khi ngồi hát, cô cần giao lƣu, dạy trẻ hát từng câu
từng chữ và cách thức hát một bài dân ca đúng.
+ Tƣ thế đứng hát là tƣ thế cô nhằm biểu diễn cho trẻ nghe theo làn điệu, tình cảm,
nội dung tƣ tƣởng bài hát.
Các giáo viên mầm non cần lƣu ý rằng: chúng ta không nên dùng tƣ thế đứng khi dạy
trẻ mà nên ngồi vì khi đó ta sẽ dễ dàng giao lƣu với trẻ, tạo cho trẻ cảm giác gần gũi hơn và
an toàn hơn, giúp trẻ cảm nhận bài hát tốt hơn. Dù có ở tƣ thế ca hát nào đi chăng nữa cũng
phải đảm bảo yêu cầu: thả lỏng toàn thân, thoải mái tự nhiên khi ca hát, không nghiêng ngã
dù đứng hay ngồi hát, nét mặt tƣơi tắn, linh hoạt diễn cảm bằng ánh mắt, nụ cƣời khi giao lƣu
với trẻ.
Tƣ thế đứng thẳng hoặc ngồi thẳng là tƣ thế tốt nhất cho hơi thở và đó cũng là tƣ thế
23
3. Hát rõ lời
Một bài hát gồm hai phần: âm nhạc và lời ca. Nhờ có lời ca mà việc cảm thụ âm nhạc
diễn ra dễ dàng hơn. Vì thế, việc ca hát rõ lời là một yếu tố quan trọng của chất lƣợng biểu
diễn bài hát. Nếu ca hát không rõ lời, vô tình chúng ta làm cho nội dung bài hát không đƣợc
diễn tả đầy đủ, trọn vẹn và đôi khi làm hỏng cả tác phẩm nghệ thuật. Hát rõ lời rất quan trọng
đối với giáo viên mầm non. Trẻ em lứa tuổi mầm non là lứa tuổi "Học ăn, học nói, học gói,
học mở" nên trẻ rất cần sự phát triển ngôn ngữ bằng âm nhạc. Khi dạy một bài dân ca phải cố
gắng tìm hiểu nguồn gốc, xuất xứ và tính chất phổ biến của bài đó, cần tìm hiểu về đặc điểm
ngôn ngữ tiếng việt, đặc điểm ngôn ngữ từng vùng miền để diễn đạt đƣợc tốt bài hát của
mình.
Để truyền đạt và cảm nhận bài hát tốt, trẻ hát các từ cần rõ ràng, đúng, tiến tới rành
mạch. Chẳng hạn: Nhóm trẻ 2-5 tuổi, trẻ còn đang tập nói, điều khiển lƣỡi chƣa thành thạo
nên thƣờng có những lỗi phát âm nhƣ sau:
- «Bánh» hát thành «bắn», «Le té le te» hát thành «le ché le che», «Mình» hát thành
«mìn»
Các từ có dấu ngã thƣờng hát thành dấu sắc :
- «Cũng» hát thành «cúng», «Ngựa gỗ» hát thành «ngựa gố»
Tập cho trẻ hát rõ lời nhƣng vẫn giữ đƣợc độ mềm mại, duyên dáng trong khi hát cần:
+ Giáo viên đọc lời hát một cách diễn cảm, chậm rãi.
+ Khi học thuộc bài hát ở các nhóm nhỏ, giáo viên cần cho trẻ đọc tập thể lời bài hát
một cách nhẹ nhàng, không đọc to, đọc chậm bằng âm cao. Có nhƣ vậy, các từ sẽ vang lên rõ
rệt, diễn cảm và trẻ sẽ nhớ nhanh, lâu hơn.
+ Đối với trẻ mẫu giáo lớn, cho trẻ đọc tập thể ở âm cao, theo tiết tấu bài hát. Có thể
cho trẻ (hoặc một vài trẻ) đọc chậm, diễn cảm lời hát ở âm cao còn các trẻ khác ngồi nghe.
4. Hát chính xác
Ở mẫu giáo, ta chƣa đòi hỏi cao ở trẻ trong việc hát chính xác. Hát chính xác đối với
trẻ là sự nhắc lại đúng âm điệu và nhịp điệu bài dân ca. Lựa chọn các bài dân ca phù hợp với
âm vực giọng, hơi thở, vừa sức với trẻ sẽ giúp trẻ phát triển những kỹ năng hát chính xác. Để
hỗ trợ cho trẻ hát chính xác, ta có những biện pháp nhƣ sau:
Bắc Bộ luyến láy rất tinh vi, phức tạp đòi hỏi ngƣời hát cần luyện tập nhiều. Khi hát luyến
láy, ta nên hát bằng luồn hơi ngân dài, mềm mại, liên tục với nhau. Các âm luyến láy thƣờng
là âm i, hi, ƣm, ... Khi hát, âm thanh phát ra do ta đƣa lên vùng xoang của mũi và xoang trán
và sau đó đẩy bật ra ngoài. Ví dụ: "Cây trúc xinh".
- Về bản ngữ địa phƣơng thì Bắc Bộ có các dấu thanh hát ở các độ từ thấp đến cao
nhƣ: hỏi - nặng, huyền - thanh không - ngã, sắc. Chính điều này, giáo viên khi hát cần chú ý
các dấu giọng để hát cho ra chất của các bài hát theo vùng miền. Ví dụ ở bài "Hoa thơm
bƣớm lƣợn", "Cây trúc xinh".
- Tiếng đệm: ấy mấy, tình tính tang, tang tính tình, tình bằng, ta lý, ta lới,...
* Điển hình của dân ca Bắc Bộ là dân ca quan họ Bắc Ninh.
+ Giai điệu không có quãng nhất xa, thƣờng liền bậc, nhiều nốt hoa mỹ, không có
đồng âm; các âm trƣờng độ lớn thƣờng đƣợc chia nhỏ ra và hát luyến láy.
Nổi bậc của hát quan họ là nghệ thuật ngân "nảy hạt" và dùng hơi cổ bậc âm đƣa hơi.
Đó cũng là lí do mà quan họ hay dùng phụ âm "h" (i hi) trong nững chỗ ngân dài. Ngoài ra
phong cách hát Quan họ tránh sử dụng những từ đƣa hơi có khẩu hình phát âm rộng (nhƣ âm
a, ƣ)
b. Dân ca Trung Bộ
- Đặc điểm chung: Dân ca Trung Bộ phần lớn mang đậm nét trữ tình khắc khoải, man
mác nỗi buồn. Ví dụ nhƣ bài "Lý hoài nam", "Lý thƣơng nhau", "Hò ba lý",....
- Sự luyến láy ở Trung Bộ thì luyến ở các quãng rộng nhƣ bài "Lý hoài nam" có câu
"chim ơi kêu" có quãng luyến rộng (quãng 4) vì thế đòi hỏi sự tích cực trong việc lấy hơi và
luyến láy phù hợp của ngƣời hát.
- Bản ngữ địa phƣơng: dấu hỏi, dấu sắc, dấu nặng hát ở âm rất thấp sau đó đến dấu
huyền và cuối cùng là không dấu.
- Khi hát các bài dân ca Trung Bộ, ta nên hát ra cái "chất đƣợm buồn" của bài, thể
hiện đúng tâm trạng của ngƣời xƣa. Các tiếng đệm trong dân ca Trung Bộ mang