Trường THPT Chuyên Lào cai
Sáng kiến kinh nghiệm 2012-2013
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU............................................................................................................1
1/ Lý do chọn đề tài..................................................................................................................1
2/ Đối tượng nghiên cứu...........................................................................................................2
3/ Phạm vi nghiên cứu..............................................................................................................2
4/ Phương pháp nghiên cứu......................................................................................................2
B. NỘI DUNG........................................................................................................3
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN.................................................................................................................3
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN............................................................................................................5
III. NỘI DUNG VẤN ĐỀ.........................................................................................................6
C. KẾT LUẬN......................................................................................................27
1. Bài học kinh nghiệm...........................................................................................................27
2. Hướng phổ biến đề tài.........................................................................................................28
3. Đề xuất, kiến nghị :.............................................................................................................28
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................29
E. Ý KIẾN NHẬN XÉT.......................................................................................30
A. MỞ ĐẦU
1/ Lý do chọn đề tài
Trong thời đại CNH - HĐH đất nước mỗi chúng ta phải luôn luôn đổi mới công
việc của mình. Việc dạy học là cả một quá trình nghệ thuật, kết quả của quá trình
này tốt hay xấu, không chỉ xác định trong một thời gian ngắn mà nó phải trải qua
một quá trình lâu dài đó là vốn hiểu biết đã được tích luỹ, sự tìm tòi sáng tạo của
người giáo viên trong quá trình giảng dạy.
2/ Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp dạy môn sinh học lớp 10, sinh học lớp 11,sinh học lớp 12.
3/ Phạm vi nghiên cứu
- Học sinh lớp 10, lớp 12 trường THPT Chuyên Lào Cai
4/ Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu.
- Qua các tiết thực nghiệm trên lớp
Trang 2
Trường THPT Chuyên Lào cai
Sáng kiến kinh nghiệm 2012-2013
B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.Những tiền đề cơ bản của việc đổi mới phương pháp dạy học Sinh học ở
trường THPT.
1.1. Cơ sở pháp lý của đổi mới phương pháp dạy học đã được khẳng định ở
những văn bản của Đảng và nhà nước về
phát triển giáo dục 2001-2010 ghi rõ Đổi mới và hiện đại hoá phương pháp
giáo dục. Chuyển từ việc truyền thụ tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang
hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức, dạy
cho người học phương pháp tự học, tự thu nhập thông tin một cách có hệ
thống và có tư duy phân tích tổng hợp, phát triển năng lực của mỗi cá nhân,
tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của học sinh, sinh viên trong quá trình
học tập…
1.2. Chương trình và sách giáo khoa có sự đổi mới cơ bản.
2.2. Phương pháp tích cực nghĩa là tổ chức dạy học theo kiểu mới: Tạo cho
học sinh một vị thế mới và những tiền đề, những điều kiện thuận lợi để hoạt
động. Sự tác động qua lại giữa thầy và trò trong môi trường học tập của phương
pháp tích cực, cụ thể là:
- Đối với thầy: Xác định và khẳng định vai trò, chức năng mới của người thầy
trong quá trình dạy học là:
+ Thầy là người tổ chức chỉ đạo, điều khiển các hoạt động học tập của học sinh.
+ Thầy không còn là nguồn cung cấp thông tin duy nhất, không phải là người
hoạt động chủ yếu ở trên lớp như trước đây mà sẽ là người tổ chức và điều khiển
quá trình học tập của học sinh.
- Đối với học sinh:
+ Phải trở thành chủ thể hoạt động tích cực, tự giác, chủ động và sáng tạo.
Trang 4
Trường THPT Chuyên Lào cai
Sáng kiến kinh nghiệm 2012-2013
+ Tạo ra và duy trì ở học sinh những động lực mạnh mẽ đó là động cơ, hứng thú,
lạc quan trong quá trình học tập.
+ Phát hiện ở học sinh khả năng tự đánh giá kết quả học tập trên cơ sở đó có thể
điều chỉnh các hoạt động của mình.
2.3. Vì sao cần áp dụng phương pháp tích cực:
Phát huy tính tích cực của người học được biết đến từ lâu trong phương pháp dạy
học truyền thống và khả năng lưu giữ thông tin của con người thông qua các hoạt
động được thể hiện như sau:
-Đọc chiếm 5%.
-Nghe chiếm 15%.
trọng, bản chất phương hướng và cách thức đổi mới phương pháp dạy học Sinh
học, hiểu biết về cơ sở lý luận, thực tiễn của đổi mới phương pháp dạy học còn
chưa sâu sắc.
- Đa số giáo viên vẫn chú trọng truyền thụ kiến thức theo kiểu thuyết trình xen kẽ
với hỏi đáp, nặng về thông báo, giảng giải kiến thức, nhẹ về phát huy tính tích
cực và phát triển tư duy học sinh, học sinh tiếp thu kiến thức một cách thụ động.
- Hình thức tổ chức dạy học còn đơn điệu, dạy theo lớp là chủ yếu. Các hình thức
dạy học cá nhân, ngoài trời chưa được thực hiện, hoặc thực hiện chưa có hiệu
quả.
- Cơ sở vật chất phục vụ dạy học, các phương tiện dạy học còn thiếu và chưa
đồng bộ.
- Việc tạo động cơ học tập đúng đắn cho học sinh và các hình thức khen thưởng,
động viên người học chưa được giáo viên quan tâm một cách thích đáng.
- Nhìn chung giờ học Sinh học chưa mang lại nhiều hứng thú cho học sinh. Có
thể nói cách dạy và học Sinh học như trên đã gây ảnh hưởng không nhỏ đối với
chất lượng dạy học, đồng thời hạn chế việc phát triển trí tuệ của học sinh khi học
môn Sinh học. Vì vậy tiếp tục đổi mới một cách mạnh mẽ, có hiệu quả các
phương pháp dạy học Sinh học là một trong những vấn đề quan trọng nhất cần
phải được tiếp tục quan tâm và tìm cách giải quyết.
III. NỘI DUNG VẤN ĐỀ
1 - DẠY - HỌC TÍCH CỰC
Dạy học tích cực ở đây đề cập tính tích cực của các phương pháp dạy học
hướng tới hoạt động hoá, tích cực hoá hoạt động nhận thức và hành động của
người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không
phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, đành rằng để dạy học
tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với lối dạy học thụ động.
Dạy học tích cực hàm chứa cả phương pháp dạy và phương pháp học.
Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy, chúng tương tác lần nhau, có khi
đồng thuận nhưng cũng có khi không đồng thuận do sự chưa tương hợp giữa cách
dạy và cách học.
- Mục tiêu
- Nội dung
- Phương pháp
- Phương tiện
- Tổ chức
- Đánh giá
Như vậy, dạy học lấy học sinh trung tâm không phải chỉ liên quan đến phương
pháp dạy và học, đồng thời để có sự tiếp cận đó cần phải có dạy – học tích cực.
2. PHÁT HUY MẶT TÍCH CỰC TRONG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY
HỌC TRUYỀN THỐNG
Ở đây chủ yếu đề cập một số phương pháp dạy học truyền thống thông dụng
trong quá trình dạy học ở trường phổ thông.
Trang 7
Trường THPT Chuyên Lào cai
Sáng kiến kinh nghiệm 2012-2013
2.1. Phương pháp thuyết trình
Phương pháp thuyết trình bao gồm :
- Thuyết trình thông báo - tái hiện.
- Thuyết trình nêu vấn đề.
Thuyết trình thông báo - tái hiện mang tính chất thông báo bằng lời giảng của
thầy và tính chất tái hiện sau khi lĩnh hội của trò. Phương pháp này là sự chuyển
tải các thông tin từ người học thông qua lời nói của người dạy.
Phương pháp thuyết trình thông báo - tái hiện có những ưu điểm:
- Cho phép truyền đạt những nội dung tương đối khó và chứa nhiều thông tin
mà trò không dễ dàng tự tìm hiểu được.
hiện bằng tính chất nêu vấn đề thì hiệu quả dạy học sẽ tăng lên rõ rệt.
Phương pháp thuyết trình nêu vấn đề đề cập tới cách thuyết giảng nội dung bài
học của thầy theo trật tự sau:
+ Nêu vấn đề
+ Vạch ra mâu thuẫn nhận thức
+ Đề ra giả thuyết
+ Trình bày cách giải quyết
+ Rút ra kết luận.
Với cách dạy này, trò theo dõi lôgic của con đường giải quyết vấn đề do thầy
trình bày. Tuy ở đây trò lĩnh hội thụ động các tri thức, nhưng do thầy luôn luôn đề
xuất các vấn đề tạo nên những mâu thuẫn nhận thức, nghĩa là đặt cho trò trong
tình huống có vấn đề nên chất lượng lĩnh hội kiến thức của trò cao hơn phương
pháp thuyết trình thông báo - tái hiện.
Ví dụ, với bài 1 : Các cấp tổ chức của thế giới sống ở SGK SH 10 và SGK SH 10
nâng cao, giáo viên có thể nêu và giải quyết các vấn đề để thuyết giảng nội dung
bài học theo phương pháp thuyết trình nêu vấn đề:
Vấn đề 1 :
- Vì sao nói các cấp tổ chức chính của giới sống có mối quan hệ mật thiết
theo thứ bậc kế tiếp nhau?
Các cấp tổ chức chính của giới sống có mối quan hệ mật thiết theo thứ bậc
kế tiếp nhau vì:
- Cấp tế bào là đơn vị cơ bản cấu tạo nên cấp cơ thể (cá thể). Cơ thể đơn bào được
cấu tạo từ một tế bào, Cơ thể đa bào được cấu tạo từ số lượng lớn tế bào. Những
hoạt động sống của cơ thể đều xuất phát từ các hoạt động sống của tế bào.
- Các cá thể thuộc cùng một loài tập hợp sống chung với nhau trong một vùng địa
lí nhất định và có khả năng giao phối sinh ra con cái hữu thụ. tạo nên cấp quần
thể.
Sự phân bố địa lí của tất cả các cá thể thuộc các quần thể nếu có khả năng giao
phối hữu thụ sẽ thuộc về một loài.
- Các mô, cơ quan và các hệ cơ quan chỉ thực hiện được chức năng của chúng khi
ở trong cơ thể.
Một ví dụ khác, khi dạy bài 28 (SGK SH 10 nâng cao): Chu kì tế bào và các hình
thức phân bào, giáo viên thông báo những điểm cơ bản của kì trung gian:
- Kì trung gian là thời kì sinh trưởng của tế bào bao gồm ba pha:G1, S, G2.
- Pha G1 diễn ra sự gia tăng của tế bào chất nhờ các quá trình tổng hợp các chất
hữu cơ diễn ra, là thời kì sinh trưởng chủ yếu của tế bào.
Trang 10
Trường THPT Chuyên Lào cai
Sáng kiến kinh nghiệm 2012-2013
- Pha S diễn ra sự sao chép ADN và nhân đôi nhiễm sắc thể. Khi kết thúc pha S,
nhiễm sắc thể từ thể đơn chuyển sang thể kép gồm hai sợi crômatit hay nhiễm sắc
tử chị em giống hệt nhau đính với nhau ở tâm động
- Pha G 2 tiếp ngay sau pha S, tiếp tục tổng hợp prôtêin có vai trò đối với sự
hình thành thoi phân bào. Nhiễm sắc thể ở pha này vẫn giữ nguyên trạng thái như
ở cuối pha S. Sau pha G2, tế bào diễn ra quá trinh nguyên phân.
Thông thường sau khi thông báo giáo viên chuyển tiếp sang mục tiếp theo, còn
học sinh lĩnh hội một cách thụ động các thông tin do thầy thông báo và không
gợn lên một suy nghĩ hay thắc mắc gì. Nếu giáo viên nêu vấn đề :
- Vì sao tế bào không lớn lên mãi mà phải phân chia?
Câu hỏi này đưa học sinh vào tình huống có vấn đề, buộc phải chú ý và động não.
giáo viên giải thích :
Sự gia tăng bề mặt và thể tích hình cầu có mối liên hệ với nhau, về mặt toán
học: bề mặt hình cầu tăng theo r2 trong khi thể tích tăng theo r3. Điều đó có ảnh
hưởng bất lợi đối với các quá trình trao đổi với môi trường xung quanh. Mặt khác
cho học sinh thông qua câu hỏi:
- Diện tích xung quanh và thể tích hình cầu được xác định bằng những công
thức nào?
Rõ ràng đây là câu hỏi chỉ cần tới sự tái hiện kiến thức toán học của học sinh.
Trên cơ sở đó, giáo viên tiếp tục hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề thông qua
các câu hỏi tìm tòi tiếp theo.
Cũng tương tự như vậy, để dạy bài 1 : Các cấp tổ chức của thế giới sống ở SGK
SH 10 và SGK SH 10 nâng cao bằng phương pháp vấn đáp, giáo viên có thể có
thể nêu các câu hỏi chỉ yêu cầu tái hiện các kiến thức đã học ở lớp 9 :
- Quần thể là gì?
- Quần xã là gì?
- Hệ sinh thái là gì?
Sau khi học sinh trả lời và đã được chính xác hoá các khái niệm, giáo viên mới
nêu các câu hỏi cần sự động não của học sinh :
- Nêu điểm đặc trưng của khái niệm quần thể.
- Nêu điểm đặc trưng của khái niệm quần xã.
- Nêu điểm đặc trưng của khái niệm hệ sinh thái.
Tất nhiên, mỗi câu hỏi được kế tiếp tương ứng với các câu hỏi về khái niệm nêu
trên, ví dụ:
- Quần thể là gì?
- Nêu điểm đặc trưng của khái niệm quần thể.
Hoặc sau khí cũng nêu các câu hỏi về các khái niệm, giáo viên có thể đề xuất vấn
đề:
- Nêu điểm đặc trưng của các khái niệm quần thể, quần xã và hệ sinh thái.
Trang 12
Trường THPT Chuyên Lào cai
mới phương pháp dạy học theo mục tiêu đào tạo những con người tích cực, năng
động và sáng tạo.
Các phương pháp thuyết trình và đàm thoại nêu trên đều thuộc nhóm phương
pháp dùng lời, trong đó phương pháp thuyết trình nêu vấn đề và vấn đáp tìm tòi,
Trang 13
Trường THPT Chuyên Lào cai
Sáng kiến kinh nghiệm 2012-2013
phát hiện là những phương pháp có ưu thế tạo nên tính tích cực trong hoạt động
học tập của người học. Do đó, hai phương pháp này cần được phát huy trong quá
trình dạy học và góp phần đổi mới phương pháp dạy học ở nhà trường phổ thông.
Tuy không thông dụng như nhóm phương pháp dùng lời, về mặt hoạt động nhận
thức, thì nhóm phương pháp thực hành là “tích cực” hơn nhóm phương pháp trực
quan, nhóm phương pháp trực quan là “tích cực” hơn nhóm phương pháp dùng
lời.
Trong nhóm phương pháp trực quan thì phương tiện trực quan được sử dụng như
là “nguồn” chủ yếu đến kiến thức mới, lời của thầy chỉ đóng vai trò tổ chức,
hướng dẫn sự tri giác các tài liệu trực quan (mẫu vật, tranh ảnh, thí nghiệm, băng
hình...) và khái quát hoá các kết quả quan sát. Trong nhóm phương pháp trực
quan, học sinh dùng các giác quan để tri giác tài liệu do thầy trình diễn và qua tư
duy để rút ra kiến thức mới.
Trong nhóm phương pháp thực hành, học sinh trực tiếp thao tác trên đối tượng
(quan sát bằng dụng cụ, giải phẫu mẫu vật, làm thí nghiệm...), tự lực khám phá tri
thức mới.
Muốn thực hiện dạy và học tích cực thì cần phải phát triển các phương pháp trực
quan và thực hành theo kiểu tìm tòi từng phần hoặc nghiên cứu phát hiện, nhất là
chứa cao, bài toán nhận thức phải có khả năng không chỉ đề cập tới một, mà
còn đề cập tới nhiều mối quan hệ:
- Giữa các bào quan trong tế bào
- Giữa nhân và tế bào chất
- Giữa các mô, cơ quan, hệ cơ quan trong cơ thể
- Giữa cơ thể và môi trường
- Giữa các cá thể trong quần thể
- Giữa các quần thể trong loài
- Giữa các loài trong quần xã...
3.2. Tình huống có vấn đề
Theo lí luận dạy học, tình huống có vấn đề được hình thành từ mâu
thuẫn khách quan trở thành mâu thuẫn chủ quan qua nhận thức. “Vấn đề ” ở
đây trong quá trình dạy học trở thành “vấn đề” học tập, nghĩa là bài toán nhận
thức đối với học sinh. Nội hàm của nó chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã và
chưa biết.
Tính tích cực của học sinh được phát huy khi được đưa vào tình huống
có vấn đề, đó là tình huống mà khi mâu thuẫn khách quan của nhiệm vụ nhận
thức được học sinh chấp nhận như một “vấn đề học tập” mà học sinh cần và
có thể giải quyết được. Kết quả là học sinh nắm được tri thức mới.
Trong dạy học Sinh học ở trung học phổ thông, việc thiết lập tình huống
có vấn đề về cơ bản là việc thiết kế bài toán nhận thức. Để có tình huống,
bài toán nhận thức phải là bài toán tìm tòi, chứ không phải là bài toán tái
hiện.
3.3. Đặt và giải quyết vấn đề
Trang 15
Trường THPT Chuyên Lào cai
đề:
- Tại sao thế giới sống được phân thành 5 giới?
Vấn đề này đặt ra sau khi giáo viên đã giới thiệu đặc điểm của 5 giới.
Đây là tình huống có vấn đề đối với học sinh, mâu thuẫn nhận thức đã nảy
sinh giữa kiến thức đã biết (đặc điểm của 5 giới) với kiến thức chưa biết (tiêu
chuẩn phân loại).
Nếu học sinh không giải đáp được, giáo viên nên gợi ý:
- Sự phân loại 5 giới dựa vào những đặc điểm cơ bản nào?
Nếu học sinh không giải đáp được hoàn toàn hoặc các tiêu chuẩn nêu ra
còn tản mạn thì giáo viên có thể gợi ý tiếp :
- Những đặc điểm về cấu tạo và dinh dưỡng của 5 giới?
Tuỳ theo mức độ giải quyết vấn đề của học sinh mà thầy và trò phải rút
ra những kết luận sau đây:
Thế giới sống được phân thành 5 giới vì chúng có những sai khác nhau ở
các đặc điểm cơ bản:
Trang 16
Trường THPT Chuyên Lào cai
Sáng kiến kinh nghiệm 2012-2013
- Về cấu tạo: tế bào nhân sơ hay nhân thực, cơ thể đơn bào hay đa bào.
- Về dinh dưỡng: tự dưỡng hay dị dưỡng
Trong các đặc điểm nêu trên tuy một số giới cùng có đặc điểm này nhưng
lại khác nhau về đặc điểm khác:
- Giới khởi sinh và nguyên sinh đều có cơ thể đơn bào, nhưng giới nguyên
sinh là tế bào nhân thực còn giới khởi sinh là tế bào nhân sơ.
- Các giới thực vật và động vật đều là thể đa bào phức tạp, nhưng giới thực
Hinh 1. Sơ đồ cấu trúc của phân tử ATP
Như vậy, tinh huống có vấn đề chưa được giải quyết triệt để. Nếu học
sinh thỏa mãn với sự giải đáp nêu trên thì giáo viên tiếp tục nêu vấn đề:
- Tại sao ATP lại tiện dụng trong hoạt động sống của tế bào?
Và cứ như vậy, giáo viên sẽ trợ giúp thông qua các ý và các vấn đề định
hướng với điều kiện học sinh có nhu cầu.
Tuỳ theo mức độ giải quyết vấn đề của học sinh mà thầy và trò phải rút
ra những kết luận sau đây:
- ATP là một hợp chất cao năng liên kết giữa 2 nhóm phôtphat cuối
cùng trong ATP giàu năng lượng (mỗi liên kết là 31kj/mol). Nó đáp ứng cho
các phản ứng thu nhiệt trong tế bào đều cần năng lượng hoạt hoá ít hơn
31kj/mol.
- Các liên kết cao năng trong ATP rất dễ bị phá vỡ để giải phóng ra năng
lượng vì các nhóm phôtphat đều mang điện tích âm nên khi nằm gần nhau
luôn có xu hướng đẩy nhau ra.
- ATP truyền năng lượng cho các hợp chất khác thông qua chuyển
nhóm phôtphat cuối cùng để trở thành ADP (ađênôzin điphôtphat) rồi gần
như ngay lập tức ADP lại được gắn thêm nhóm phôtphat để trở thành ATP.
- Thức ăn được đưa vào tế bào dưới dạng các axit min, glucôzơ, axit
béo đều có thể được chuyển hoá để tạo ra các phân tử ATP dùng cho các hoạt
động khác nhau của tế bào.
- Các hoạt động của tế bào cần sử dụng ATP có thể chia ra thành 3
loại:
+ Tổng hợp nên các chất hoá học mới cần thiết cho tế bào.
+ Vận chuyển các chất qua màng. Vận chuyển chủ động cần tiêu
tốn nhiều năng lượng.
Trang 18
P (tc) : ♀ mắt đỏ x ♂ mắt trắng
F1 :
mắt đỏ
F2 : 3 con mắt đỏ: 1 con mắt trắng (♂) ?
bài toán nhận thức này được thiết kế dựa trên kiến thức đã biết của học
sinh về tỉ lệ Menđen đã được học trước đó.
Trang 19
Trường THPT Chuyên Lào cai
Sáng kiến kinh nghiệm 2012-2013
Tình huống có vấn đề đặt ra trong bài toán nhận thức trên là tại sao tỉ lệ
kiểu hình ở F2 phân bố không đều ở hai giới tính, đặc biệt là mắt trắng chỉ
có ở con đực? Đây là kiến thức chưa biết nên đã tạo ra mâu thuẫn nhận thức
của học sinh. Dưới sự dẫn dắt của giáo viên, học sinh giải quyết được vấn đề
và chiếm lĩnh được kiến thức mới về di truyền liên kết giới tính, trong đó sự
di truyền tính trạng do gen trên NST X chi phối.
Ví dụ 5. Khi dạy bài di truyền liên kết với giới tính, giáo viên đưa ra bài
toán nhận thức.
P (tc) : ♀ mắt trắng x ♂ mắt đỏ
F1 :
1♀ mắt trắng : 1 ♂ mắt đỏ ?
F2 :
của giáo viên, học sinh giải quyết được vấn đề và chiếm lĩnh được kiến thức
mới về ảnh hưởng của giới tính đối với sự hình thành tính trạng.
Ví dụ 7. Khi dạy bài sự di truyền ngoài nhiễm sắc thể, giáo viên đưa ra bài
toán nhận thức:
P (tc) : ♀ mắt đỏ x ♂ mắt trắng
F1 :
mắt đỏ
F2 :
mắt đỏ ?
F3 :
mắt đỏ ?
Bài toán nhận thức này đề cập tới sự di truyền ngoài nhiễm sắc thể hay
di truyền qua tế bào chất và được thiết kế dựa trên kiến thức đã biết của học
sinh về di truyền qua nhân hay nhiễm sắc thể.
Tình huống có vấn đề đặt ra trong bài toán nhận thức trên là ở F2 tại sao
toàn mắt đỏ hay không có sự phân li tính trạng? Đây là kiến thức chưa biết
nên đã tạo ra mâu thuẫn nhận thức của học sinh. Dưới sự dẫn dắt của giáo
viên, học sinh giải quyết được vấn đề và chiếm lĩnh được kiến thức mới về sự
di truyền ngoài nhiễm sắc thể hay di truyền qua tế bào chất.
Ví dụ 8. Khi đề cập tới sự di truyền hiệu ứng dòng mẹ, giáo viên đưa ra bài
toán nhận thức:
P (tc) : ♀ mắt trắng x ♂ mắt đỏ
F1 :
mắt đỏ
F2 : 3 con mắt đỏ: 1 con trắng (bất thụ) ?
Bài toán nhận thức này đề cập tới sự di truyền tương tác giữa gen trong
nhân và tế bào chất và được thiết kế dựa trên kiến thức đã biết của học sinh
về di truyền qua nhiễm sắc thể thường.
Tình huống có vấn đề đặt ra trong bài toán nhận thức trên là tại sao ở F2 con
mắt trắng lại bất thụ ? Đây là kiến thức chưa biết nên đã tạo ra mâu thuẫn
nhận thức của học sinh. Dưới sự dẫn dắt của giáo, học sinh giải quyết được
vấn đề và chiếm lĩnh được kiến thức mới về sự tương tác giữa gen trong nhân
và tế bào chất.
Ví dụ 10. Khi đề cập tới sự tác động đa hiệu của gen, giáo viên đưa ra bài
toán nhận thức
P (tc): mắt đỏ x
mắt đỏ
F1: 2 mắt đỏ: 1 mắt trắng?
Bài toán nhận thức này đề cập tới sự tác động đa hiệu và gây chết của gen
và được thiết kế dựa trên kiến thức đã biết của học sinh về di truyền qua
nhiễm sắc thể thường.
Tình huống có vấn đề đặt ra trong bài toán nhận thức trên là tại sao ở
F1 lại xuất hiện tỉ lệ 2 con mắt đỏ: 1 con mắt trắng lại ? Đây là kiến thức
chưa biết nên đã tạo ra mâu thuẫn nhận thức của học sinh. Dưới sự dẫn dắt
của giáo viên, học sinh giải quyết được vấn đề và chiếm lĩnh được kiến thức
mới về sự tác động đa hiệu và gây chết của gen.
4. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN CHÚ Ý KHI TỔ CHỨC DẠY HỌC MÔN SINH
Để tổ chức tốt bài học, chúng ta cần chú ý một số vấn đề sau :
- Tổ chức dạy theo phương pháp dạy học tích cực thì mức độ hoạt động của học
sinh phải chiếm tỷ lệ lớn.
I - XÁC ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA BÀI HỌC
1. Về mục tiêu
- Trình bày được những diễn biến cơ bản của quá trình giảm phân, đặc biệt là
những động thái của các cặp nhiễm sắc thể tương đồng.
- Giải thích được tại sao quá trình giảm phân tạo ra được nhiều loại giao tử
khác nhau về tổ hợp nhiễm sắc thể.
- Biết vận dụng những kiến thức thức về giảm phân để giải thích cơ chế ổn
định bộ nhiễm sắc thể và vấn đề tại sao ở những loài giao phối thường có
nhiều biến dị.
- Tiếp tục phát triển kĩ năng quan sát và phân tích kênh hình.
- Phát triển năng lực tư duy lí thuyết như phân tích, so sánh.
Trang 23
Trường THPT Chuyên Lào cai
Sáng kiến kinh nghiệm 2012-2013
- Có ý thức vận dụng kiến thức về giảm phân hay sinh sản hữu tính vào thực
tiễn sản xuất như thụ phấn chéo cho cây, phát hiện các biến dị tổ hợp...
2. Về thiết bị dạy học cần thiết
Tranh và mô hình về quá trình giảm phân.
3. Về trọng tâm
Những diễn biến cơ bản trong giảm phân
II - TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC BÀI HỌC
Tiến trình bài học tập trung chủ yếu vào việc giáo viên tổ chức các hoạt động
học tập của học sinh thông qua việc quan sát và phân tích kênh hình từ các
lệnh trong sách giáo khoa. Căn cứ vào sự trả lời của học sinh trước các lệnh,
giáo viên có thể gợi mở, hướng dẫn và hoàn chỉnh các thông tin để học sinh
AB
ab
ab
ab
G:
AB, ab, Ab, aB
F1 :
AB
ab
ab
ab
,
xám, dài ,
ab
Ab
ab
,
đen, cụt
minh hoạ về biến dị tổ hợp.
- Câu “c” : bộ nhiễm sắc thể trong các tế bào con được tạo ra qua giảm phân
không chỉ đều có số lượng nhiễm sắc thể (n) bằng một nửa của tế bào mẹ, mà
giữa chúng còn khác nhau về các tổ hợp nhiễm sắc thể (nguồn gốc) và tổ hợp
gen (như các ý a và b ở trên đã đề cập).
b) ý nghĩa của giảm phân
Trong mục này nên lưu ý một vài điểm sau:
Trang 25