Tiểu luận triết học tư tưởng triết học của pháp gia và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống chính trị của thời đại - Pdf 32

Tiểu luận Triết học

GVHD: TS. Bùi Văn Mưa

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

…………………...

..

…..……………….

Đề tài:

TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA PHÁP GIA
VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN ĐỜI SỐNG
CHÍNH TRỊ CỦA THỜI ĐẠI

GVHD : TS. Bùi Văn Mưa
SVTH : Nguyễn Lương Ngân
LỚP
: Đêm 1 – K19

THÁNG 3/2010

HVTH: Nguyễn Lương Ngân

0




Đóng góp: .................................................................................................................... 10

b)

Hạn chế: ...................................................................................................................... 14

Chương II .................................................................................................................................... 16
SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA TRIẾT HỌC PHÁP GIA .................................................................... 16
TRONG VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN ...................................................... 16
Ở VIỆT NAM. ............................................................................................................................ 16
1. Vận dụng tư tưởng triết học Pháp Gia trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN
Việt Nam hiện nay ...................................................................................................................... 16
2. Những thành tựu và hạn chế của Nhà nước pháp quyền VN hiện nay .................................. 18


Thành tựu: ................................................................................................................... 18



Hạn chế: ...................................................................................................................... 19

3. Kiến nghị đề xuất ................................................................................................................... 23
KẾT LUẬN ................................................................................................................................. 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................................... 27

HVTH: Nguyễn Lương Ngân

1


HVTH: Nguyễn Lương Ngân

2


Tiểu luận Triết học

GVHD: TS. Bùi Văn Mưa

Chương 1

TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHÁP GIA CỦA HÀN PHI TỬ
1. Hoàn cảnh lịch sử
Pháp gia là một trong sáu trường phái triết học tiêu biểu của Trung Quốc
thời cổ - trung đại, nó có ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp thống nhất về tư tưởng và
chính trị trong xã hội Trung Hoa lúc bấy giờ. Tư tưởng pháp trị đã được hình
thành từ khá sớm với Quản Trọng là người khởi xướng. Quản Trọng (thế kỷ VI
TCN) là người nước Tề, vốn xuất thân từ giới bình dân nhưng rất có tài chính trị,
được coi là người đầu tiên bàn về vai trò của pháp luật như là phương cách trị
nước. Tư tưởng về pháp trị của Quản Trọng được ghi trong bộ Quản Tử, bao
gồm 4 điểm chủ yếu sau1:
Một là, mục đích trị quốc là làm cho phú quốc binh cường "Kho lẫm đầy
rồi mới biết lễ tiết, y thực đủ mới biết vinh nhục".
Hai là, muốn có phú quốc binh cường một mặt phải phát triển nông, công
thương nghiệp, mặt khác phải đặt ra và thực hiện lệ chuộc tội: "Tội nặng thì
chuộc bằng một cái tê giáp (áo giáp bằng da con tê); tội nhẹ thì chuộc bằng một
cái qui thuẫn (cái thuẫn bằng mai rùa); tội nhỏ thì nộp kinh phí; tội còn nghi thì
tha hẳn; còn hai bên thưa kiện nhau mà bên nào cũng có lỗi một phần thì bắt nộp
mỗi bên một bó tên rồi xử hòa"
Ba là, chủ trương phép trị nước phải đề cao "Luật, hình, lệnh, chính". Luật

TCN), ông là người nước Triệu và chịu ảnh hưởng một số tư tưởng triết học về
đạo của Lão Tử, nhưng về chính trị ông lại đề xướng đường lối trị nước bằng
pháp luật. Thận Đáo cho rằng Pháp luật phải khách quan như vật "vô vi" và điều
đó loại trừ thiên kiến chủ quan, riêng tư của người cầm quyền. Phải nói rằng đây
là một tư tưởng khá tiến bộ mà sau này Hàn Phi đã tiếp thu và hoàn thiện. Trong
phép trị nước, đặc biệt Thận Đáo đề cao vai trò của "Thế". Ông cho rằng: "Người
hiền mà chịu khuất kẻ bất tiếu là vì quyền thế nhẹ, địa vị thấp: kẻ bất tiếu mà
phục được người hiền vì quyền trọng vị cao. Nghiêu hồi còn làm dân thường thì
không trị được ba người mà Kiệt khi làm thiên tử có thể làm loạn cả thiên hạ, do
đó biết rằng quyền thế và địa vị đủ để nhờ cậy được mà bậc hiền, trí không đủ
cho ta hâm mộ. Cây ná yếu mà bắn được mũi tên lên cao là nhờ sức gió đưa đi,
kẻ bất tiếu mà lệnh ban ra được thi hành là nhờ sức giúp đỡ của quần chúng, do
đó mà xét thì hiền và trí không đủ cho đám đông phục tùng, mà quyền thế và địa
vị đủ khuất phục được người hiền"
Cùng thời với Thận Đáo, có một người cũng nêu cao tư tưởng Pháp trị, đó
là Thương Ưởng. Ông đã hai lần giúp vua Tần cải cách pháp luật hành chính và
kinh tế làm cho nước Tần trở nên hùng mạnh. Trong phép trị nước Thương Ưởng
đề cao "pháp" theo nguyên tắc "Dĩ hình khử hình" (dùng hình phạt để trừ bỏ hình
phạm). Theo ông pháp luật phải nghiêm và ban bố cho dân ai cũng biết, kẻ trên
người dưới đều phải thi hành, ai có tội thì phạt và phạt cho thật nặng. Trong
chính sách thực tiễn, Thương Ưởng chủ trương: Tổ chức liên gia và cáo gian lẫn
nhau, khuyến khích khai hoang, cày cấy, nuôi tằm, dệt lụa, thưởng người có
HVTH: Nguyễn Lương Ngân

4


Tiểu luận Triết học

GVHD: TS. Bùi Văn Mưa


HVTH: Nguyễn Lương Ngân

5


Tiểu luận Triết học

GVHD: TS. Bùi Văn Mưa

 Pháp
Nếu hiểu theo nghĩa rộng, Pháp là thể chế quốc gia, chế độ chính trị của xã
hội. Còn theo nghĩa hẹp, pháp là luật lệ, quy định, điều luật, hiến lệnh có tính
chất khuôn mẫu buộc mọi người phải tuân thủ.
Theo Hàn Phi Tử, vua là người tượng trưng cho chủ quyền quốc gia nên nhà
vua nắm cả 3 quyền này: lập pháp, hành pháp, tư pháp. Khi thực hiện phải đảm
bảo điều kiện như sau:
- Luật pháp phải kịp thời.
- Pháp luật soạn cho dân phải dễ hiểu, dễ thi hành. Như vậy, nội dung chủ
yếu của luật pháp là thưởng và phạt. Đây là hai đòn bẩy của vua trong hệ thống
chính quyền, mục đích là khuyến khích người dân làm điều thiện, ngăn ngừa kẻ
làm điều ác. Như vậy, làm cho nước yên, không có gì hại cho dân cả.
- Pháp luật phải công bằng, chủ trương trừng phạt trong pháp luật phải
nghiêm minh, triệt để. Mọi người phải bình đẳng trước pháp luật, không được
loại trừ ai kể cả giới quý tộc và quan lại.
- Pháp luật cần phổ biến, pháp là những điều luật, luật lệ mang tính nguyên
tắc được biên soạn rõ ràng, minh bạch, mang tính khuôn mẫu, được ghi chép
trong đồ thư, phải được bày ra và ban bố rộng rãi trong dân chúng. Pháp là cơ sở
khách quan, là tiêu chuẩn phân biệt rõ phải trái, tốt xấu, danh phận, hành pháp để
mọi người biết rõ bổn phận trách nhiệm, biết được điều cần làm và không cần

phương tiện hiệu nghiệm nhất để tiến hành cưỡng chế. Ông cho rằng “thưởng
phải tín phạt phải tất, thưởng phải hậu phạt phải nặng”, thưởng phạt trong phép
nước phải chí công vô tư.
- Vua phải nắm hết hai quyền thưởng phạt vì hai quyền đó giống như nanh
vuốt của cọp. Ông ta nói “cọp sở dĩ phải làm cho chó phải khiếp sợ vì cọp có
nanh vuốt, nếu cọp bỏ nanh vuốt cho chó dùng thì cọp phải sợ chó”, vì vậy dứt
khoát nhà vua phải nắm hết hai quyền này.
 Thuật
Thuật là phương pháp, thủ thuật, cách thức, mưu lược, điều khiển công việc
để dùng người, để cho con người phải triệt để, tận tâm thực hiện lệnh của vua mà
không hiểu vua dùng họ như thế nào3. Thuật có hai nghĩa, nếu hiểu theo nghĩa kỹ
thuật: là phương án tuyển, dùng, xét khả năng của quan lại, nếu hiểu theo nghĩa
tâm thuật: là mưu mô chế ngự quần thần, bắt họ để lộ thâm ý của họ.

3

Nguyễn Ngọc Thu & Bùi Văn Mưa, Giáo trình Đại cương lịch sử triết học, NXB TP.HCM 2003.

HVTH: Nguyễn Lương Ngân

7


Tiểu luận Triết học

GVHD: TS. Bùi Văn Mưa

Theo Hàn Phi Tử để trị nước, ông cho rằng:
- “Vua trị lại bất trị dân” tức là công việc có quá nhiều, vua không thể làm
hết được nên vua phải giao quan lại, hễ dân không loạn là quan làm tốt. Vua tổ



Tiểu luận Triết học

GVHD: TS. Bùi Văn Mưa

- Về phương pháp dùng người, khi nghe bề tôi nói thì vẻ mặt của vua phải
trầm mặt, lầm lì, không khen, không chê, không để lộ tình cảm của mình. Phải
bắt bề tôi nói, không được làm thinh, khi nói phải có đầu đuôi chứng cứ, lời nói
của bề tôi trước sau không được mâu thuẫn, bề tôi phải đưa ra ý kiến ba phải,
không được mập mờ, lời nói phải thiết thực.
- “Dụng nhân như dụng mộc”: người nào cũng có thể sử dụng được, căn cứ
vào tài năng của họ. Giao việc rồi mới biết họ hay hay dỡ, khi giao chức phải
theo 3 quy tắc:
+ Giao bậc từ nhỏ đến cao: chức tước càng cao, chức vụ càng lớn, càng có
tài cai trị.
+ Không được cho kiêm nhiệm, mỗi người làm một chuyên môn nhất
định.
+ Khi giao trách nhiệm thì phải dùng người khác để dòm ngó người đó.
 Để xây dựng một quốc gia lý tưởng:
- Là một quốc gia theo chế độ quân chủ chuyên chế, vua phải có uy thế
tuyệt đối, đích thân chế ngự quần thần, không ủy một chút quyền cho ai cả.
- Pháp trị gồm:
+ Ai cũng phải tuân theo pháp luật, kể cả vua, phải chí công vô tư, không
được dùng nhân nghĩa tình cảm.
+ Phải thống nhất tư tưởng, không dung nạp tư tưởng học thuyết trái với chủ
trương của chính quyền.
+ Phải “trọng nông bất thương” tức coi trọng phát triển nông nghiệp, hạn chế
thương nghiệp bởi vì “phi nông bất ổn” tức không có nông nghiệp thì nền kinh tế
không ổn định, “phi thương bất hoạt” tức không có thương nghiệp thì nền kinh tế

Trong quốc gia lý tưởng: thương mại ít trao đổi hàng hóa cần dùng, công
nghệ chế tạo những dụng cụ cần thiết, mỹ nghệ không còn, ca nhạc không có,
trường học chỉ dạy một số ít người biết đọc, biết viết để làm quan, để giảng giải
pháp luật cho dân. Để trị nước thì vua phải dùng thế để thi hành pháp luật, phải
khéo dùng thuật để chế ngự bầy tôi.
3. Những đóng góp và hạn chế của triết học Pháp Gia đối với xã hội Trung
Hoa cổ đại.
a) Đóng góp:
Thời Chiến Quốc chính là thời kỳ lịch sử phát triển rực rỡ về tư tưởng
“trăm hoa đua nở”, “bách gia chư tử”. Trong thời đại “ Bách gia chư tử” ấy, có
những khuynh hướng mà tư tưởng nhiều khi đối lập nhau, quan trọng nhất phải
kể đến là: Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, Pháp gia.
HVTH: Nguyễn Lương Ngân

10


Tiểu luận Triết học

GVHD: TS. Bùi Văn Mưa

- Phái thứ nhất có Nho gia và Mặc Tử, Khổng Tử muốn khôi phục nhà Chu.
Mặc Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử thấy nhà Chu suy quá, không cứu được, lại mong có
vị minh quân thay Chu thống nhất Trung Hoa bằng chính sách Đức trị có sửa đổi
ít nhiều.
- Phái thứ hai, phái Đạo gia muốn giảm thiểu, thậm chí giải tán chính
quyền, sống tự nhiên như thuở sơ khai, từ bỏ xã hội phong kiến để trở về xã hội
cộng sản nguyên thuỷ.
- Thứ ba, phái pháp gia muốn dùng vũ lực lật đổ chế độ phong kiến phân
tán và lập ra chế độ phong kiến quân chủ chuyên chế, thay “vương đạo” của

tranh sinh tồn và giải thích nguyên nhân của sự nghèo khổ là do dân số tăng lên
quá nhanh, vượt xa sự gia tăng của sản xuất (xem thiên ngũ đố). Hàn Phi nhắc
các vị vua phải cứng rắn, nghiêm khắc trong việc trị nước, đồng thời ông cũng
HVTH: Nguyễn Lương Ngân

12


Tiểu luận Triết học

GVHD: TS. Bùi Văn Mưa

mong muốn họ thực hiện chí công vô tư, từ bỏ tư lợi, tà tâm cứ theo phép công
mà làm thì nước sẽ thịnh: “Không nước nào luôn mạnh, không nước nào luôn
yếu. Người thi hành pháp luật (tức vua) mà cương cường thì nước mạnh, người
thi hành pháp luật mà nhu nhược thì nước yếu...
Cho nên ở vào thời kỳ này, nhà cầm quyền nào biết từ bỏ lợi, tà tâm mà
theo phép công thì binh sẽ mạnh, địch sẽ yếu”. Mặc dù dân trí thấp, người dân
chỉ biết cái lợi trước mắt..., nhưng Hàn Phi vẫn đề cao chính sách dùng người, tài
năng của nhà cai trị thể hiện ở việc dùng sức, dùng trí của người khác. Đây là
một tư tưởng rất sâu sắc về quản lý mà Hàn Phi đã nêu ra. Hàn Phi phát triển học
thuyết của mình trên cơ sở kế thừa của các pháp gia trước ông, nhưng phải đến
Hàn Phi thì nó mới trở nên sâu sắc, phổ biến với nhiều nội dung mới. Hàn Phi
dùng chữ “pháp” theo nghĩa phép tắc, còn pháp gia nói tới “pháp” là chỉ pháp
luật. Hàn Phi ví pháp luật với dây mực, cái quy, cái củ... tức là những đồ dùng
làm tiêu chuẩn để phân biệt đúng sai, phải trái. Pháp không tách rời khỏi Thế và
Thuật mà cùng tạo nên một cái kiềng ba chân. Luật pháp phải kịp thời. Hàn Phi
viết: “Thời thay mà pháp luật không đổi thì nước loạn, đời đã thay đổi mà cấm
lệnh không biến thì nước bị cắt”. Đối với Hàn Phi, pháp luật là thứ “phép công”
điều khiển hành vi của mọi người. Trong các phạm trù cơ bản của pháp học thi

máy móc và cứng nhắc, hoàn toàn không có tính đàn hồi trong việc sử dụng pháp
luật.
3. Coi các điều khoản pháp luật chính thức là hình thức duy nhất phù hợp với
pháp luật, hoàn toàn bỏ qua nhân tố luật tập quán.
4.Giải thích mục tiêu pháp luật quá chú trọng đến phương diện vật chất; thực
ra, luật pháp cần phải giúp phát triển một cách bình đẳng các lợi ích khác nhau.
5. Ở họ, có lòng nhiệt huyết cải cách mù quáng, song lại quá thiếu ý thức lịch
sử, dường như là muốn sáng tạo lại lịch sử .

HVTH: Nguyễn Lương Ngân

15


Tiểu luận Triết học

GVHD: TS. Bùi Văn Mưa

Chương II

SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA TRIẾT HỌC PHÁP GIA
TRONG VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
Ở VIỆT NAM.
1. Vận dụng tư tưởng triết học Pháp Gia trong việc xây dựng Nhà nước pháp
quyền XHCN Việt Nam hiện nay
Luật được áp dụng để tạo ra sự nghịch biện, bằng cách ấy các quan lại của
Hoàng đế có thể tìm kiếm và lựa chọn ra điều luật để áp dụng. “Thế” chính là
mưu mẹo khôn khéo để vượt trên pháp luật, dù xét theo từng điều một thì pháp
luật là rõ ràng và đơn giản, nhưng nó vẫn là một cơ cấu mà theo đó một sự vi
phạm pháp luật dù là nhỏ nhất, mà bất kỳ ai ở bất kỳ địa vị nào đều có thể phạm

bị đàn áp ở thời Tần5.
Ngay sau khi khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã coi việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là
nhiệm vụ cực kỳ quan trọng. Việt Nam hiện đang ở đâu trên lộ trình đi đến nhà
nước pháp quyền - đặc biệt tôn trọng quyền lực của pháp luật?
Đảng Cộng sản Việt Nam đã kế thừa tinh hoa tri thức của triết học phương
Đông, đặc biệt là tư tưởng pháp trị về “Pháp”, “Thế”, “Thuật” của Hàn Phi Tử,
để xây dựng nhà nước pháp quyền XNCN Việt Nam hiện nay, cụ thể:
Pháp trị nghĩa là cai trị bằng pháp luật, thực thi quyền hành bằng pháp luật.
Pháp quyền là quyền lực của pháp luật, thượng tôn pháp luật: nhấn mạnh quyền
lực, sức mạnh của pháp luật.
Nói pháp trị là nói phương thức, công cụ; nói pháp quyền là tính chất, bản
chất của xã hội. Như vậy trong pháp quyền đã ngầm có pháp trị. Quan niệm hiện
nay tại Việt Nam về nhà nước pháp quyền như sau: Nhà nước được làm điều mà
pháp luật cho phép, dân được làm điều mà pháp luật không cấm.
Vận dụng tư tưởng “Pháp” trong phép trị nước, Đảng ta đã xây dựng nhà
nước Pháp quyền XHCN Việt Nam, nhà nước trong đó luật pháp giữ địa vị cao
nhất. Pháp luật trở thành tiêu chuẩn và căn cứ cơ bản nhất, cao nhất trong mọi
hoạt động của bản thân nhà nước, của các tổ chức xã hội và của mỗi công dân.
Việc xây dựng luật pháp được thực hiện trên cơ sở tính nghiêm minh, khách
quan, công bằng với mọi người.
Uy tín của Đảng và nhà nước ngày càng được nhân dân tin tưởng thông qua
việc cải cách đường lối, thể chế chính trị của Đảng; chính sách pháp luật của nhà
nước. Nhà nước giữ địa vị cao nhất nắm cả ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư
pháp và mọi người dân phải chấp hành theo luật pháp; Quốc hội là cơ quan cao
nhất, được Nhà nước giao quyền lập pháp; Tòa án, Viện Kiểm Sát là hai cơ quan
tư pháp bảo vệ pháp luật; hệ thống chính quyền từ trung ương đến địa phương là
5

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia – Áp dụng thực tiễn của Pháp gia.

quyền tự do dân chủ và lợi ích hợp pháp của nhân dân, ngăn ngừa sự tuỳ tiện từ
phía cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước, ngăn ngừa hiện tượng dân
chủ cực đoan, vô kỷ luật, kỷ cương, bảo đảm hiệu lực và hiệu quả hoạt động của
nhà nước. Mọi cơ quan nhà nước, các tổ chức, kể cả tổ chức Đảng, cán bộ, công
chức đều phải hoạt động theo pháp luật, tuân thủ pháp luật, chịu trách nhiệm
trước nhân dân về các hoạt động của mình. Mọi công dân đều có nghĩa vụ chấp
hành Hiến pháp và pháp luật.
- Những thành tựu, những tiến bộ trên đây đã tạo nền tảng cho công tác
quản lý đất nước. Nhờ vậy, đất nước được ổn định và về chính trị, kinh tế, văn
HVTH: Nguyễn Lương Ngân

18


Tiểu luận Triết học

GVHD: TS. Bùi Văn Mưa

hóa, xã hội có bước phát triển tốt, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
được nâng lên rõ rệt, định hướng xã hội chủ nghĩa được giữ vững. Tuy vậy, vẫn
còn hai vấn đề cơ bản sau đây cần được tiếp tục hoàn thiện và nâng cao chất
lượng lên một trình độ mới để đáp ứng kịp thời yêu cầu của sự phát triển của
cách mạng trong tình hình mới: tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao
chất lượng giáo dục và quản lý việc thực hiện pháp luật; chăm lo bồi dưỡng
phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ, viên chức nhà nước.
 Hạn chế:
-

Dù đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trong việc xây dựng và



những bất cập lớn vẫn tồn tại trong một lĩnh vực rất quan trọng là thuế thu nhập
từ chuyển quyền sử dụng đất. Những bất cập này không chỉ ngăn cản một luật
quan trọng, tiến bộ đi vào cuộc sống, gây thất thu cho Nhà nước mà còn tạo khe
hở cho tham nhũng.
+ Thứ hai, tình trạng mà các chuyên gia gọi là “luật ống” vẫn không thể khắc
phục. Luật có hiệu lực không thể đi vào cuộc sống chừng nào chưa có các văn
bản dưới luật hướng dẫn thực hiện.
Một điều khoản rất gây tranh cãi trong thực thi hiện nay là điều khoản về
điều kiện được miễn thuế thu nhập cá nhân khi nhà chuyển nhượng là nhà duy
nhất. Dụng ý tích cực của nhà làm luật khi đưa ra điều khoản này là nhằm xác
đị nh đối tượng chí nh phải chị u thuế thu nhập là những người kinh doanh bất
động sản hoặc có nhiều bất động sản . Những người mua bán nhà vì nhu cầu thay
đổi chỗ ở không phải đối tượng chí nh điều chỉ nh của luật.
Tuy nhiên, quy đị nh này làm nảy sinh vấn đề làm sao xác đị nh “người bán
chỉ có một nhà duy nhất” . Theo luật và Thông tư 84 của Bộ Tài chính, người bán
nhà tự kê khai và cam đoan chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc nhà chuyển
nhượng là nhà duy nhất.
Tuy nhiên các cơ quan chị u trách nhiệm làm thủ tục chuyển nhượng hiện nay
đều không chấp nhận hình thức cam kết này với lý do “chưa có hướng dẫn về
cách thức xác minh và mức độ phạt nếu kê khai sai” . Người chuyể n nhượng hoặc
chấp nhận nộp thuế (tức từ bỏ lợi í ch chí nh đáng được pháp luật quy đị nh ) hoặc
ăn chia với cán bộ tí nh thuế để được miễn giảm.
Do những điểm chưa rõ ràng trong thực thi luật , người dân sẽ không làm thủ
tục nếu chưa có nhu cầu bức thiết . Trong trường hợp phải có sổ đỏ để xin cấp
phép xây dựng , thế chấp… người dân sẽ phải chạy vạy , chấp nhận ăn chia với
cán bộ tính thuế để được miễn giảm thuế theo quy định

. Thông thường t rong


và sự phát triển của cuộc sống và phải khả thi . Các nhà làm luật cần sâu sát hơn
với cuộc sống , với thực tiễn , cần tí nh đến việc làm thế nào để thực thi các quy
đị nh do mì nh xây dựng , đừng để các lỗ hổng pháp luật khiến người dân phải vất
vả trước cửa công quyền.
- Trong những năm qua, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật để xây dựng
nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, người dân đã thực sự có niềm tin về sự
lãnh đạo của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh mọi chủ trương của Đảng và chính
sách pháp luật của Nhà nước trong công cuộc đổi mới đất nước theo nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng pháp trị về “Thế” đã được
Đảng ta vận dụng một cách tài tình trong việc xây dựng bộ máy nhà nước, uy tín
của Đảng và Nhà nước ngày một củng cố. Dù vậy, bên cạnh đó cũng có không ít
người dân vẫn còn bức xúc về chế độ chính sách của Nhà nước và cách giải
quyết của một số cán bộ công chức ở chính quyền cơ sở vẫn chưa hợp tình hợp lý
HVTH: Nguyễn Lương Ngân

21


Tiểu luận Triết học

GVHD: TS. Bùi Văn Mưa

nên xảy ra tình trạng người dân đi khiếu kiện, khiếu nại, tố cáo, đặc biệt là khiếu
nại đông người tại trụ sở tiếp dân của trung ương Đảng ở Hà Nội và TP. Hồ Chí
Minh, đã gây ra hình ảnh không tốt về bộ máy nhà nước đối với nhân dân, làm
giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
Theo thống kê của các cơ quan chức năng thì hiện nay có khoảng 80% số vụ
khiếu nại có nội dung liên quan đến đất đai. Bên cạnh nội dung khiếu nại, còn có
các nội dung tố cáo sai phạm của một bộ phận cán bộ cơ sở có sai phạm trong
quản lý tài chính, đất đai...Do vậy, Đảng và Nhà nước cần phải rà soát lại cơ chế,

Tiểu luận Triết học

GVHD: TS. Bùi Văn Mưa

dụng, quy hoạch và đề bạt cán bộ, không đáp ứng đúng yêu cầu, nhiệm vụ trong
từng giai đoạn. Đấy cũng là nguyên nhân gây ra tình trạng chán nản, bất bình đối
với những cán bộ có năng lực, từ đó họ xin nghỉ việc ra làm ngoài tự do thoải
mái hơn. Ngoài ra, ở nước ta tình trạng một người kiêm nhiệm nhiều chức vụ hay
một người được giao công việc không đúng chuyên môn của mình vẫn còn phổ
biến. Điều đó, đã làm giảm năng suất làm việc cũng như hiệu quả làm việc của
họ.
3. Kiến nghị đề xuất
Một trong những chức năng trọng tâm của Quốc hội là xây dựng hệ thống luật.
Tuy nhiên, thời gian qua công tác này vẫn còn một số nhược điểm. Để xây dựng
một hệ thống pháp luật chặt chẽ, mang tính khách quan và không quá xa rời thực
tiễn, đòi hỏi:
+ Nhà làm luật phải là người có trình độ chuyên môn, lý luận chính trị nhất
định. Vì vậy, cần phải xây dựng lại cơ cấu tiêu chuẩn để được bầu làm đại biểu
quốc hội. Đại biểu quốc hội phải là người có trình độ chuyên môn, phải là người
hiểu được tâm tư nguyện vọng của nhân dân, phải là người nắm bắt được xu
hướng của thời đại và đất nước hiện nay.
+ Khi xây dựng luật thì phải khách quan, bám sát vào thực tế, không được
dựa vào ý chí chủ quan của cá nhân mà áp dụng một cách tùy tiện, trước khi luật
được ban hành phải đưa ra cho dân xem xét, phản ảnh.
+ Luật phải có tính khả thi, nội dung phải rõ ràng, cụ thể. Tránh tình trạng
luật được ban hành với một nội dung này nhưng mỗi người lại hiểu một nghĩa
khác, Cần phải hạn chế đến mức thấp nhất các nghị định, thông tư hướng dẫn
luật.
+ Luật được ban hành phải phù hợp với xu thế hiện tại, đồng thời phải có tầm
nhìn xa, tránh có sự chồng chéo về nội dung với luật khác. Không để tình trạng

Hàn Phi Tử nói “Dụng nhân như dụng mộc”. Đó chính là phương pháp sử
dụng đúng người, đúng việc. Do vậy, Nhà nước khi xây dựng bộ máy cần làm
đồng bộ, giảm sự lệ thuộc vào thứ bậc hành chính, thâm niên công tác mà chuyển
sang phụ thuộc vào năng lực của mỗi người. Phải xóa bỏ cả việc phân công mà
không đúng năng lực, khiến có người "long đong cả đời không biết mình giỏi ở
lĩnh vực nào"
Đôi khi, luân chuyển sẽ ảnh hưởng tới quá trình phấn đấu của mỗi người,
nhưng người tài cần phải được trọng dụng, được cống hiến trọn vẹn trí tuệ và tâm
huyết chứ không phải đơn thuần là một "chiếc ghế", một vị trí trong cơ quan.
+ Kiên quyết đưa người không đủ tiêu chuẩn ra khỏi bộ máy với các giải
pháp sàn lọc cán bộ không đủ tiêu chuẩn và nâng cao chất lượng cán bộ trong

HVTH: Nguyễn Lương Ngân

24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status