SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO LÀO CAI
TRƯỜNG THPT SỐ 4 THÀNH PHỐ LÀO CAI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài:
GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG, RÈN LUYỆN KỸ NĂNG
SỐNG CHO HỌC SINH THPT BẰNG VIỆC ĐỔI MỚI
GIỜ SINH HOẠT LỚP
Họ và tên tác giả: Đào Thị Thắm
Chức vụ: Giáo viên
Tổ chuyên môn: Văn, Sử, Địa, Ngoại ngữ, GDCD
Trường THPT số 4 Thành phố Lào Cai
Lào Cai, tháng 05 năm 2014
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
I/ LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Một trong những nguyên lí cơ bản của Giáo dục Việt Nam là giáo dục con
người toàn diện. Nhiệm vụ của hệ thống giáo dục Việt Nam là đào tạo, bồi
dưỡng học sinh cả đức lẫn tài. Nhà trường phải thực hiện nhiệm vụ kép vừa dạy
chữ, vừa dạy cách làm người cho học sinh giúp các em trở thành người tốt, có
ích cho xã hội, cho đất nước.
Phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" đã
được Bộ Giáo dục & Đào tạo phát động và triển khai trong toàn ngành trong
nhiều năm qua. Phong trào thi đua đã tạo nên diện mạo mới trong các trường
học, gắn kết thầy với trò, góp phần tích cực nâng cao hiệu quả giáo dục.
Một trong những nội dung của phong trào thi đua “Xây dựng trường học
rèn luyện kĩ năng sống thì sẽ thu được rất nhiều lợi ích. Giờ sinh hoạt như thế
giúp học sinh tự hoàn thiện đạo đức nhân cách, tự ý thức phấn đấu vươn lên
trong học tập, có trách nhiệm trong việc rèn đức, luyện tài. Như vậy, giờ sinh
hoạt lớp cũng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
Với ý nghĩa đó, tôi chọn đề tài: “Giáo dục giá trị sống và kĩ năng sống cho
học sinh THPT qua giờ sinh hoạt lớp”.
II/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu lí luận.
- Thực nghiệm.
- Khảo sát thực tế.
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU;
- Đối tượng áp dụng: Lớp 10A1.
- Mục đích của sáng kiến:
+ Tìm hiểu cơ sở lí luận của đề tài: phân tích, đối chiếu với thực trạng của
nhà trường, của lớp học trong thời điểm hiện tại để qua đó tìm ra các biện pháp,
giải pháp mới hiệu quả hơn cho giờ học.
+ Xây dựng mô hình để giáo dục giá trị sống và rèn luyện kỹ năng sống
giúp cho học sinh có tinh thần và thái độ học tập tự giác, tích cực, sống có lý
tưởng và hoài bão, ứng xử, hành động mang tính nhân văn. Hơn nữa việc này
còn giúp cho học sinh có ý thức bảo vệ và rèn luyện cơ thể, không vi phạm tệ
nạn xã hội.
+ Đạt hiệu quả cao trong phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học
sinh tích cực”
+ Đạt được các mục tiêu của Giáo dục mà UNESCO đã quy định: “Học để
biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”.
PHẦN II: PHẦN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
các giá trị sống càng có thiên hướng trở thành người hoàn thiện, một công dân
tốt, một nhà lãnh đạo, quản lí giỏi trong tương lai. Ngược lại càng thiếu hụt
nhiều những giá trị nào đó, càng có ít cơ hội thành công học đường, thành
công trong cuộc sống.
Sự thiếu hụt giá trị sống ở học sinh:
- Nhiều học sinh hiện nay có biểu hiện suy thoái về mặt đạo đức, sống
buông thả, bạo lực học đường, ứng xử thiếu văn hóa...có nguyên nhân
chính là sự thiếu hụt giá trị sống.
- Gia đình và nhà trường đã xem nhẹ hoặc chưa coi trọng đúng mức
giáo dục giá trị sống.
- HS không được nuôi dưỡng trong môi trường giáo dục giàu cảm xúc
tích cực, thiếu sự trải nghiệm thực tế...Nên rất cần được nhà trường và
gia đình bù đắp.
Phương pháp giáo dục giá trị sống:
Giá trị sống được hình thành như thế nào?
- Giá trị sống không phải là tri thức được chuyển tải theo cách thông
thường.
- Giáo dục giá trị sống bằng lời khuyên, sự thuyết giảng đạo
đức...thường không mang lại hiệu quả.
- Giáo dục giá trị sống chỉ thực sự hiệu quả khi học sinh được trải
nghiệm thực tế, trải nghiệm cảm xúc...dẫn đến thay đổi nhận thức,
thái độ, hành vi.
Giáo dục giá trị sống cho học sinh bằng cánh nào?
- Giáo dục giá trị sống thông qua những câu chuyện cảm động.
- Giáo dục giá trị sống thông qua những câu hỏi tự vấn chính mình.
- Giáo dục giá trị sống qua nhận thức lại kinh nghiệm, tương tác và sự
tranh luận.
- Giáo dục giá trị sống bằng những trải nghiệm thực tế.
- Giáo dục giá trị sống bằng những trải nghiệm cảm xúc.
Nói tóm lại, kĩ năng sống là những khả năng tâm lí xã hội của mỗi cá
nhân thể hiện trong hành vi thích ứng hay thích nghi tích cực để giúp cá nhân
ứng xử một cách hiệu quả trước các nhu cầu, đòi hỏi, thách thức của cuộc
sống hàng ngày.
Những kĩ năng sống quan trọng cần rèn luyện ở học sinh:
7
- Kĩ năng tự nhận thức.
- Kĩ năng xác định giá trị.
- Kĩ năng giao tiếp.
- Kĩ năng ra quyết định.
- Kĩ năng kiên định.
- Kĩ năng đặt mục tiêu.
- Kĩ năng tự bảo vệ.
- Kĩ năng tìm kiếm sự giúp đỡ.
- Kĩ năng suy nghĩ tích cực và duy trì thái độ lạc quan.
- Kĩ năng thuyết trình.
- Kĩ năng điều chỉnh nhận thức và hành vi....
Hình thành kĩ năng sống bằng cách nào?
Đặc điểm của quá trình hình thành kĩ năng sống là một quá trình tích lũy
kinh nghiệm sống, học hỏi lâu dài, có sự chấp nhận, tham gia tích cực của cá
nhân và đòi hỏi phải có sự trải nghiệm thực tế.
Yếu tố xúc cảm luôn là chất xúc tát quan trọng nhất giúp cho quá trình
định hình kĩ năng sống, giá trị sống nhanh hơn, hiệu quả hơn.
Có nhiều hình thức giáo dục rèn luyện kĩ năng sống nhưng đều phải
thông qua các tương tác dưới dạng: Câu hỏi, bài tập xử lí tình huống, thảo
luận...
Để giáo dục kĩ năng sống hiệu quả cần tạo xúc cảm tích cực, thông qua
trò chơi đóng vai...dẫn các em đến một danh sách các hành vi được làm/ nên
chịu xử lí kỉ luật thậm chí hạ hạnh kiểm.
- Có nhiều nguyên nhân dẫn đến học sinh không thích giờ sinh hoạt lớp:
+ HS không được cùng nhau tổ chức, tham gia vào giờ SHL.
+ Nội dung giờ SHL khô cứng, lặp đi lặp lại, không thực sự gắn với nhu
cầu của HS.
+ Hình thức tổ chức giờ SHL đơn điệu, nhàm chán, không hứng thú với
HS.
+ GV quá nghiêm khắc, không gần gũi, thân thiện, không đặt mình vào
vị trí của HS để hiểu các em.
- Trước những yêu cầu đổi mới giờ sinh hoạt lớp hướng đến giáo dục giá
trị sống và rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh của Ngành giáo dục, của Sở
Giáo dục và Đào tạo Lào Cai, Ban giám hiệu Trường THPT số 4 Thành phố
Lào Cai đã chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm thực hiện đổi mới giờ sinh hoạt lớp
9
nhằm giáo dục giá trị sống và rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh. Trường đã
có rất nhiều thầy cô sáng tạo trong đổi mới, có nhiều giờ sinh hoạt lớp thực sự
bổ ích cho các em học sinh.
- Phát huy hiệu quả của giờ sinh hoạt lớp là vấn đề luôn được những thầy
giáo, cô giáo làm công tác chủ nhiệm ở trường THPT số 4 TP Lào Cai trăn trở
và đưa ra thảo luận trong các buổi sinh hoạt chuyên môn, nghiệp vụ. Bản thân
tôi cũng đã thực hiện đổi mới giờ sinh hoạt lớp hướng tới giáo dục giá trị sống
và rèn luyện kĩ năng sống cho các em học sinh góp phần nâng cao hiệu quả
công tác giáo dục toàn diện của nhà trường.
III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐÃ TIẾN HÀNH ĐỂ GIÁO DỤC GIÁ
TRỊ SỐNG VÀ RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỐNG Ở LỚP 10A1
1/ Xây dựng kế hoạch
GVCN lập kế hoạch sinh hoạt theo từng tháng, từng tuần. Kế hoạch thể
hiện rõ thời gian tiến hành, giáo dục giá trị sống nào, bằng hình thức tổ chức
giúp các em giải tỏa những căng thẳng trong quá trình học tập, là sợi dây gắn
kết tình cảm của lứa tuổi học trò. Các thầy giáo, cô giáo nên dành thời gian
cho học sinh tự nhận nhiệm vụ và có trách nhiệm với công việc của mình.
Cùng với đó, các thầy, cô nên tham gia vào các hoạt động tập thể của học sinh
để thầy trò hiểu nhau hơn. Sinh hoạt lớp cũng có thể là khoảng thời gian quý
giá để cho các em đọc những câu chuyện hay, những tấm gương người tốt
việc tốt, có ý nghĩa trên sách, báo phù hợp với lứa tuổi học trò. Các em cũng
có thể bình luận, chia sẻ suy nghĩ về các vấn đề xã hội, thời sự hoặc những
vấn đề có liên quan đến chính các em.
Sinh hoạt lớp theo chủ đề: GIÁ TRỊ SỐNG TRÁCH NHIỆM.
* Hoạt động 1: Sơ kết tuần học (7 phút)
- Tổ trưởng báo cáo tình hình của tổ, lớp trưởng sơ kết chung.
- GVCN nhận xét những ưu, nhược điểm của học sinh, tuyên dương
những học sinh tiến bộ.
* Hoạt động 2: GVCN triển khai kế hoạch tuần sau (3 phút)
* Hoạt động 3: Lớp tổ chức hoạt động tập thể (35 phút)
- Buổi sinh hoạt tập thể bắt đầu bằng câu chuyện tình huống: Một người
bác yêu thương quan tâm con cháu, chăm chút gia đình; một người chị (Linh)
chăm học, chăm làm, hiếu thảo và nhân hậu, yêu từ thiện; một người em họ
(Dương) lêu lổng, ham chơi, nhiều thói hư tật xấu, do cha mẹ mải làm ăn nên
gửi bác chăm sóc. Ba bác cháu chung sống dưới một mái nhà đã tạo nên
11
những tình huống éo le, dở khóc dở cười... Câu chuyện trở nên rất hấp dẫn khi
được các diễn viên nghiệp dư tài ba của lớp thể hiện.
- Kết thúc câu chuyện HS thảo luận về vấn đề trách nhiệm. Một loạt các
câu hỏi lần lượt được đặt ra “Chỉ ra sự khác biệt giữa hai bạn Linh và Dương
và giữa gia đình của hai bạn? Từ đó cho thấy các bạn là những người như
thế nào…”. Từ việc trả lời các câu hỏi theo sự dẫn dắt của bạn lớp trưởng
đồng, trách nhiệm với nhân loại... Những hình ảnh và khẩu hiệu của các em
thật ngộ nghĩnh, nó chứa đựng những suy nghĩ tích cực của các em.
Kết quả hoạt động nhóm của học sinh
- Tiếp theo GVCN chiếu các clip về các hiện tượng sống có trách nhiệm
và vô trách nhiệm đang diễn ra trong đời sống xã hội để HS suy nghĩ.
- GVCN đưa ra vấn đề để học sinh chia sẻ với GV và các bạn trong lớp
1. Em cảm thấy thế nào khi người ta không làm những điều họ đã nói?
2.Em cảm thấy thế nào khi em làm tròn trách nhiệm của mình?
3. Em cảm thấy thế nào và kết quả ra sao nếu em không thực hiện trách
nhiệm của mình?
4. Điều gì sẽ xảy ra nếu mỗi cá nhân thiếu trách nhiệm với bản thân, gia
đình, xã hội và toàn cầu?
Kết thúc buổi sinh hoạt lớp học sinh hát bài hát: “Khát vọng” có thể nói
giai điệu bài hát “Hãy sống như đời sống để biết yêu nguồn cội/ Hãy sống
như đồi núi để vươn tới những tầm cao…” lắng đọng trong cảm xúc mỗi học
sinh. Sau giờ sinh hoạt lớp chắc chắn mỗi học sinh sẽ có những trải nghiệm
thực tế, những kĩ năng sống cần thiết và quan trọng có thái độ sống đúng đắn.
Con người trách nhiệm trong mỗi học sinh được đánh thức.
13
IV. KẾT QUẢ THỰC HIỆN
a/ Kết quả khảo sát thực tế:
* Mức độ hứng thú với giờ sinh hoạt lớp theo hướng đổi mới
Số liệu được tổng hợp qua phiếu thăm dò ý kiến
Đối tượng
Mức độ
thăm dò Lí do
1
Giờ sinh hoạt được
tâm sự, chia sẻ với
thầy cô, bạn bè
3
1
18 (72%)
6 (24%)
TỔNG SỐ
Không
thích
Không
có ý kiến
1
1 (4%)
* Kết quả đạt được của lớp chủ nhiệm 10A1 năm học 2013-2014
Xếp loại
Các mặt
Học lực
* Kết quả xếp loại thi đua của lớp so với toàn trường: Xếp thứ 3/15
lớp.
15
* Khảo sát nhận thức về các giá trị sống và kỹ năng sống của 25 học
sinh 10A1
Mức
Các hành vi đổi mới của học
độ rất
sinh quan sát được
Biết hợp tác tốt trong đội,
thấp
nhóm
Có lối sống lành mạnh, nhận
thấy trách nhiệm về sức khỏe
của mình
Giải quyết mâu thuẫn một cách
hòa bình
Thành công trong các cuộc
tranh luận, hùng biện, thuyết
phục người khác
Biết tự khẳng định và xử sự
bình đẳng
Mức
độ rất
10
cao
9
(40%)
(36%)
13
5
(52%)
(20%)
11
7
(44%)
(28%)
6 (24%)
được hiệu quả tốt.
- Giờ sinh hoạt lớp trở nên sinh động, hấp dẫn, bổ ích, lí thú với học sinh,
các em mong đợi đến tiết sinh hoạt lớp.
- Phát huy được vai trò tự quản của học sinh.
- HS được tham gia vào các hoạt động tập thể, được thể hiện bản thân,
rèn luyện bản lĩnh, sự tự tin.
16
- Đa số học sinh đã đổi mới về nhận thức, đổi mới về hành vi, có chuyển
biến rất nhiều về những giá trị sống và kỹ năng sống cần thiết.
- Mỗi học sinh đều tự ý thức về giá trị bản thân, mong muốn khẳng định
mình cho nên tự giác trong rèn luyện đạo đức và phấn đấu học tập, kết quả
xếp loại hai mặt giáo dục cuối năm của mỗi học sinh được nâng lên.
- Sau mỗi giờ sinh hoạt lớp học sinh thấy hiểu các bạn nhiều hơn, gần gũi
với GVCN hơn, gắn bó với lớp hơn và yêu trường nhiều hơn.
* Những hạn chế:
- GVCN mất nhiều thời gian trong việc chuẩn bị nội dung, viết kịch bản
đòi hỏi giáo viên cần năng động, sáng tạo, tâm huyết thì mới có kết quả.
- HS phải dành nhiều thời gian cho chuẩn bị các nội dung.
- Giờ sinh hoạt thành công cần phụ thuộc vào yếu tố học sinh: học sinh
cần nhiệt tình, có năng khiếu hát, kể chuyện, dẫn chương trình. Những yêu
cầu này ở học sinh không phải ở lớp nào cũng có.
17
PHẦN III: KẾT LUẬN
Như vậy, việc giáo dục giá trị sống, rèn luyện kĩ năng sống cho học
- Nắm bắt đặc điểm của học sinh và hiểu tâm lý của các em để tạo ra một
môi trường nghiêm túc khi làm việc, thoải mái khi vui chơi. Tạo cơ hội cho
các em đều có cơ hội bày tỏ những ý kiến và quan điểm của mình.
- Đa dạng hóa về nội dung và hình thức để tổ chức tốt và phát huy tác
dụng giáo dục của tiết sinh hoạt lớp.
- Thu hút tối đa sự tham gia của học sinh dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ, cố
vấn của giáo viên nhằm tăng cường vai trò tự quản của học sinh.
- Khen, chê học sinh đúng mực, khen nhiều hơn chê để tạo tâm lí tích
cực cho học sinh. Đối xử công bằng với tất cả các em.
- Đối với các giờ sinh hoạt thảo luận chuyên đề cần đảm bảo:
+ Vấn đề thảo luận phải phù hợp với hững thú, nhu cầu và trình độ nhận
thức của học sinh.
+ Vấn đề thảo luận đòi hỏi sử dụng nhiều kiến thức, kinh nghiệm để
đánh giá, kết luận hoặc sáng tạo ý tưởng mới.
+ Các thành viên cần tôn trọng ý kiến của các thành viên khác khi thảo
luận.
- Ngoài ra GVCN cần học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp và phối hợp
thường xuyên với giáo viên bộ môn để có những phương pháp giáo dục phù
hợp.
Trên đây là những kinh nghiệm thực tế mà tôi đã áp dụng trong quá trình
làm công tác chủ nhiệm lớp. Những hoạt động sinh hoạt tập thể sinh động
trong giờ sinh hoạt lớp thực sự đã đem đến niềm vui và bầu không khí đoàn
kết, vui vẻ cho các em học sinh của tôi sau một tuần học tập và rèn luyện căng
thẳng. Khi các em được thường xuyên giáo dục giáo dục giá trị sống, rèn
luyện kĩ năng sống thì chắc chắn các em luôn có ý thức hướng tới sống đẹp,
sống có ích. Tôi tự nhận thấy những em học sinh thân yêu của tôi trong lớp 10
A1 đã có sự tiến bộ vượt bậc cả về ý thức đạo đức cả về kết quả học tập. Tuy
nhiên sáng kiến kinh nghiệm này của tôi không tránh khỏi những thiếu sót
nhất định. Tôi rất mong có những ý kiến đóng góp, trao đổi từ đồng nghiệp để
Lí
do
chọn
đề
tài................................................................................................1
II/
Phương
pháp
nghiên
cứu..................................................................................2
III/
Đối
tượng
và
mục
đích
lớp
ở
trường.....................................................................................8
III/ Một số biện pháp đã tiến hành để giáo dục giá trị sống và rèn luyện kĩ
năng
sống
ở
lớp
10
A1...................................................................................................9
IV/
Kết
quả
thực
hiện..........................................................................................13
Phần
III: