SKKN một số phương pháp giảng dạy nâng cao hiệu quả giảng dạy trong kiểu bài thực hành tiếng việt 11 tại trung tâm GDTX văn bàn - Pdf 32

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO LÀO CAI
TRUNG TÂM GDTX VĂN BÀN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÂNG CAO HIỆU QUẢ
GIẢNG DẠY TRONG KIỂU BÀI THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT 11
TẠI TRUNG TÂM GDTX VĂN BÀN
Họ tên: Nguyễn Thị Huệ
Chức vụ: Giáo viên
Tổ chuyên môn: Khoa học xã hội
Đơn vị Công tác: Trung tâm GDTX Văn Bàn

Văn Bàn, ngày20 tháng03 năm2014.


1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong hoạt động dạy học, nội dung, mục đích là nhân tố quyết định
phương pháp dạy học phù hợp, nâng cao được hiệu quả giảng dạy cho từng kiểu
bài, nhóm bài khác nhau. Dựa vào nội dung và mục đích, có thể chia các bài
Tiếng Việt trong sách giáo khoa(SGK)Ngữ văn 11 thành các kiểu, nhóm bài
khác nhau, cụ thể là: Kiểu bài thực hành, kiểu bài lý thuyết, kiểu bài tổng kết, ôn
tập. Mỗi kiểu bài này lại được chia thành các nhóm khác nhau nữa. Vì vậy mà
trong giảng dạy mỗi kiểu bài, nhóm bài khác nhau đòi hỏi người dạy phải linh
hoạt vận dụng các phương pháp dạy học sao cho phù hợp, đảm bảo hiệu quả
giảng dạy. Đặc biệt là đối với những kiểu bài thực hành tiếng Việt cấp THPT
nói chung, kiểu bài thực hành tiếng Việt 11 nói riêng muốn có kết quả khả quan,
phù hợp với đối tượng tại Trung tâm GDTX Văn Bàn.
Với những lý do trên, tôi thấy giáo viên dạy môn Ngữ văn cần phải có
cách hướng dẫn cụ thể về cách học cho học sinh để nâng cao chất lượng dạy và
học. Và đây cũng là lý do để Tôi mạnh dạn đưa ra một số phương pháp trong
việc giảng dạy kiểu bài thực hành tiếng Việt trong môn Ngữ văn 11 của Trung

khăn trong quá trình giảng dạy kiểu bài thực hành tiếng việt cấp THPT nói
chung và khối 11 nói riêng.

3


2.2. Thực trạng của vấn đề:
Mới gắn bó với Trung tâm GDTX Văn Bàn được một năm, tôi đã nhận
thấy: Bên cạnh những học viên học tập tại trung tâm đúng độ tuổi, còn có những
học viên theo học không đúng độ tuổi, tuổi của họ cách xa nhiều so với độ tuổi
đương học, mặc dù đa số các học viên trong Trung tâm đều có nền nếp học tập
tốt, chăm chỉ, ngoan ngoãn, lễ phép với người trên, đoàn kết với bạn bè nên có
nhiều thuận lợi trong công tác dạy và học tại đây.
Không chỉ thế, về cơ sở vật chất: bàn ghế, lớp học, các phương tiện hỗ trợ
giảng dạy: Máy chiếu, các sơ đồ, bảng biểu..., các loại sách tham khảo, tài liệu
hỗ trợ cho hoạt động dạy – học...tương đối đảm bảo cho công tác giảng dạy, học
tập của giáo viên và học viên.
Về giáo viên: Có đội ngũ giáo viên nói chung, đội ngũ giáo viên giảng
dạy môn Ngữ văn nói riêng luôn nhiệt tình trong công tác, có ý thức cao trong
đầu tư chuyên môn, đạt trình độ chuẩn, có nhiều kinh nghiệp giảng dạy ở các
trường THPT... Và luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Ban giám đốc
Trung tâm nên phát huy được khả năng, vai trò, vị thế của bản thân nên học viên
cũng có điều kiện tốt hơn để học tập.
Bên cạnh những ưu điểm trên vẫn còn có nhiều tồn tại : Đa số học viên là
con em dân tộc ít người nên phát âm chưa chuẩn, kỹ năng giao tiếp còn hạn chế
do đó đã ảnh hưởng đến quá trình dạy và học. Trình độ nhận thức của học viên
chưa đồng đều nên ảnh hưởng đến quá trình lĩnh hội kiến thức. Chất lượng đầu
vào thấp, tỷ lệ chuyên cần của học sinh chưa cao, học sinh còn nghỉ học nhiều
và bỏ học . Hoàn cảnh gia đình của học sinh gặp rất nhiều khó khăn, đường xa
đi lại vất vả ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng học tập đặc biệt là bộ môn

* Phương pháp rèn luyện theo mẫu:
Phương pháp rèn luyện theo mẫu là phương pháp dạy học tiếng Việt bằng
cách thông qua những mẫu cụ thể về ngôn ngữ, lời nói hoặc mô hình lời nói,
giáo viên giúp học viên tìm hiểu đặc điểm của mẫu, cơ chế tạo mẫu, qua đó học
viên biết tạo ra những sản phẩm mới theo định hương của mẫu.
5


* Phương pháp hệ thống- dạng dựa vào quan hệ ngữ đoạn:
Đây là phương pháp dạy học kiểu bài thực hành tiếng Việt bằng cách sau
khi đặt đối tượng cần tìm hiểu vào trong hệ thống các yếu tố cùng xuất hiện với
nó trong dòng ngữ lưu, giáo viên hướng dẫn học sinh xem xét đối tượng trong
quan hệ ngữ đoạn để có được những hiểu biết cần thiết về đối tượng.
* Phương pháp giao tiếp:
Phương pháp giao tiếp trong giảng dạy kiểu bài thực hành tiếng Việt là
phương pháp bằng cách giúp học viên vận dụng những tri thức đã học vào việc
thực hiện một nhiệm vụ giao tiếp cụ thể
Phương pháp này giúp học viên rèn luyện kĩ năn đưa đơn vị ngôn ngữ
vừa học vào việc tạo lập lời nói, văn bản hoàn chỉnh
c. Phương pháp nghiên cứu
Khi dạy kiểu bài thực hành tiếng Việt cấp THPT nói chung, khối 11 nói
riêng, người dạy phải xác định kiểu bài, nhóm bài đó vận dụng phương pháp nào
là phù hợp và hiệu quả để từ đó định hướng cụ thể cho học viên các bước tiến
hành theo phương pháp đã định, cụ thể như:
* Phương pháp rèn luyện theo mẫu: các bước tiến hành như sau:
Bước 1: Giao cho học viên một bài tập có yêu cầu tạo lập hoặc một số
đơn vị lời nói nào đó dựa theo mẫu có sẵn.
Bước 2: Giáo viên hướng dẫn học viên tìm hiểu yêu cầu của đề và phân
tích mẫu ở một số phương diện cơ bản.
Bước 3: Tổ chức cho học viên làm bài tập và trả lời theo hình thức thích

động 3: Hướng dẫn thực hành; Hoạt động 4: Hướng dẫn học bài. Vậy ở trong
từng hoạt động ta nên thực hiện như thế nào?
Hoạt động 1: Khởi động
Hoạt động khởi động được đánh giá là một hoạt động rất quan trọng trước
khi bước vào bài mới. Để thực hiện được thao tác này buộc người giáo viên phải
7


suy nghĩ xem nên dẫn dắt, giới thiệu như thế nào cho ấn tượng và tạo hứng thú
cho học sinh đi củng cố kiến thức trong kiểu bài thực hành tiếng Việt. Tuy
nhiên, giáo viên không nên áp dụng máy móc trong khâu này. Bởi không chỉ có
giáo viên mà ngay cả học sinh đều có thể tham gia vào hoạt động đầu tiên này.
Giáo viên nên lựa chọn những cách mở đầu tiết học phù hợp với đặc
trưng của kiểu bài thực hành tiếng Việt như có thể cho học sinh sử dụng trực
quan để quan sát tranh, ảnh và đặt câu hỏi gợi mở cho học sinh; giáo viên nêu
vấn đề gợi dẫn cho học sinh liên tưởng, nhớ lại rồi cho học sinh thảo luận, chia
sẻ vấn đề. Sau đó giáo viên chốt lại vấn đề, chuyển tiếp sang bài mới.
Hoạt động 2: Hướng dẫn ôn lại lý thuyết.
Đây là hoạt động quan trọng giúp cho học viên tái hiện lại được kiến thức
đã học để từ đó vận dụng vào giải bài tập, nhằm củng cố thêm đơn vị kiến thức
thực hanh.
Tuy nhiên, hoạt động này chỉ mang tính chất tái hiện lại kiến thức để vận
dụng thực hành có kết quả cao nên giáo viên không để mất nhiều thời gian vào
hoạt động này.
Hoạt động 3: Hướng dẫn thực hành
Khi thiết kế bài giảng, giáo viên phải định hướng trước từng bài tập thực
hành nên vận dụng phương pháp nào là phù hợp, có hiệu quả mà lại đảm bảo
được tính tích cực cuả học viên trong hoạt động củng cố kiến thức tiếng việt
thông qua mỗi kiểu bài thực hành tiếng Việt trong chương trình.
Ví dụ: Khi dạy bài Thực hành về nghĩa của từ trong sử dụng (SGK Ngữ

- Nhận diện thành ngữ và điển cố trong lời nói.Cảm nhận, phân tích giá trị
biểu hiện và gía trị nghệ thuật của thành ngữ, điển cố trong lời nói, câu văn. Biết
sử dụng thành ngữ và điển cố thông dụng khi cần thiết sao cho phù hợp với ngữ
cảnh và đạt hiệu quả giao tiếp cao.
3. Thái độ:
Có thái độ đúng khi sử dụng thành ngữ, điển cố.
B. Hoạt động dạy và học:
1. Ổn định tổ chức:
9


2. Kiểm tra bài cũ(5p): Đọc thuộc lòng đoạn 3 bài văn tế? cho biết nội dung
chính của đoạn?
3. Bài mới(1p) :
Hoạt động 1 : Khởi động(1p)
Thành ngữ gắn với cụm từ cố định còn tục ngữ gắn với câu, thường được
cấu tạo dài hơn và có logic nội tại. Cả thành ngữ và điển cố đều là cụm từ cố
định nhưng cấu tọ của điển cố không cấu tạo chặt chẽ như thành ngữ. Nhìn
chung thành ngữ và điển cố đều có sức biểu cảm và khái quát. Ngoài ra điển cố
còn giúpta hiểu biết về xã hội, về lịch sử văn học . Vậy cụ thể thế nào, ta tìm
hiểu bài học.
Hoạt động của GV và HS
Hoạt động 2 : Lý thuyết(5p)
* PT: SGK, SGV, GA…

Nội dung cần đạt
I. Lý thuyết

* PP: Gợi mở
GV: Định hướng cho HS nhớ lại kiến

mẫu để đánh giá hiệu quả của hs.

đồng thời qua hình ảnh cụ thể sinh động khái
quát nên nội dung và có tính biểu cảm

Bài tập 2.

Bài tập 2.

GV: Sử dụng phương pháp rèn luyện - Tính chất hung bạo, thú vật, phi nhân tính của
theo mẫu : « Đầu trâu mặt ngựa »

bọn quan lại khi đến nhà Kiều để vu oan.

GV: Giao cho hs làm thành ngữ «Cá - Cảnh sống tù túng, chật hẹp, mất tự do.
chậu chim lồng ».... giống như hướng - Lối sống và hành động nganh tàng, tự do, không
dẫn.

chịu bó buộc không chịu khuất phục trước thế lực

HV : Làm bài tập.

nào - khí phách hảo hán, ngang tàng của Từ Hải.

GV : Giúp hs đối chiếu bài tập với => các thành ngữ trên đều sử dụng hình ảnh cụ
mẫu để đánh giá hiệu quả của hs.

thể, sinh động có tính biểu cảm cao.

Bài tập 3.


HS : Liên tưởng kiến thức có liên năm.
quan, làm bài.

- Công lao của cha mẹ đối với con cái là: Sinh,
cúc, phủ, súc, trưởng, dục, cố, phục, phúc.->
Kiều nghĩ đến công lao của cha mẹ đối với mình
mà mình chưa hề đáp lại được.
11


- Gợi chuyện người xưa đi làm quan ở xa, viết
thư về thăm vợ có câu: "Cây liễu ở Chương Đài
xưa xanh xanh, nay có còn không, hay là tay
khác đã vin bẻ mất rồi". -> Kiều tưởng tượng đến
cảnh Kim Trọng trở về thì nàng đã thuộc về
người khác.
- Nguyễn Tịch đời Tấn quí ai thì tiếp bằng mắt
xanh( lòng đen của mắt), không ưa ai thì tiếp
bằng mắt trắng ( lòng trắng của mắt ) à Từ Hải
biết Kiều ở lầu xanh phải tiếp khách làng chơi
nhưng chưa hề ưa ai, bằng lòng với ai
à Câu nói thể hiện lòng quí trọng và đề cao
phẩm giá của Thúy Kiều.
GV : Giúp hs rút ra những kết luận => Muốn hiểu nội dung ý nghĩa của điển cố, suy
cần thiết.

ra tính hàm súc thâm thúy.

Hoạt động 3 : Hướng dẫn học - Gv : Hướng dẫn học sinh làm các bài tập còn

giáo dục năm 2001 đến 2010 cũng đã nêu: "Đổi mới và hiện đại hoá phương
pháp giáo dục, chuyển từ việc truyền đạt tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi
sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy
cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách hệ thống và
có tư duy phân tích tổng hợp, phát triển được năng lực của mỗi cá nhân, tăng
cường tính chủ động, tính tự chủ của học sinh trong quá trình học tập, hoạt động
tự quản trong nhà trường và tham gia các hoạt động xã hội".
Dựa trên những yếu tố trên và qua việc áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
vào giảng dạy. Tôi thấy học sinh đã có sự tiến bộ rất nhiều trong giờ học, chủ
động củng cố kiến thức ở cấp dưới theo hướng tích cực, có hứng thú khi thực
hành các bài tập.
Vì vậy, là một giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn Tôi cũng xin đưa ra một
vài kinh nghiệm trên để bạn bè đồng nghiệp có thể tham khảo, áp dụng vào việc
giảng dạy tiết thực hành tiếng Việt trong môn Ngữ văn 11 của Trung tân GDTX
cho tốt và đạt được kết quả cao hơn. Trong quá trình viết bài không thể tránh
khỏi những thiếu sót nên tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của các cấp, ban
ngành và đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
13


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy môn Ngữ văn THPT.
2. Sách giáo viên môn Ngữ văn 10.
3. Thiết kế bài giảng môn Ngữ văn 10.
4. Phương pháp dạy học văn.
5. Tài liệu bồi dưỡng chu kỳ môn Ngữ văn.

Văn bàn, ngày 20 tháng 02 năm2014
Người viết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status