Nghiên cứu ứng dụng phương pháp georada trong điều tra tai biến địa chất, tìm kiếm nước dưới đất và khoáng sản kim loại - Pdf 32

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

LIÊN ĐOÀN VẬT LÝ ĐỊA CHẤT

BÁO CÁO TỔNG KẾT
THỰC HIỆN ĐỀ TÀI KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP GEORADA
TRONG ĐIỀU TRA TAI BIẾN ĐỊA CHẤT
TÌM KIẾM NƯỚC DƯỚI ĐẤT
VÀ KHOÁNG SẢN KIM LOẠI

7468
30/7/2009

Hà Nội, 2008


BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

LIÊN ĐOÀN VẬT LÝ ĐỊA CHẤT

BÁO CÁO TỔNG KẾT
THỰC HIỆN ĐỀ TÀI KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP GEORADA
TRONG ĐIỀU TRA TAI BIẾN ĐỊA CHẤT
TÌM KIẾM NƯỚC DƯỚI ĐẤT
VÀ KHOÁNG SẢN KIM LOẠI

Cơ quan chủ quản

chương trình xử lý tài liệu georada
Chương IV: Đánh giá hiệu quả của phương pháp georada khi tìm kiếm
khoáng sản kim loại, điều tra tai biến địa chất, tìm kiếm nước ngầm và khảo
sát địa chất công trình
I. Đánh giá hiệu quả phương pháp georada
II. Những hạn chế của phương pháp georada
Chương V: Tổ chức thi công và kinh phí thực hiện
Kết luận và đề nghị
Danh sách các phụ lục kèm theo

-3-

Trang
4
6
6
8
15
19
20
23
29
36
36
37
37
38
39
45
47

- Hợp đồng nghiên cứu KH&CN số 03-ĐC-07/HĐKHCN ngày 16/4/2007 giữa
Bộ Tài nguyên Môi trường và Liên đoàn Vật lý Địa chất về việc thực hiện đề tài
KH&CN “Nghiên cứu ứng dụng phương pháp georada trong điều tra tai biến địa chất,
tìm kiếm nước dưới đất và khoáng sản kim loại”.
- Quyết định số 406 QĐ/ĐCKS-KHTC ngày 30/8/2007 của Cục trưởng Cục Địa
chất và Khoáng sản Việt nam về việc giao kế hoạch và dự toán chi ngân sách Nhà
nước năm 2007 cho Liên đoàn Vật lý Địa chất.
- Quyết định số 597 QĐ/ĐCKS-KHTC ngày 14/10/2008 của Cục trưởng Cục
Địa chất và Khoáng sản Việt nam về việc giao kế hoạch và dự toán chi ngân sách Nhà
nước năm 2008 cho Liên đoàn Vật lý Địa chất.
2. Mục tiêu của đề tài:
Nghiên cứu ứng dụng phương pháp georada trong điều tra tai biến địa chất, tìm
kiếm nước dưới đất và khoáng sản kim loại.
3. Sản phẩm giao nộp của đề tài:
3.1. Báo cáo tổng kết kết qủa thực hiện đề tài.
3.2. Các Quy trình công nghệ:

-

Quy trình công nghệ phương pháp georada trong điều tra tai biến địa chất
(cho đối tượng sụt và trượt lở đất)
-4-


-

Quy trình công nghệ phương pháp georada khi tìm kiếm nước ngầm trong
các đới phá huỷ, dập vỡ và hang carst.
Quy trình công nghệ phương pháp georada trong khảo sát địa chất công
trình nông.

thuận lợi cho chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Tập thể tác giả chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và quan tâm đó.

-5-


Chương I

TỔNG QUAN VÀ TÓM TẮT CƠ SỞ LÝ THUYẾT
PHƯƠNG PHÁP GEORADA
I. TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP GEORADA
1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài:
Phương pháp ra đa xuyên đất (georada-GPR) đang được triển khai ở nhiều nước
trên thế giới trong các lĩnh vực khác nhau: nghiên cứu nền móng công trình, tìm kiếm
nước dưới đất, tìm kiếm khoáng sản, nghiên cứu xác định các vị trí công trình kiến
trúc cổ bị chôn vùi, các đường ống, cáp ngầm, tìm kiếm mộ cổ... Công nghệ georada
được coi là một phương pháp địa vật lý rất có hiệu quả trong các lĩnh vực trên. Từ năm
1988 đến nay, các nhà khoa học trong ngành các khoa học về trái đất trên thế giới đã
chú trọng phát triển để dần hoàn thiện về cơ sở lý thuyết cũng như phương pháp áp
dụng thực tế.
Tại Pháp, GS. Maksim Bano (Viện VLĐC Strasbourg) và GS. Roger Guerin (ĐH
Tổng hợp Paris 6) đã sử dụng công nghệ georada với thiết bị Pulse EKKO và RAMAC
để phát hiện và khoanh vùng nhiều hang karst trên cả một dải núi dài và đã đánh giá
được mức độ chứa nước trong các hang hốc làm cơ sở cho việc khai thác nguồn nước
ngầm tại đây kết hợp với bảo vệ môi trường và cảnh quan thiên nhiên.
Tại Trung Quốc, công nghệ georada đã được sử dụng có hiệu quả trong việc khảo
sát nền móng đập Tam Hiệp và đã tìm ra nhiều vị trí hang hốc trong đá, đánh giá được
độ nứt nẻ và mức độ chứa nước trong các khối đá gốc. Đồng thời các nhà khoa học
còn thu được những kết quả chính xác trong xác định các đới thấm thoát nước ở nhiều
hồ chứa nước lớn đề ra giải pháp sửa chữa kịp thời; tìm kiếm các dị vật trong thân đê

xuất khác nhau như OYO (Nhật Bản), Ramac/GPR (Thuỵ Điển) đang được dùng khá
phổ biến trong nghiên cứu địa chất cấu trúc của các mỏ than, vị trí của hang động
trong lòng đất, đánh giá hiện trạng các đường băng sân bay và khảo sát tìm dị vật trong
thân đê đập, khoanh vùng dự báo các đoạn đê xung yếu có khả năng bị vỡ trong mùa
nước lũ.
Ở Đức, các nhà khoa học đã thu được nhiều kết quả với độ chính xác cao trong
việc sử dụng công nghệ georada để xác định độ ẩm của đất trồng góp phần tăng năng
suất cây trồng, trong tìm kiếm các túi nước ngầm nằm trong núi hoặc đánh giá mức độ
ô nhiễm của tầng chứa nước do bãi chôn rác thải hoặc các hoạt động của con người
gây ra.
Tại Izrael các nhà khoa học cũng rất thành công trong việc ứng dụng georada để
xác định vị trí các hang động và các hệ thống đường hầm dưới lòng đất, đồng thời
cũng đánh giá được hiện trạng chứa nước ở đường hầm.
Ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, công nghệ georada được sử dụng trong việc
giám định các công trình xây dựng, tìm kiếm khảo cổ học, khảo sát nền móng công
trình. nghiên cứu cấu trúc địa chất thuỷ văn.
Tại Brazil, Mexico, Thuỵ Sỹ và Tây Ban Nha, georada được dùng như là công
nghệ chủ đạo trong nghiên cứu xác định vị trí khảo cổ học và đánh giá tác động của ô
nhiễm môi trường nước, môi trường đất phục vụ cho nghiên cứu địa kỹ thuật và môi
trường.
Tại Australia và Nam Phi đã sử dụng có hiệu quả công nghệ georada trong nghiên
cứu cấu tạo của các mỏ kim loại quý hiếm và các mỏ khoáng sản thông dụng khác, xác
định chính xác bề dày của tầng đất đá phủ bên trên thân quặng và trong khảo sát địa
chất thuỷ văn để tìm kiếm những lăng kính hoặc các bồn có chứa nước nhạt trong cấu
tạo của mỏ than.
2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Công nghệ georada đang từng bước được triển khai ở Việt Nam nhằm đáp ứng các
yêu cầu của thực tế phát triển kinh tế xã hội phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước... Từ năm 1998 đến nay, phòng Địa vật lý thuộc Viện Vật lý địa cầu
đã từng bước triển khai nghiên cứu áp dụng công nghệ GPR trong tổ hợp các phương

cứu. GPR là một phần trong trường điện từ. Các tín hiệu GPR là sóng điện từ. Phương
trình Maxwell với việc mô tả toán học tính chất vật lý của điện từ cộng với mối quan
hệ về tính chất vật liệu là cơ sở để mô tả định lượng tín hiệu GPR.
II.1. 1. Phương trình Maxwell.
Về mặt toán học, trường điện từ với các đặc tính liên quan được biểu diễn như sau:
∇×E = −

∂B

∇×H = J +

∂t

∇× D = q

∂D
∂t

∇× B = 0

Trong đó:
E : Vector độ dài trường điện
B: Vector mật độ dòng từ
D: Vector dịch chuyển điện
H: Cường độ trường từ
J: Vector mật độ dòng điện
q: Mật độ điện tích
II.1.2. Tính chất vật lý cơ bản trong nghiên cứu ứng dụng phương pháp georada.
GPR nghiên cứu cấu trúc sâu bằng việc truyền trường điện từ xuống lòng đất.
Trường điện từ (EM) biến đổi theo thời gian gồm hai thành phần: Điện trường (E) và

Khi có điện trường các điện tích bền dịch chuyển theo hướng khác nhau. Sự
chuyển dịch này xảy ra gần như ngay lập tức và sau đó là dừng lại. Trong quá trình
dịch chuyển một phần năng lượng của điện trường được tryền sang và lưu giữ trong
vật chất. Khi ngắt điện trường, các điện tích dịch chuyển theo hướng ngược lại trở về
vị trí phân bố cân bằng ban đầu và năng lượng được giải phóng. Năng lượng được nạp
như một tụ điện và giải phóng trong quá trình đóng và ngắt điện trường.
Khi có tác động của điện trường dòng phân cực tăng lên tạo ra sự sắp xếp các
mô men lưỡng cực trong vật chất. Sự sắp xếp các điện tích được mô tả dưới dạng mật
độ momen lưỡng cực. Việc tạo ra các momen lưỡng cực phân bố trong vật chất liên
quan đến quá trình nạp điện. Dòng điện tích liên quan đến quá trình nạp điện này gọi
là dòng phân cực. Dòng phân cực được xác định theo công thức toán học tỷ lệ với thời
gian thay đổi mật độ momen lưỡng cực.
Việc tạo ra các momen lưỡng cực phân bố trong vật chất liên quan đến quá
trình nạp điện. Dòng điện tích liên quan đến quá trình nạp điện này gọi là dòng phân
cực. Dòng phân cực được xác định theo công thức toán học tỷ lệ với thời gian thay
đổi mật độ momen lưỡng cực.
3. Hằng số điện môi.
Hằng số điện môi không bao giờ bằng không. Ngay cả trong chân không hằng
số điện môi ε0 cũng trong khoảng 8.85*10-12. Giải thích cho hiện tượng này liên quan
đến điện động lực học lượng tử và chúng ta không bàn sâu thêm. Để thuận tiện, người
ta thường dùng khái niệm hằng số điện môi tương đối hay hằng số điện môi K. Như đã
-9-


mụ t, hng s in mụi tng i l t s gia hng s in mụi ca cht liu v hng
s in mụi ca chõn khụng.
4 . Dũng in tng
Trong vt cht t nhiờn bt k, dũng xut hin khi cú in trng l s pha trn
gia dũng dn v dũng phõn cc. Ph thuc vo t l ca s thay i ca in trng
m dng dũng ny hoc dũng kia s tri hn. V toỏn hc, dũng in tng bao gm hai

lng cc t.
6. Các công thức cơ bản:
Vận tốc truyền sóng:
v=

c


=

0.3


(m/ns)

Bớc sóng:
=

fMHz

v
(m)
ì 10 6

Độ suy giảm:
-10-


α = 1.69 ×


Hệ thống rada có thể phát triển dựa vào 3 cơ sở được quy vào là phản xạ, điểm
sâu chung và chiếu qua (lỗ khoan…). Kiểu phổ biến nhất là đo phản xạ như minh hoạ
trên hình I.1.

Hình vẽ số I.1: Sơ đồ nguyên lý đo georada bằng phương pháp phản xạ

Sự lan truyền của sóng điện từ phụ thuộc chính vào độ thẩm điện, độ dẫn điện và
độ từ thẩm của môi trường.
II.2.2. Các tính chất điện của môi trường
-11-


Tính chất điện (độ dẫn và hằng số điện môi) của môi trường khảo sát quyết định
sự thành công của phương pháp georada. Môi trường có độ dẫn càng cao thì độ xuyên
sâu của tín hiệu càng giảm. Trong các vật chất của môi trường khảo sát thì nước là
thành phần quan trọng quyết định tính chất điện của môi trường.

Độ sâu (feet)

Độ sâu (m)
Độ dẫn (mS/m)

Hình vẽ số I.2: Sự phụ thuộc độ thấm sâu sóng rada vào độ dẫn điện của môi trường

Độ dẫn (mS/m)*10-a

Hàm lượng nước (%)

Hàm lượng nước (%)


VËn tèc truyÒn
sãng, v [m/ns]

§é dÉn ®iÖn,

§é suy gi¶m,

σ [mS/m]

α [dB/m]

Kh«ng khÝ

1

0.300

0

0

Kim lo¹i

> 81

< 0.01 (0.001)

> 1000

> 10000


0.118

0.01 - 1

0.01 - 1

Nhùa ®−êng

3-5

0.051 - 0.173
-13-

-


Nhùa PVC

3

0.173

§¸ d¨m

13

0.083

§Êt phï sa


§Êt ®ång cá

13

0.083

§Êt trång (kh«)

5

0.134

§Êt trång (−ít)

25

0.060

§Êt trång lÉn sÐt (kh«)

2

0.194

§Êt trång lÉn sÐt (−ít)

15

0.077


§¸ granit

5 - 8 (6.5)

0.106 - 0.134
(0.118)

0.01 - 1

0.01 - 1 (0.06)

§¸ v«i

7 - 9 (8)

0.100 - 0.113
(0.106)

0.05 - 2 (1)

0.4 - 1

§¸ v«i ®olomit

7-8

0.106 - 0.115

§¸ bazan (−ít)



Chương II

MÁY VÀ THIẾT BỊ GEORADA
Hiện nay trên thế giới có nhiều hãng khác nhau chế tạo máy ra đa xuyên đất
(Mỹ, Cộng hoà Séc, Thuỵ Điển…) nhưng nổi tiếng nhất vẫn là hãng MALÂ (Thuỵ
Điển). Các thiết bị georada có thể chia ra 2 loại chính, phụ thuộc vào kiểu thiết kế
annten: Annten có màn chắn và annten không có màn chắn.
Ở Việt Nam, nhiều cơ quan cũng đã nhập về các bộ máy ra đa xuyên đất như
Viện Vật lý Địa cầu (bộ máy SEIKO -100A do Hãng MALÂ sản xuất), Trung tâm
nghiên cứu phòng trừ mối - Viện Khoa học Thuỷ lợi (bộ máy SIR-100 do hãng GSSI
Mỹ sản xuất), Khoa Trắc địa - Trường Đại học Mỏ - Địa chất (bộ RAMAC/GPR X3M
của hãng MALAG - Thuỵ Điển), khoa Địa chất- Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội
(bộ máy RAMAC/GPRTM do hãng MALAG Thụy Điển sản xuất), Công ty Cổ phần
Công nghệ Địa vật lý (máy do Cộng hoà Sec sản xuất)…với các loại annten có màn
chắn và không có màn chắn với tần số annten khác nhau.
Bộ máy ra đa xuyên đất RAMAC/GPRTM do Hãng MALAG (Thuỵ Điển) sản
xuất hiện có tại Liên đoàn Vật lý Địa chất gồm: máy tính, bộ điều khiển (control
Unit), annten phát và annten thu. Annten phát và thu được nối với bộ điều khiển bằng
cáp quang. Bộ điều khiến được kết nối với máy tính bằng cáp qua cổng song song.
1. Bộ điều khiển CU II:
Bộ điều khiển CU II là phần chính của hệ thống ra đa xuyên đất
RAMAC/GPRTM tương thích với tất cả các loại annten tiêu chuẩn của hãng RAMAG
(có màn chắn và không có màn chắn với tần số khác nhau) và bộ mở rộng đa kênh
MC 4.
Các thông số kỹ thuật chính:
- Tần số xung lặp: 100 KHz
- Số mẫu/trace: 128 – 8192
- Số cộng sóng: 1 – 32768


Anntena 50 MHz

Hình
II.1:
Bộ phát
Tx và
thu Bộ
Rx

Anntena 25 MHz

máy ra đa xuyên đất RAMAC/GPRTM

Ảnh số II.1: Bộ máy georada RAMAC/GPRTM

3. Nguyên lý hoạt động của bộ máy ra đa xuyên đất RAMAC/GPRTM
Sơ đồ nguyên lý hoạt động của bộ máy ra đa xuyên đất RAMAC/GPRTM được
trình bày trong hình vẽ số II.1.

Thước
đo
k.cách

BỘ
ĐIỀU KHIỂN

Laptop
Laptop


do hãng GeoScience viết riêng cho hệ thống ra đa xuyên đất RAMAC/GPRTM.
Ground Vision cho phép người dùng thu thập số liệu thực địa, xử lý, phân tích
tài liệu (thực hiện các bộ lọc) và in kết quả ra giấy.
Giao diện của chương trình khi thu thập số liệu thực địa minh hoạ trên hình vẽ
số II.2. Các trace được sắp xếp theo thứ tự từ đầu đến cuối tuyến tạo thành một mặt
cắt sóng. Đồng thời độ dài tuyến đo (hoặc thời gian đo) cũng lần lượt được thể hiện
trên băng ghi sóng.
Để có thể thấy trực tiếp hay theo dõi các dị thường có thể lọc sơ bộ khi đã ghi
được một đoạn tuyến nào đó.

Hình vẽ số II.2: Giao diện thu thập tài liệu rada bằng GROUNDVISION

Phần mềm GROUNDVISION cho thực hiện các bộ lọc khá tốt. Giao diện của
việc thực hiện các bộ lọc được miNh hoạ trên hình vẽ số II. 3.
-17-


Hình vẽ số II. 3: Giao diện xử lý tài liệu rada bằng GROUNDVISION

Mọi thao tác cụ thể được mô tả đầy đủ trong Hướng dẫn sử dụng chương trình
này kèm theo báo cáo.

-18-


Chương III

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG
PHƯƠNG PHÁP GEORADA
Công tác nghiên cứu ứng dụng phương pháp georada trong điều tra tai biến

rất khả quan: Các mặt cắt sóng georada phản ảnh được vị trí không gian, độ sâu đến
mép trên các thân quặng … Sau đây là một số kết quả chính.
1. Mặt cắt georada qua thân quặng đa kim Bản Lác (Bắc Kạn).
Thân quặng lộ ra dọc taluy đường liên xã đi Bản Lác (huyện Chợ Đồn-Bắc
Kạn). Phần trên thân quặng đã bị phong hoá, còn bên dưới quặng còn nguyên gốc.
Tuyến đo rada được bố trí căt qua thân quặng trên sườn dốc.
Trên hình vẽ số III.1 là kết quả xử lý mặt cắt rada bằng phần mềm
GROUNDVISION. Dựa vào đặc trưng trường sóng rada có thể xác định được mặt
phản xạ liên quan đến ranh giới giữa tầng đất phủ với đá gốc bị phong hoá, hình dạng
thân quặng ….

Đất phủ

Mặt trượt cúa đá

Quăng đa kim
phong hoá

Quặng đa kim gốc

Đá gốc phong hoá

Hình số III.1: Mặt cắt georada trên thân quặng đa kim Bản Lác (Bắc Kạn)

2. Mặt cắt georada trên thân quặng chì-kẽm Khuổi Giang:
Trên hình vẽ số III.2 minh hoạ mặt cắt georada trên thân quặng chì-kẽm ở khu vực
Khuổi Giang (Chợ Đồn - Bắc Kạn). Thân quặng đã được phát hiện bằng các phương
pháp địa vật lý (đo từ, điện phân cực kích thích, …), lộ trình địa chất và khoan, khai
đào.
Trên các mặt cắt georada tồn tại các dị thường (mặt sóng) dạng vòm không đối


Quặng chì - kẽm
phong hoá

Quặng chì - kẽm gốc

Hình vẽ số III.3: Mặt cắt georada trên thân quặng chì-kẽm Nà Ón (Bắc Kạn)
-21-


Trên hình vẽ số III.3 là mặt cắt georada trên thân quặng chì-kẽm ở Nà Ón (Chợ
Đồn-Bắc Kạn). Cũng như mặt cắt georada trên thân quặng ở Khuổi Giang, có thể xác
định được các mặt phản xạ sóng rada như là ranh giới giữa tầng đất phủ, lớp quặng bị
phong hoá (thường biến đổi thành limonit, …) và quặng gốc.
4. Mặt cắt georda trên thân quặng sắt Khuổi Giang :

Lớp phủ
Đá phiến

Đứt gãy

Quặng sắt
Đá vôi

Hình vẽ số III.4: Mặt cắt georada trên thân quặng sắt magnetit Khuổi Giang (Bắc Kạn)

Thân quặng sắt magnetit ở Khuổi Giang đã được phát hiện bằng các phương
pháp địa vật lý từ, điện và đã được kiểm tra bằng công trình hào. Theo thiết đồ hào,
quặng gặp ở độ sâu 4,5m với chiều dày khoảng hơn 6m và chưa khống chế chiều sâu.
Tuyến đo georada được bố trí cách hào gặp quặng khoảng 30m theo hướng vuông góc

hoá nứt nẻ yếu; 5. Dị thường georada liên quan đến thân quặng đa kim (bị phong
hoá một phần)

Hình vẽ số III.5: Mặt cắt georada trên thân quặng đa kim Bản Mạ (Bắc Kạn)

6. Đánh giá kết quả nghiên cứu thử nghiệm đối với đối tượng là kim loại.
Qua các kết quả nghiên cứu thử nghiệm đối với đối tượng là kim loại có thể rút ra
một số nhận xét sau:
- Phương pháp georada đã phát hiện tốt các thân quặng kim loại ẩn (ở đây là
quặng chì - kẽm, đa kim và sắt).
- Các dị thường georada phản ảnh các thân quặng ẩn khá rõ ràng, được phân biệt
với môi trường vây quanh bằng các mặt phản xạ mạnh có hình dạng bao ngoài của
thân quặng. Chúng thường có dạng “vòm” không chuẩn tắc (nghiêng hoặc thẳng đứng
theo thế nằm của thân quặng…).
- Từ các kết quả minh giải tài liệu trên đây, tài liệu georada đã được kiểm chứng
bằng công trình khai đào, vết lộ quặng gần tuyến khảo sát cho thấy tài liệu georada có
tính định xứ cao: xác định vị trí và độ sâu đến mép trên thân quặng, hình dạng của
chúng…
- Những biểu hiện đó cho phép sử dụng phương pháp này để phát hiện và bố trí
công trình khai đào để kiểm tra các thân quặng kim loại ẩn (nằm tương đối nông).
II. NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP GEORADA
TRONG ĐIỀU TRA TAI BIẾN ĐỊA CHẤT
1. Xác định vị trí và nguyên nhân sụt lở đất ở Cam Lộ - Quảng Trị
Công tác đo georada được tiến hành trên 14 tuyến đo mặt cắt và đo sâu điện.
Kết quả phương pháp georada là một tài liệu quan trọng để phát hiện các đới dập vỡ,
các hang đông carst ngầm là nguyên nhân gây sụt đất ở Cam Lộ. Trong báo cáo này
chỉ trích dẫn một số mặt cắt điển hình về kết quả của phương pháp georada.
1.1. Mặt cắt georada qua thôn Tân Hiệp

-23-

300
250
200
150

Giá trị điện trở đo mặt cắt AB=90m

100
50

100

150

200

250

300

350

400

450

500

550



185

140
109

319

350
400
mặt cắt địa điện

450

500

Chiều sâu (m)

0

-20

88

104

158
89

324


100

150

200

250

300

79

89

308

-50

217
186

101

167

-30
-40

202


-60
350

400

450

Khu vực hố sụt dự báo theo tài liệu địa vật lý

500

550

600

Đứt gãy theo tài liệu địa vật lý

MT CT GEORADA
0

5

10

20

15

Lớp đất trồng


Vòm đá vôi ?
Đá gốc
Vòm đá vôi ?
Vòm đá vôi ?

Hỡnh v s III.7 : Mt ct in tr v georada
phn nh i dp v qua thụn ụng nh-Hu Viờn
-24-


Trên hình vẽ số III.7 là mặt cắt tổng hợp địa vật lý điện và georada của tuyến nói
trên. Có thể thấy rõ sự phù hợp giữa mặt cắt điện trở và tài liệu georada. Tại những
nơi điện trở thấp tương ứng với các đới dập vỡ đều tồn tại các dị thường georada.
Ngoài ra, trên mặt cắt georada còn xác định được các dị thường dạng vòm liên quan
đến các hang carst ở dưới sâu. Mặt cắt georada cho phép phân chia một cách khá rõ
ràng các tầng đá trong vùng. Trên mặt là lớp phủ bở rời. Tiếp đến là tầng đá gốc (đá
vôi) bị phong hoá mạnh. Dưới cùng là đá vôi bị các đứt gãy chia thành các khối tảng.
1.2. Mặt cắt georada qua sông Hiếu (thôn Tân Hiệp)
Mặt cắt georada qua đập tràn sông Hiếu thôn Tân Hiệp (Hình vẽ số III.8) thể
hiện rõ đới phá huỷ và các hang động carst ở dưới sâu. Các tập đất đá phần nông bị
phá vỡ thế nằm nằm ngang, tạo ra các mặt trượt dốc và các khối phân bố lộn xộn
trong đới phá huỷ. Ở dưới sâu, trên mặt cắt georada thấy rõ các dị thường dạng vòm
phản ảnh các hang carst. Nguyên nhân gây nên hiện tượng đập tràn bị phá vỡ hoàn
toàn là do các hang động carst bị mất cân bằng khi bị nước cuốn trôi làm cho tầng đất
đá trên mặt sụt lún và bị cuốn đi theo dòng chảy.

Mặt trượt của đá

Đới dập vỡ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status