BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HCM
KHOA KẾ TOÁN – TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG CÁC CÔNG TY KINH DOANH DỊCH VỤ
DU LỊCH TRÊN THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM.
LIÊN HỆ TRƯỜNG HỢP CÔNG TY TNHH
TM&DV VI.NA.CO T.O.U.R.I.S.T
Ngành: TÀI CHÍNH
Chuyên ngành: TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Hà Minh Phước
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Công Thành
MSSV: 1154020893
Lớp: 11DTDN2
TP. Hồ Chí Minh, 2015
i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HCM
KHOA KẾ TOÁN – TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
sao chép bất hợp pháp từ bất kỳ các công trình nghiên cứu khoa học nào đã từng
được công bố.
Tp.HCM, ngày 18 tháng 08 năm 2015
Tác giả
NGUYỄN CÔNG THÀNH
iii
LỜI CẢM ƠN
Trước hết em xin chân thành cảm ơn ThS. Hà Minh Phước, người đã liên tục
hướng dẫn và ủng hộ chúng em trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu, đồng
thời em cũng xin cám ơn Trường Đại học Công Nghệ TpHCM - HUTECH đã cho
em cơ hội và tạo điều kiện, môi trường thuận lợi cho em thực hiện nghiên cứu này.
Em xin đặc biệt cám ơn những lời nhận xét và đóng góp ý kiến sâu sắc của
P.GS.TS Phan Đình Nguyên, ThS. Nguyễn Trọng Nghĩa, ThS Trà Thị Thảo, ThS.
Trần Gia Tùng, ThS. Nguyễn Phúc Cảnh và ThS. Nguyễn Ngọc Phụng
Em cũng xin cám ơn Hoàng Phương, Thùy Linh, Văn Thắng và các bạn sinh
viên cùng ngành đã giúp đỡ và hỗ trợ trong quá trình thực hiện nghiên cứu.
Trong quá trình thực hiện báo cáo, tuy em đã cố gắng hoàn thành thật tốt
nhưng cũng khó tránh khỏi những sai sót và hạn chế. Em mong muốn nhận được
các nhận xét và gợi ý về địa chỉ email [email protected].
Xin chân thành cám ơn.
v
MỤC LỤC
1.3.
1.2.2.1.
Một số chính sách chi trả cổ tức ..................................... 10
1.2.2.2.
Một số phương thức chi trả cổ tức .................................. 12
1.2.2.3.
Một số lý thuyết kinh điển về chính sách cổ tức ............ 14
Tổng quan các nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp .. 16
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI CÔNG TY
TNHH TM&DV DU LỊCH VI.NA.CO TOURIST ........................................ 19
2.1.
Giới thiệu khái quát về công ty TNHH TM&DV VI.NA.CO
T.O.U.R.I.S.T ......................................................................................... 19
2.1.1. Lịch sử hinh thành và phát triển ....................................................... 20
2.1.2. Lĩnh vực hoạt động của công ty........................................................ 20
2.1.3. Tổ chức bộ máy quản lý của công ty và phòng quản lý Tài chính – Kế
toán....................................................................................................21
vi
Tổng hợp nghiên cứu gần đây và đưa ra những giả thiết nghiên cứu ....39
3.2.
Dữ liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu ...................................42
3.3.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận ............................................................ 45
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ NHỮNG GỢI Ý CHÍNH SÁCH - LIÊN HỆ
TRƯỜNG HỢP CÔNG TY TNHH TM&DV DU LỊCH VI.NA.CO
TOURIST .......................................................................................................... 53
4.1.
Kết luận và những gợi ý chính sách nâng cao hiệu quả hoạt động của các
công ty kinh doanh dịch vụ du lịch trên thị trường Việt Nam................ 53
4.2.
Liên hệ trường hợp công ty TNHH TM&DV Du lịch VI.NA.CO
T.O.U.R.I.S.T ......................................................................................... 54
Phụ lục
Danh mục tài liệu tham khảo
vii
Bảng 2.5
Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận so với kỳ trước
28
Bảng 3.1
Tóm tắt những giả thiết nghiên cứu
42
Bảng 3.2
Các biến giải thích trong mô hình
43
Bảng 3.3
Các biến phụ thuộc trong mô hình
43
Bảng 3.4
Ma trận hệ số tương quan các biến giải thích
44
50
51
viii
DANH MỤC HÌNH
Nội dung
Tên hình
Hình 2.1
Hình 2.2
Hình 2.3
Sơ đồ cơ cấu tổ chức công ty TNHH TM&DV
VI.NA.CO TOURIST
Sơ đồ cơ cấu tổ chức phòng quản lý tài chính - kế
toán
Đồ thị lợi nhuận chưa phân phối qua các năm 2011
- 2014
Số trang
21
22
30
vào thực tiễn quản lý đối với các doanh nghiệp, đối với thị trường chứng khoán ở
Việt Nam chỉ mới được thực nghiệm ở nhóm các công ty niêm yết trên các Sở
giao dịch chứng khoán Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh kể từ năm 2007. Cần thiết
phải có các nghiên cứu về tác động của các yếu tố tài chính công ty đến hiệu quả
hoạt động của công ty, một mặt đóng góp vào hệ thống lý luận về việc đưa ra
quyết định tài trợ, mặt khác đề xuất các gợi ý chính sách hoàn thiện hiệu quả hoạt
động các công ty hoạt động du lịch ở nước ta. Đồng thời liên hệ với trường hợp
công ty TNHH TM&DV Du lịch VI.NA.CO TOURIST và gợi ý một số giải pháp
để nâng cao hiệu quả hoạt động tại công ty.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
Nghiên cứu mối tương quan giữa các yếu tố tài chính công ty với hiệu quả
hoạt động của công ty cổ phần thương mại và dịch vụ du lịch có cổ phiếu đang
niêm yết trên thị trường tại Việt Nam. Tác giả tập trung nghiên cứu tác động của
các yếu tố về tài chính tác động đến hiệu quả hoạt động của các công ty cổ phần
thương mại và du lịch có cổ phiếu đang giao dịch trên cả hai sàn HNX và HOSE.
Từ đó tìm ra những bằng chứng ảnh hưởng của những yếu tố này đến hiệu quả
hoạt động của các công ty thương mại du lịch về hai phương diện: (1) lợi nhuận
và (2) giá trị thị trường doanh nghiệp. Với những bằng chứng này, tác giả liên hệ
với trường hợp công ty TNHH TM&DV VI.NA.CO T.O.U.R.I.S.T để đưa ra
những kết luận và những kiến nghị về giải pháp và chính sách, giúp các nhà hoạch
x
định, điều hành công ty có cái nhìn tổng quát về hoạt động thương mại và du lịch
của các công ty hoạt động trong lĩnh vực này giai đoạn 2008 – 2013.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của báo cáo là hiệu quả hoạt động của công ty cổ phần
1.1.1. Khái niệm.
Shleifer & Vishny (1997) định nghĩa hiệu quả hoạt động công ty đảm bảo tỷ
suất hoàn vốn đầu tư tối đa cho các cổ đông và chủ nợ của công ty. Theo Charreaux
(1997) nghĩa hiệu quả hoạt động công ty được định nghĩa rộng hơn là các kiểm
soát có tổ chức nhằm chi phối cách ứng xử của các nhà quản lý và xác định quyền
lực cần thiết của họ để đạt được hiệu quả trong công việc từ đó tối ưu hóa hiệu
quả hoạt động cho công ty. Đối với Parkinson (1994), hiệu quả hoạt động trong
công ty đạt tối ưu khi việc điều hành, quá trình giám sát và kiểm soát và được thực
hiện nghiêm túc nhằm đảm bảo các hoạt động quản trị và hoạt động tài chính cuả
công ty được tối ưu và phù hợp với lợi ích cổ đông. Từ đó, tác giả đề xuất khái
niệm về hiệu quả công ty. Để đạt được hiệu quả hoạt động công ty thì các đối
tượng bao gồm chủ thể quản lý là cổ đông và khách thể quản lý là Ban giám đốc.
Cổ đông hoặc người đại diện của họ (HĐQT) với Ban giám đốc xác lập các điều
khoản giao kết dân sự về cơ chế vận hành, giám sát và kiểm soát của hệ thống.
Đây là một hệ thống mở, có tính tương tác với môi trường bên ngoài như hệ thống
văn bản pháp quy về quản trị công ty, tính chất của các loại thị trường tài chính,
nguồn nhân lực, hàng hóa dịch vụ…Việc xác lập hệ thống này nhằm giảm thiểu
những thua lỗ tiềm tàng do mâu thuẫn về lợi ích giữa cổ đông và các nhà quản lý.
1.1.2. Phương pháp đo lường.
Hiệu quả hoạt động của công ty cổ phần là chỉ tiêu rất quan trọng đối với các
bên liên quan như cổ đông, ban giám đốc, chủ nợ, nhà cung cấp, người tiêu thụ…
trong việc ra quyết định kinh doanh hoặc đầu tư. Hiệu quả hoạt động của công ty
được đo lường bằng nhiều chỉ tiêu khác nhau trong các nghiên cứu khoa học.
Nghiên cứu của Hult (2008) đánh giá cách thức đo lường hiệu quả hoạt động trong
các nghiên cứu khoa học đã công bố về doanh nghiệp kinh doanh quốc tế, bao
gồm các cấp độ tập đoàn, công ty và đơn vị kinh doanh chiến lược, cho thấy có ba
2
tiêu chí đo lường hiệu quả hoạt động được sửdụng là hiệu quảtài chính, hiệu quả
3
Cách tiếp cận thứ hai là dựa vào thông tin do công ty cung cấp, mà chủ yếu
từ báo cáo tài chính. Theo cách tiếp cận này, những chỉ tiêu đo lường hiệu quả tài
chính chủ yếu là các tỷ suất lợi nhuận như tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản
(ROA), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)... Hai chỉ tiêu này có quan
hệ với nhau vì ROE khuyếch đại ROA thông qua đòn bẩy tài chính. Tuy nhiên, để
đo lường hiệu quả hoạt động trong nghiên cứu thì chỉ tiêu ROA toàn diện hơn do
tính đến khả năng khai thác toàn bộ tài sản của công ty. Ưu điểm của cách tiếp cận
này là dễ tính toán chỉ tiêu, nhưng nhược điểm lại nằm ở tính sẵn có và tính chính
xác, trung thực của thông tin từ báo cáo tài chính.
Cách tiếp cận thứ ba kết hợp cả hai khía cạnh thị trường và công ty, các nhà
nghiên cứu thường sử dụng chỉ tiêu Tobin’s Q hoặc tỷ số thị giá/giá sổ sách (PBV).
Tobin’s Q được tính bằng tỷ số giữa giá thị trường của tài sản với giá trị thay thế
của tài sản. Bauer R., Guenster N. & Otten R. (2004) đã đề xuất cách tính Tobin’s
Q: giá thị trường của tài sản được tính bằng cách cộng giá sổ sách của tài sản với
giá thị trường của cổ phiếu đang lưu hành, sau đó trừ đi giá sổ sách của cổ phiếu
lưu hành, còn giá trị thay thế của tài sản được tính bằng giá sổ sách của tài sản.
Chỉ tiêu PBV tương tự như Tobin’s Q, nhưng không tính trên tổng tài sản,
mà chỉ so sánh giá thị trường và giá sổ sách của vốn chủ sở hữu, do đó PBV chưa
được toàn diện bằng Tobin’s Q. Chỉ tiêu Tobin’s Q phụ thuộc vào các giá trị vô
hình của công ty, niềm tin của thị trường đối với tương lai của công ty và phương
pháp hạch toán giá trị sổ sách của tài sản. Ưu điểm của chỉ tiêu này là dễ tính toán,
giúp nhận dạng và ước lượng giá trị vô hình không được ghi nhận trong báo cáo
tài tài chính nhưng nhược điểm nằm ở tâm lý nhà đầu tư và khả năng tuân thủ
chuẩn mực kế toán.
Như vậy hiệu quả hoạt động của công ty được đo lường bằng nhiều chỉ tiêu
khác nhau, tùy thuộc vào đối tượng khảo sát và nguồn dữ liệu. Mỗi cách tính đều
có ưu nhược điểm của nó.
1.2.
xem là hệ thống nội bộ. Những cổ đông lớn kiểm soát doanh nghiệp trực tiếp bằng
cách tham gia hội đồng quản trị và ban điều hành. Họ có thể không sở hữu vốn
toàn bộ nhưng vẫn có thể được kiểm soát doanh nghiệp vì có quyền biểu quyết
đáng kể.
Sở hữu phân tán: Trong cấu trúc sở hữu phân tán có nhiều cổ đông, mỗi cổ
đông sở hữu một số cổ phần doanh nghiệp, Ban giám đốc nắm giữ quyền kiểm
soát hoạt động công ty. Các cổ đông nhỏ ít có động lực để kiểm tra chặt chẽ hoạt
động và không muốn tham gia điều hành công ty. Bởi vậy họ được gọi là người
bên ngoài và cấu trúc phân tán được gọi là hệ thống bên ngoài.
5
Cấu trúc sở hữu của 100 doanh nghiệp có giá trị vốn hóa lớn nhất trên 2 sàn
chứng khoán Hà Nội và TP.HCM năm 2010 cho thấy, tỉ lệ nắm giữ cổ phần bình
quân của 10 cổ đông lớn nhất trong các công ty là 70% và của cổ đông lơn nhất là
61%. Nếu xét đến tất cả các công ty trên sàn, tức bao gồm cả những công ty quy
mô nhỏ hơn, mức độ tập trung sở hữu này sẽ lớn hơn nhiều, vì đa phần các công
ty niêm yết quy mô nhỏ đều đi lên từ công ty gia đình mà trong đó, người sở hữu
cũng đồng thời niêm yết quyền kiểm soát. Điều này cho thấy cấu trúc sở hữu của
các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam là rất tập trung.
Mỗi hệ thống cấu trúc sở hữu có những ưu điểm và nhược điểm cũng như
tiềm ẩn những cơ hội và thách thức về quản trị doanh nghiệp. Đối với cấu trúc sở
hữu tập trung, doanh nghiệp do những người bên trong kiểm soát có những điểm
thuận lợi đáng chú ý. Những điểm này có quyền lực và động lực mạnh mẽ để kiểm
soát doanh nghiệp. Nhờ đó, giảm thiểu được tình trạng sai phạm hay gian dối trong
quản trị và điều hành. Hơn nữa, do nắm quyền sở hữu và quyền kiểm soát lớn,
những người này có khuynh hướng giữ vốn đầu tư trong doanh nghiệp trong thời
gian dài. Vì thế họ sẽ ủng hộ những quyết đinh mang lại lợi ích ngắn hạn. Tuy
nhiên, hệ thống này cũng dẫn doanh nghiệp đến những thất bại trong quản trị.
Chẳng hạn, khi những người điều hành là các cổ đông lớn hay có quyền biểu quyết
Thể chế đầu tư nước ngoài đã trở thành thế lực quan trọng đối với các nền kinh tế
mới nổi và hệ thống quản trị doanh nghiệp (Gillan & Starks, 2000). Cuộc tranh
luận về quyền sở hữu nhà nước là chủ yếu được thấy trong tài liệu về sự cổ phần
hóa. Theo Andrei Shleifer (1998) và một số nhà nghiên cứu khác đã lập luận rằng
các doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà nước it khi có giải pháp thích hợp vì nhiều
lý do. Trong khi theo Hansmann & Kraakman (2000), mô hình tối đa hóa sự thịnh
vượng của cổ đông của doanh nghiệp nhà nước đang trở nên ngày cáng chiếm ưu
thế một phần vì những lợi thế của việc xác định mục tiêu doanh nghiệp thì Shleifer
(1998) lập luận rằng các chủ sở hữu nhà nước thường yếu kém về công tác nhân
sự, ít có khả năng kiểm soát các nhà quản lý của họ vì bản chất khuếch tán, dàn
trải làm khó khăn để buộc các nhà quản lý theo quyết định của mình.
1.2.1.3.
Sự khác biệt trong cấu trúc sở hữu của khu vực nhà nước và tư
nhân tác động đến hiệu quả hoạt động.
Có nhiều nghiên cứu cho rằng sở hữu nhà nước là không hiệu quả, mang tính
quan liêu và tiêu tốn nhiều nguồn lực. Đồng thời, nhiều nghiên cứu đối với các
nền kinh tế phát triển cũng đi đến kết luận rằng các doanh nghiệp tư nhân hoạt
7
động hiệu quả hơn doanh nghiệp nhà nước và quá trình chuyển đổi từ sở hữu nhà
nước sang sở hữu tư nhân sẽ nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp (Thomsen & Pedersen, 2000; Ongone, 2011; Bhatti & Sarwet, 2012). Bến
cạnh đó cũng có những nghiên cứu cho thấy tác động tích cực của phần vốn nhà
nước đối với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp (Djankov & Murrell, 2002; Tian
& Estrin, 2008, Megginson & Netter, 2011).
Hầu hết các công trình nghiên cứu về sở hữu nhà nước đều chứng minh rằng
sở hữu nhà nước có tác động tiêu cực đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nước chi phối chiếm tới 80% tổng vốn hóa thị trường cổ phiếu nước này, so với ở
Nga và Brazil lần lượt là 62% và 38%. Tian & Estrin (2008) đã tiến hành một
nghiên cứu trên cơ sở dữ liệu là hơn 9.000 quan sát giai đoạn 1994 - 2000 trên thị
trường chứng khoán Trung Quốc. Các tác giả rút ra được kết quả là sở hữu của
nhà nước không làm giảm hiệu quả công ty mà có tác dụng tích cực nếu tỷ lệ sở
hữu của nhà nước đạt từ 25% trở lên trong doanh nghiệp. Cụ thể, mối quan hệ
giữa hiệu quả tài chính doanh nghiệp và sở hữu Nhà nước có dạng chữ U: giá trị
doanh nghiệp giảm khi tỷ lệ sở hữu Nhà nước tăng lên, nhưng sẽ bắt đầu tăng từ
ngưỡng nói trên. Kết quả tìm được của Tian & Estrin (2008) gợi ý rằng trong điều
kiện một nước chuyển đổi như Trung Quốc, phần vốn nhà nước nếu đạt một mức
đủ lớn nhất định hoàn toàn có thể đóng góp vào việc tăng giá trị công ty.
Rami Zeitun (2009) đã nghiên cứu sự tác động của cấu trúc sở hữu đối với
hiệu quả của doanh nghiệp. Kết quả cho thấy sở hữu nhà nước có tác động tác
động dương đối với hiệu quả doanh nghiệp đo lường bằng ROE; sở hữu thể chế
có tác động âm đối với cả Tobin’s Q và ROE; sở hữu nước ngoài không có tác
động đối với hiệu quả của doanh nghiệp.
LI, Sun & Zou (2009) phát hiện ra rằng sự biến động của kết quả kinh doanh
theo phần vốn nhà nước phụ thuộc vào mức độ lợi nhuận của doanh nghiệp. Cụ
thể, các tác giả phát hiện ra các tác động của phần vốn Nhà nước là tiêu cực đối
với hiệu quả hoạt động nhưng chỉ đối với các doanh nghiệp có lợi nhuận cao còn
đối với các doanh nghiệp đạt kết quả kinh doanh bình thường trở xuống thì không
có ảnh hưởng nào đáng kể của phần vốn Nhà nước. Trên cơ sở này các tác giả đưa
ra một số gợi ý trong chính sách là Chính phủ Trung Quốc nên giảm bớt tỷ lệ nắm
9
giữ cổ phiếu tại các công ty có kết quả sản xuất kinh doanh cao để dành vốn đầu
tư vào các công ty có lợi nhuận thấp hơn.
Le & Buck (2011) chỉ ra rằng sở hữu nhà nước không có một mối tương
quan trực tiếp với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Các tác giả đề tài tiến
Một số chính sách chi trả cổ tức.
Chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động.
Đối với chính sách này, các doanh nghiệp sẽ giữ lại một phần lợi nhuận từ
lợi nhuận sau thuế ở mức độ đủ để đáp ứng nhu cầu tài đầu tư cho năm tiếp theo.
Thông thường các doanh nghiệp duy trì một mức lợi nhuận giữ lại ổn định theo
thời gian. Sự ổn định này có thể được duy trì theo hai cách:
Thứ nhất, doanh nghiệp giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư ở mức cao trong những
năm có nhu cầu vốn cao. Nếu doanh nghiệp vẫn duy trì được mức tăng trưởng tốt
thì doanh nghiệp vẫn sẽ giữ mức lợi nhuận tái đầu tư này.
Thứ hai, trong những năm có nhu cầu vốn cao thì doanh nghiệp có thể đi vay
vốn để đáp ứng nhu cầu đầu tư. Trường hợp doanh nghiệp đầu tư tốt và có tỷ lệ
tăng trưởng cao thì chính sách vay vốn sẽ thích hợp hơn so với việc phải cắt giảm
cổ tức để đáp ứng nhu cầu tái đầu tư.
Như vậy trong trường hợp này, lợi nhuận giữ lại có xu hướng thu động hơn
so với lợi nhuận sau thuế. Trong một khoản thời gian thì lợi nhuận giữ lại sẽ ổn
định bất chấp sự thay đổi của lợi nhuận sau thuế. Điều náy có nghĩa là tỷ lệ chi trả
cổ tức của doanh nghiệp sẽ biến thiên cùng chiều với lợi nhuận sau thuế. Tức là
khi lợi nhuận sau thuế tăng mà doanh nghiệp vẫn duy trì mức lợi nhuận giữ lại ổn
định thì sẽ làm cho tỷ lệ chi trả cổ tức tăng so với lợi nhuận sau thuế và ngược lại.
Chính sách cổ tức tiền mặt ổn định.
Trong nhiều trường hợp, cả doanh nghiệp và cổ đông có xu hướng thích
chính sách cổ tức ổn định. Điều này được đặc trung bằng sự miễn cưỡng thay đổi
lượng tiền mặt chi trả cổ tức từ kì này sang kì khác. Tương tự, những gia tăng
trong cổ tức cũng thường bị trì hoãn cho đến khi công ty dự báo rằng các khoản
lợi nhuận trong tương lai lớn hơn để có thể duy trì mức cổ tức cao hơn.
Như vậy trong trường hợp này, cổ tức có xu hướng thu động hơn so với lợi
nhuận sau thuế. Trong một khoản thời gian thì cổ tức sẽ ổn định bất chấp sự thay
đổi của lợi nhuận sau thuế. Điều náy có nghĩa là tỷ lệ chi trả cổ tức của doanh
12
cần mà vẫn thõa mãn được nhu cầu của các nhà đầu tư muốn nhận được mức cổ
tức bảo đảm.
Để có thể đưa ra quyết định cho một chính sách cổ tức cụ thể, các ban quản
lý và điều hành công ty phải cân nhắc, lựa chọn một chính sách cổ tức phù hợp
sau đó mới xem xét đến mức chi trả cổ tức. Đây là một phần quan trọng một chính
sách cổ tức của một doanh nghiệp.
1.2.2.2.
Một số phương thức chi trả cổ tức.
Có ba phương thức chi trả cổ tức phổ biến là:
1) Chi trả cổ tức bằng tiền mặt.
2) Chi trả cổ tức bằng cổ phiếu.
3) Chi trả cổ tức bằng tài sản khác theo quy định riêng mỗi doanh nghiệp.
Trong đó phương thức chi trả cổ tức bằng tiền mặt và phương thức chi trả cổ
tức bằng cổ phiếu là phổ biến nhất.
Chi trả cổ tức bằng tiền mặt.
Cổ tức bằng tiền mặt là dạng cổ tức mà công ty trích ra từ lợi nhuận sau thuế
dưới dạng tiền mặt (hoặc tiền chuyển khoản). Cổ tức bằng tiền mặt được chi trả
dưới dạng phần trăm trên mệnh giá của mổi cổ phiếu.
Ưu điểm:
Cổ tức được chi trả bằng tiền mặt là loại cổ tức có tính thanh khoản cao
nhất. Một vài nhà đầu tư không ưa mạo hiểm thường muốn nhận tiền mặt
ở hiện tại hơn là kỳ vọng vào một nguồn thu nhập không chắc chắn trong
tương lai.
Cổ tức được chi trả bằng tiền mặt phát tín hiệu tốt cho thị trường. Việc
chi trả cổ tức bằng tiền bằng cho thấy công ty có khả năng thanh toán tốt,
Làm giảm chỉ số EPS (Earning Per Share) do khối lượng cổ phần đang
lưu hành của công ty tăng lên, từ đó có thể làm giảm giá cổ phiếu.
Tạo áp lực cho việc chi trả cổ tức trong tương lai, buộc công ty phải hoạt
động có hiệu quả hơn trong tương lai.
14
Phương thức này khó duy trì liên tục và lậu dài vì hậu quả sau đó sẽ gây
áp lực rất lớn với công ty.
1.2.2.3.
Một số nghiên cứu lý thuyết kinh điển về chính sách cổ tức.
Lý thuyết chính sách trong lòng bàn tay.
Gordon (1962) cho rằng cổ đông thích được trả cổ tức càng nhiều càng tốt.
Theo đó, cổ tức là thu nhập thường xuyên và chắc chắn ở hiện tại còn lãi vốn là
thu nhập trong tương lai do đó cổ tức ít rủi ro hơn lãi vốn. Các cổ đông có niềm
tin vào việc nhận được cổ tức sớm hơn sẽ được chiết khấu ở mức tỷ lệ thấp hơn
so với việc nhận được cổ tức sau nhiều năm.
Lý thuyết phát tín hiệu.
Kế thừa Akerlof (1970), Spence (1973) xem thị trường lao động là một thị
trường có thông tin bất cân xứng giữa những người ứng tuyển và nhà tuyển dụng.
Spence (1973) coi bằng cấp là một cơ chế phát tín hiệu về năng suất của người lao
động. Theo đó ông cho rằng khi những người kém năng lực phải dành nhiều thời
gian và nổ lực hơn những người có năng lực để đạt được cùng trình độ học vấn thì
những người có năng lực sẽ phát tín hiệu bằng cách đạt được những bằng cấp mà
người kém năng lực không đạt được. Liên hệ với việc chỉ trả cổ tức của các doanh
nghiệp, cổ đông có thể dem tỷ lệ chi trả cổ tức là tìn hiệu về lợi nhuận trong tương
lai của công ty.
Đồng quan điểm với Spence (1973), Bhatach (1979) và Miller & Rock