Đề tài sáng kiến kinh nghiệm năm học 2013-2014:
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG ĐỌC- HIỂU TÁC PHẨM KỊCH
NHẰM NÂNG CAO HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN NGỮ VĂN
CHO HỌC SINH 12.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Như chúng ta đã biết, kịch là một loại hình sân khấu, đồng thời là một
trong ba phương thức phản ánh của văn học. Sự tồn tại của phương thức kịch bên
cạnh phương thức tự sự và trữ tình đã phản ánh quy luật tất yếu là văn học nghệ thuật
phải tiếp cận và tái tạo hiện thực đời sống một cách toàn diện. Nếu vương quốc riêng
của thơ là những cung bậc cảm xúc trữ tình sâu lắng, tiểu thuyết là những mảng
không gian bề bộn, nhiều tầng, nhiều vỉa thì kịch là những xung đột gay gắt, những
va chạm, đụng độ quyết liệt đòi hỏi phải được giải quyết bằng hành động.
Là một thể loại văn học, kịch bản văn học chỉ được thực sự khai thác trọn vẹn
khi được biểu diễn trên sân khấu. Như vậy, kịch vừa có cái riêng của văn học lại vừa
có cả cái chung của sân khấu. Phần thuộc về văn học là phương diện kịch bản, phần
thuộc về sân khấu là nghệ thuật trình diễn. Bằng những ưu thế riêng của nghệ thuật
dàn dựng, nghệ thuật diễn xuất âm thanh, màu sắc, ánh sáng trang phục, các nghệ sĩ
sân khấu đã tái hiện một cách trực tiếp và sinh động nội dung của kịch bản văn học
trên sàn diễn. Nói cách khác, trình diễn là nghệ thuật nhằm âm thanh hoá, , vận động
hoá, hình tượng hoá kịch bản. Dĩ nhiên là không phải bất cứ một kịch bản văn học
nào cũng có điều kiện dàn dựng trên sân khấu, người ta vẫn có thể thưởng thức tác
phẩm bằng cách đọc và nghe kịch bản qua ra-đi-ô. Nhưng, kịch bản không thể thay
thế và bộc lộ được đầy đủ vẻ đẹp của một tác phẩm kịch như đựơc trình diễn trên sân
khấu. Quy trình sáng tạo từ kịch bản văn học đến vở diễn sân khấu là con người đa
dạng hoá hình tượng kịch bản bằng phép lợi thế của bộ môn nghệ thuật tổng hợp này.
Những nhà viết kịch nổi tiếng thế giới như Mô-li-e, Gô-gôn, Sếc-xpia, Sê-khốp....đều
thừa nhận mối liên hệ mang tính chất sống còn giữa kịch bản văn học và bộ môn
chính thúc đẩy sự phát triển của hành động kịch, Thiếu xung đột, tác phẩm kịch mất
đi đặc trưng cơ bản “ chỉ có thể là những vở kịch tồi” ( Sê- khốp). Rõ ràng, phi xung
đột, tác phẩm kịch không thể tồn tại với đầy đủ ý nghĩa của nó. Để phát huy đặc
trưng này, người viết kịch phải tạo được những xung đột mang ý nghĩa xã hội sâu sắc
giữa cái cao cả- cái thấp hèn, cái thiện- cái ác, cái bi- cái hùng, cái mới- cái cũ....Từ
những mâu thuẫn đang tồn tại trong lòng hiện thực, người viết kịch phải tổng hợp,
chọn lọc, sáng tạo hiện thực hoá để những mâu thuẫn ấy không chỉ mang ý nghĩa xã
hội mà nó còn trở nên hết sức chân thực và gần gũi.
Có thể nhận thấy mức độ cao trào của xung đột kịch trong từng tác phẩm. Xung
đột có thể gay gắt cực điểm dẫn đến sự tiêu vong của một bên như bi kịch của Et-sin,
có thể điều hoà hơn như trong hài kịch của Mô-li-e, hoặc gay gắt về mối quan hệ giai
cấp như kịch kịch sử Nguyễn Huy Tưởng, hoặc giằng xé nội tâm ngay trong bản thân
một tính cách như kịch của Lưu Quang Vũ. Tất cả những mặt đối lập trong xung đột
đó phải đạt đến tính điển hình chân thực. Thiếu ý nghĩa điển hình, tác phẩm kịch chỉ
là sự mô phỏng, cường điệu những mâu thuẫn vụn vặt tầm thường của đời sống.
Thiếu ý nghĩa chân thực, tác phẩm kịch chỉ là sự giả tạo, là lí thuyết suông.
1.2 Hành động kịch: Tính kịch của một tác phẩm văn học thường nằm trong xung
đột, nhưng nhờ hành động, nội dung của xung đột ấy đã được giải toả. Những vấn đề
của đời sống nhân sinh như sự sống và cái chết, cao cả và thấp hèn, tốt đẹp và xấu
xa...vốn chứa đựng nhiều ý nghĩa triết lí khi còn ở dạng xung đột sẽ trở nên cụ thể và
sinh động hơn qua hệ thống hành động kịch. Đặc biệt là khi lên sân khấu, nó sẽ trở
nên sống động và gợi cảm hơn nhờ tài năng diễn xuất của diễn viên. Như vậy, hành
động kịch trong tác phẩm là hành động mang xung đột, trực tiếp biểu hiện xung đột.
Và sau xung đột, cùng với xung đột, hành động kịch mang tính đặc trưng không thể
thiếu với bất kì kịch bản văn học nào. Mối liên kết bền vững giữa hai yếu tố xung đột
và hành động kịch tạo nên đặc trưng riêng biệt của thể loại này. Trong một tác phẩm,
hành động kịch thường phát triển theo hướng thuận chiều với xung đột kịch. Nghĩa
là, xung đột càng gay gắt căng thẳng thì hành động càng trở nên mạnh mẽ quyết liệt
nộ, êm ái, ngọt ngào và gay gắt chua chát, vỗ về bênh vực và mỉa mai báng bổ.
- Ngôn ngữ độc thoại là tiếng nói của nhân vật để nói với chính mình. Để nhân vật tự
nói lên những uẩn khúc chìm lấp sâu bên trong, tác giả kịch bản đã hướng tới mục
đích khai thác chiều sâu tâm lí cho nhân vật. Khi trình diễn trên sân khấu, người ta có
thể thay đổi màu sắc, ánh sáng, điều chỉnh giọng nói, âm thanh, sử dụng tiếng vọng
hoặc tái dựng lại những hình bóng đã lùi vào quá khứ. Sân khấu hiện đại còn sử dụng
phương pháp đồng hiện: nhân vật tự phân thân thành hai người khác nhau để đối
thoại cùng nhau ( Hồn Trương Ba, da hàng thịt- Lưu Quang Vũ).
Dù là đối thoại hay độc thoại, ngôn ngữ kịch bao giờ cũng khắc hoạ tính cách. Từ
lời ăn tiếng nói của riêng mình, nhân vật kịch phải thể hiện được những đặc điểm nổi
bật của cá tính. Bởi vì tác giả đứng ngoài kịch bản nên mỗi nhân vật với một nguồn
gốc xuất thân, một lai lịch, một bản chất xã hội, một tính cách riêng phải có tiếng nói
riêng thật sự phù hợp và không thể trộn lẫn với tiếng nói của các nhân vật khác. Đó là
một đòi hỏi tất yếu bởi vì bản chất của nhân vật kịch trước sau cũng “chỉ có thể được
bộc lộ qua chính lời lẽ của chính họ mà thôi”.
Ngôn ngữ kịch cũng phải mang tính hành động, thúc đẩy cho hành động của diễn
viên. Ngôn ngữ đó vừa mang tính hội thoại vừa gần gũi với đời sống, vừa giàu tính
nghệ thuật. Khác với ngôn ngữ cách điệu trong ngôn ngữ truyền thống như chèo,
tuồng, cải lương...sân khấu kịch nói thường sử dụng ngôn ngữ gần gũi với đời
thường. Lời nói của các nhân vật thường ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu và ít nhiều mang
tính khẩu ngữ. Họ đối đáp với nhau một cách tự nhiên giản dị theo cách đối thoại
thường ngày. Tuy nhiên, là một dạng cấu trúc văn bản nghệ thuật khá đặc biệt, ngôn
ngữ tác phẩm kịch cần phải đạt đến một trình độ điêu luyện. Mặc dù rất gần gũi với
ngôn ngữ hội thoại hàng ngày, nhưng tác phẩm kịch bản hoàn toàn loại bỏ những lời
lẽ thô thiển, vụng về, những cách nói năng tự nhiên thiếu chủ nghĩa, thiếu chọn lọc,
thiếu văn hoá. Ví dụ đoạn thoại sau đây:
- Hồn Trương Ba: Đến lúc này, cả nhà chỉ còn mình con vẫn thương thầy như
xưa.
nhân vật trong đêm trăng tại vườn nhà Giu-li-et sau đêm hội hoá trang.
2. Kết quả: Sau khi tiến hành ứng dụng sáng kiến Rèn luyện kĩ năng đọc- hiểu tác
phẩm kịch nhằm nâng cao hứng thú học tập môn Ngữ văn cho học sinh 12, tôi
tiến hành đo bảng thái độ sau và yêu cầu học sinh đánh dấu X vào ô mình đồng ý.
Nội dung
Nắm chắc đặc trưng của
Rất hứng thú
Không hứng thú
x
kịch và đọc phân vai và tập
diễn kịch
Kết quả thu được: 87% học sinh hứng thú với giờ dạy ở lớp 12A2. So sánh đối chiếu
với lớp 12A3 không sử dụng sáng kiến này, tôi thấy có sự khác biệt nổi bật không chỉ
ở sự hứng thú của học sinh mà còn ở cảm xúc, sự hưng phấn của giáo viên. Điều đó
khẳng định sáng kiến đã có những tác động nhất định đến sự tích cực hóa của người
học. Trong các hoạt động ngoại khoá, các em đã chủ động xây dựng kịch bản, lựa
chọn diễn viên, tìm trang phục, đạo cụ phù hợp và tiến hành tập luyện. Sau khi nhận
được sự góp ý của các thầy cô giáo, các em đã tiến hành công diễn một số vở kịch
ngắn như Kén rể ngày xuân ( 12A2), Ngày lễ thánh
( 10A1), Nỗi đau ở lại ( 12A2), Kịch hát Trường sa ( Tập thể khối 12)
3. Hạn chế: Sử dụng sáng kiến Rèn luyện kĩ năng đọc- hiểu tác phẩm kịch nhằm
nâng cao hứng thú học tập môn Ngữ văn cho học sinh 12, là một giải pháp tốt.
Nhưng để sử dụng hiệu quả, giáo viên phải biết lựa chọn những đoạn kịch giàu kịch
tính sinh động và hấp dẫn, chọn được những học sinh có năng khiếu diễn xuất, có khả
năng hoạt khẩu. Vì vậy, giáo viên phải đầu tư công phu và mất nhiều thời gian, và có
nhiều sự trải nghiệm.
Lợi, Phát ( 12A3),
Khởi, Hoan, Hùng, Tuyền ( 12A5)
: Tuyết Trinh ( 12A5)
4, Hà : Bạn gái Kiên ( áo dài trắng)
II. CA KHÚC THỂ HIỆN :
1. Chút thư tình của người lính biển.(Ca sĩ Hoài Nam thể hiện)
2. Hành khúc chiến sĩ Trường Sa ( Tốp nam đoàn Nghệ thuật quân khu 2)
3. Đồng Đội ( Ca sĩ Trọng Tấn, Đăng Dương, Việt Hoàn)
4. Đàn ghi ta một dây ( Ca sĩ Lê Anh Tuấn và tốp nam)
III. ĐẠO CỤ :
1. Sắc phục Hải quân, mũ : 9 bộ
2. Áo dài trắng : 1 bộ
3. Áo nâu, quần thâm, khăn mỏ quạ : 1 bộ
4. Súng : ( 9 khẩu)
5. Võng : 1 chiếc
6. Thư, báo : nhiều tập
IV NỘI DUNG :
CẢNH 1 : TẠI NHÀ KIÊN
( Nhà vắng vẻ, Kiên trong trang phục hải quân mới, chạy vào hớn hở)
Kiên : Mẹ ơi, mẹ, mẹ ra đây trông con thế nào ? Có đẹp không ?
Mẹ :
( Cuống quýt chạy ra, tay cầm chiếc áo đang khâu dở, vừa đi vừa cắn chỉ, nắm vai
con, ngắm nhìn từ đầu đến chân) :
Ừ, mẹ đây, mẹ đây. Úi giời, trông con mẹ khác quá, quần áo là cứ vừa như in con
nhẩy ! Chà đẹp quá, đúng là nhà may quân đội, đường kim mũi chỉ đâu ra đấy. Chả
bù cho đường may của mẹ, mắt mũi kèm nhèm đường chỉ nó nhảy nhót, may rồi lại
tụt, tụt rồi lại may.. (Hạ giọng buồn rầu ) Nhưng mà ngày mai con nhập ngũ rồi, mẹ
Kiên nhập ngũ ra đảo Trường xa. Thế là bắt đầu những tháng ngày binh nghiệp, xa
quê hương, xa gia đình, xa người bạn gái mà Kiên yêu quý. Kiên mang theo tất cả
trong hành trang kỉ niệm của mình với một tâm trạng xao xuyến bâng khuâng )
Kiên : ( đi sát bên Hà thủ thỉ)
Ngày mai Kiên đi rồi, Hà có thấy nhớ Kiên không ?
Hà : ( Ngúng nguẩy) Chẳng thèm, nhớ làm gì cho mệt, Hà còn bao nhiêu bài phải
học, tuần sau kiểm tra một tiết môn Sử rồi. Đề cương dài lắm
Kiên : Thôi đi, cứ làm như Kiên chưa học Sử bao giờ ấy, môn này nhiều sự kiện,
nhiều mốc thời gian buộc mình phải chịu khó ghi nhớ và tổng hợp. Học Sử, Kiên rất
thích câu này Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc gác nước nhà Việt Nam. Chúc Hà
làm bài tốt nhé. Có kết quả nhớ thông báo cho Kiên nhé !
Hà : Nhưng mà thông báo bằng cách nào, Kiên đóng quân ở Trường sa thì làm gì có
sóng?
Kiên : Có chứ, có sóng biển, Kiên sẽ nhờ sóng biển chuyển nỗi nhớ của chúng mình.
(Đứng lại, cả hai cùng nắm tay, đi dạo chậm quanh sân khấu)
( mở nhạc : Ca khúc Chút thư tình của người lính biển – 1 lượt. Cả Kiên và Hà
cùng xem sổ lưu bút và bịn rịn chia tay).
CẢNH 3 : TẠI TRƯỜNG SA
( Lan Hương nói từ bên trong : Ở Trường Sa, Kiên đã trở thành một tiểu đội trưởng
mạnh mẽ gan góc. Anh cùng đồng đội hành quân tuần tra, bảo vệ bờ biển, hải đảo
của Tổ Quốc)
Kiên và đồng đội - 8 học sinh nam mặc trang phục hải quân, khoác súng) đi ra
Kiên : Toàn tiểu đội chú ý. Nghiêm ! Nghỉ, Nghiêm.
Hôm nay, chúng ta bắt đầu hành quân tuần tra trên đảo. Yêu cầu các đồng chí
thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. Toàn tiểu đội chú ý, nghiêm, đi đều bước !
(mở nhạc : Ca khúc Hành khúc chiến sĩ Trường Sa – 2 lượt)
Kiên : Thôi, toàn tiểu đội nghỉ giải lao
(Có tiếng vọng từ bên trong). Có thư báo từ đất liền rồi các cậu ơi !