ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG TRINH
NGHIÊN CỨU ĐIỂM THAM QUAN DI TÍCH LỊCH SỬ
VĂN HÓA TẠI THÀNH PHỐ HUẾ PHỤC VỤ
KHÁCH DU LỊCH
Chuyên ngành: Du lịch
(Chương trình đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRỊNH XUÂN DŨNG
Hà Nội, 2015
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 5
1. Lí do chọn đề tài .............................................................................................. 5
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................... 6
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................... 9
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .................................................................... 9
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 10
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐIỂM THAM QUAN
DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA PHỤC VỤ KHÁCH DU LỊCH ....................... 12
1.1. Khái niệm về di tích lịch sử văn hóa và điểm tham quan du lịch ........... 12
1.1.1. Di tích lịch sử văn hóa (DTLSVH)...................................................... 12
1.1.2. Điểm tham quan di tích lịch sử văn hóa phục vụ du lịch ..................... 14
2.1.2. Về loại hình du lịch tại TP Huế ............................................................ 41
2.1.3. Thực trạng hoạt động du lịch TP Huế .................................................. 41
2.2. Khái quát chung về hệ thống các điểm tham quan DTLSVH tại TP Huế.... 45
2.2.1. Khái quát chung về các điểm tham quan DTLSVH tại TP Huế ............. 45
2.2.2. Khái quát về một số điểm tham quan DTLSVH chủ yếu tại TP Huế .......... 50
2.3. Đóng góp của các điểm tham quan DTLSVH tại TP Huế trong phát
triển du lịch ...................................................................................................... 54
2.4. Thực trạng về khai thác các điểm tham quan DTLSVH tại TP Huế ..... 55
2.4.1. Thực trạng về khai thác điểm tham quan DTLSVH Đại Nội- Huế......... 55
2.4.2. Thực trạng khai thác điểm tham quan DTLSVH tại lăng Minh Mạng và
lăng Tự Đức ................................................................................................. 57
2.5. Biến động lượng khách đến các điểm tham quan Đại Nội, lăng Minh
Mạng và lăng Tự Đức ...................................................................................... 58
2.6. Phân tích kết quả điều tra đánh giá của khách du lịch về các điểm tham
quan DTLSVH tại TP Huế .............................................................................. 59
2.6.1. Thống kê mô tả về thông tin mẫu nghiên cứu........................................ 59
2.6.2. Thống kê mô tả về đặc điểm mẫu nghiên cứu ....................................... 61
2.6.3. Phân tích nhân tố khám phá EFA đối với tất cả các biến quan sát ....... 63
2.6.4. Kiểm định độ tin cậy thang đo .............................................................. 67
2
2.6.5. Kiểm định phân phối chuẩn.................................................................. 68
2.6.6. Kiểm định giá trị trung bình của các yếu tố đánh giá của du khách về
điểm tham quan DTLSVH tại Thành phố Huế. ............................................... 69
2.6.7. Kiểm định sự khác biệt giữa các nhóm khách du lịch khác nhau khi đánh
giá về các DTLSVH tại TP Huế ..................................................................... 83
2.7. Nhận xét chung về các điểm tham quan DTLSVH tại TP Huế .............. 87
Tiểu kết chương 2 .............................................................................................. 89
Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHAI
Di tích lịch sử văn hóa
TP Huế
Thành phố Huế
TT Huế
Thừa Thiên- Huế
TTBTDTCĐ Huế
Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế
Sở VH-TT & DL
Sở Văn hóa- Thể thao và Du lịch
UBND
Ủy ban nhân dân
UNESCO
United Nations Educational, Scientific and Cultural
Organisation-Tổ chức Giáo dục- Khoa học và Văn hóa của
Liên hiệp quốc
GDP
Bảng 2.7
Hệ số Cronbach Alpha của các nhóm biến quan sát
4
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong hoạt động du lịch, điểm tham quan du lịch đóng một vai trò quan trọng
và là một trong những yếu tố không thể thiếu được để thu hút khách, đặc biệt đối
với điểm tham quan DTLSVH, nó không chỉ là một điểm tham quan thuần túy mà
còn là bài học về lịch sử thực tiễn đối với khách.
Huế từ lâu được xác định là một trong những trung tâm du lịch văn hóa quan
trọng của nước ta. Các điểm tham quan DTLSVH ở Huế vừa hội tụ những đặc
trưng, những tinh hoa của văn hóa dân tộc, vừa thể hiện những nét đặc trưng của
một vùng đất giàu truyền thống văn hóa. Tuy nhiên, bên cạnh những thế mạnh và
những thành tựu đã đạt được thì các điểm tham quan ở Huế vẫn còn những tồn tại.
Để các điểm tham quan DTLSVH ở đây phát triển một cách bền vững, thực sự trở
thành một loại hình du lịch văn hóa chuyên đề, một nhân tố quan trọng không chỉ
mang lại sự tăng trưởng của nền kinh tế mà còn phát huy giá trị tinh thần…vv thì vẫn
còn nhiều việc phải làm và nghiên cứu.
Vì vậy việc nghiên cứu điểm tham quan DTLSVH tại thành phố Huế phục
vụ khách du lịch có ý nghĩa cả lý luận và thực tiễn.
Hiện nay đã và đang có rất nhiều công trình nghiên cứu về điểm đến du lịch,
về các DTLSVH…vv nhưng hầu như các công trình hay tài liệu hiện có hoặc chỉ đề
cập đến những vấn đề có tính khái quát, hoặc chỉ nghiên cứu về các DTLS, về chất
lượng thuyết minh viên, về phát triển du lịch bền vững …vv. Ngoài ra, những công
trình nghiên cứu, bài viết của các nước chủ yếu tập trung vào điểm đến nói chung,
các điểm hấp dẫn, hoạt động ở các điểm đến, về chất lượng dịch vụ hay chỉ đơn
lịch” (2013) của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch đã nghiên cứu và đưa ra các tiêu
chí, các chỉ số về bảo vệ môi trường làm công cụ quản lý và đánh giá các điểm tham
quan nhằm góp phần bảo vệ môi trường tự nhiên và xã hội, đưa du lịch Việt Nam
trở thành ngành kinh tế phát triển bền vững.
“Bộ công cụ du lịch có trách nhiệm tại Việt Nam” (2013) do Chương trình phát
triển năng lực có trách nhiệm với môi trường và xã hội (Dự án EU) do Liên minh Châu
Âu tài trợ cũng đã nghiên cứu về các mục tiêu xây dựng năng lực cho các bên liên quan
6
trong ngành du lịch Việt Nam để đạt được toàn diện lợi ích phát triển kinh tế - xã hội từ
du lịch trong khi bảo tồn các nguồn lực về tự nhiên và văn hóa của ngành du lịch.
Đề tài: “Nghiên cứu các giới hạn để phát triển bền vững tại các điểm tham
quan du lịch thuộc quần thể di tích Huế (Việt Nam)” do Ths Hoàng Thị Diệu Thúy
làm chủ nhiệm đề tài. Đề tài đã hệ thống các vấn đề lý luận về các công cụ đánh giá
sự phát triển bền vững, trong đó đặc biệt chú trọng đến giới hạn bền vững và các
phương pháp tiếp cận, đề xuất các chỉ báo và tiêu chuẩn đánh giá để cung cấp một
công cụ hỗ trợ cho việc quản lí, giám sát và lập kế hoạch phát triển bền vững tại các
điểm tham quan du lịch thuộc Quần thể di tích Huế - di sản thế giới tại Việt Nam.
Luận văn Tiến sĩ khoa học về “Tổ chức các hoạt động du lịch tại một số di
tích lịch sử văn hóa quốc gia của Hà Nội theo hướng phát triển bền vững” của TS
Nguyễn Văn Đức. Đề tài đã làm rõ sự kết hợp giữa các đơn vị kinh doanh du lịch
với các đơn vị quản lí di tích lịch sử văn hóa để phát triển các sản phẩm du lịch theo
hướng phát triển bền vững.
Bài viết “Bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa phục vụ phát
triển du lịch thủ đô” của TS. Bùi Thanh Thủy trên Tạp chí nghiên cứu Văn hóa,
trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã xác định: “Phát triển du lịch trên cơ sở khai thác
các di tích là luôn gắn công tác bảo tồn tính đa dạng, gìn giữ các giá trị di tích lịch
sử văn hóa với việc khai thác phục vụ du lịch, hay nói cách khác, phát triển vì mục
các di tích này nhằm phục vụ khách du lịch trong nước cũng như quốc tế.
Trong cuốn “Le tourisme culturel” tái bản lần 3, năm 2005 do Collection
Encyclopédique (fondée par Paul Angoulvent) của Claude Origet du Cluzeau cũng
đã đề cập đến thị trường du lịch văn hóa, các loại hình du lịch văn hóa, vòng đời của
du lịch văn hóa và các trường hợp ngoại lệ của du lịch văn hóa, trong đó có loại
hình tham quan di tích lịch sử, di sản.
Cuốn “Conservation et mise en valeur du patrimoine culturel” của Sylvie
CROGIEZ và Anne - Marie FLAMBARD HERICHER do Đại học Rouen xuất bản
(Publications de l’Université de Rouen), đã tập hợp những bài viết của các tác giả về
bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa dưới những góc độ của các lĩnh vực khác
nhau như kiến trúc, công nghệ, phát huy các giá trị của các bảo tàng với các ví dụ điển
8
hình của Pháp như Le Vieux Château de Vatteville - la Rue (Seine Maritime), Villa du
Cryptoportique à Carthage.
Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến việc nghiên cứu
điểm tham quan DTLSVH tại TP Huế.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích của luận văn là góp phần làm rõ khái niệm điểm tham quan
DTLSVH, đánh giá thực trạng hoạt động của một số điểm tham quan DTLSVH phổ
biến tại thành phố Huế và từ đó đề xuất một số kiến nghị và giải pháp đối với các
điểm tham quan DTLSVH tại thành phố Huế nhằm thu hút khách du lịch đến với
các điểm tham quan DTLSVH, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tại các điểm
tham quan DTLSVH phục vụ khách du lịch.
Để đạt được mục đích trên, đề tài đặt ra những nhiệm vụ sau:
- Thu thập và tổng quan tài liệu về các vấn đề liên quan như tài liệu, công
trình nghiên cứu về điểm tham quan và điểm tham quan DTLS. Thực trạng các
điểm tham quan DTLSVH phổ biến ở thành phố Huế phục vụ khách du lịch.
đã được sử dụng:
Phương pháp thu thập thông tin và xử lí dữ liệu thứ cấp: Các thông tin này
được thu thập từ các công trình nghiên cứu, tài liệu như giáo trình, bài báo của các
tác giả trong và ngoài nước. Những thông tin thực tế liên quan đến các DTLSVH và
các điểm tham quan DTLSVH.
Phương pháp khảo sát thực địa (điền dã): Phương pháp này đã giúp cho
học viên có trải nghiệm thực tế về vấn đề nghiên cứu.
Phương pháp phỏng vấn: Tác giả đã sử dụng phương pháp phỏng vấn để có
được những nhận định khách quan. Tác giả đã tham khảo ý kiến và kinh nghiệm từ
các chuyên gia trong ngành du lịch, TTBTDTCĐ Huế và một số người dân sống
gần điểm tham quan DTLSVH Đại Nôi, Lăng Minh Mạng và Lăng Tự Đức.
Phương pháp điều tra bảng hỏi: là phương pháp được sử dụng để thu thập
thông tin. Đối tượng điều tra là du khách tham quan các điểm tham quan DTLSVH
Đại Nội, Lăng Minh Mạng và Lăng Tự Đức. Với số phiếu điều tra phát ra là 190
phiếu, số phiếu điều tra thu về là 186 phiếu và có 4 phiếu do khách hàng đánh còn
thiếu thông tin và không hợp lệ nên không được sử dụng.
10
Các số liệu thu thập được xử lý trên phần mềm phân tích thống kê trong
nghiên cứu khoa học xã hội phiên bản 16 (SPSS 16.0).
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung
chính của luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1. Một số vấn đề lí luận cơ bản về điểm tham quan di tích lịch sử
phục vụ khách du lịch.
Chương 2. Thực trạng các điểm tham quan di tích lịch sử tại thành phố Huế.
Chương 3. Một số kiến nghị và giải pháp đối với các điểm tham quan di tích
lịch sử văn hóa tại thành phố Huế nhằm phát huy các điểm tham quan DTLSVH ,
thu hút khách du lịch đến với các điểm tham quan DTLSVH, góp phần nâng cao
hiệu quả hoạt động tại các điểm tham quan DTLSVH phục vụ khách du lịch.
Nam khóa XII, kì họp thứ 5 thông qua ngày 18 tháng 5 năm 2009: “Di tích lịch sử văn
hóa là:
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu
12
của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kì lịch sử
- Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu
- Công trình kiến trúc nghệ thuật , quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô
thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển
kiến trúc, nghệ thuật.
- Danh lam thắng cảnh là:
+ Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên
nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mĩ tiêu biểu
+ Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lí, đa
dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những dấu
tích vật chất về các giai đoạn phát triển của trái đất.” [31]
Và theo công ước về việc bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới của
UNESCO (1971): “Di sản văn hóa là:
1. Các di tích: Các công trình kiến trúc, điêu khắc hoặc hội họa hoành tráng, các
yếu tố hay kết cấu có tính chất khảo cổ học, các văn bản, các hang động và các nhóm
yếu tố có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học
2. Các quần thể: các nhóm công trình xây dựng đứng một mình hoặc quần tụ,
có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học, do kiến
trúc, sự thống nhất của chúng hoặc sự nhất thể hóa của chúng vào cảnh quan;
3. Các thắng cảnh: các công trình của con người hoặc những công trình của
con người kết hợp với công trình của tự nhiên, cũng như các khu vực, kể cả các di
chỉ khảo cổ học, có một giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, thẩm mĩ,
dân tộc học hoặc nhân chủng học.” [11]
Qua những khái niệm trên về DTLSVH, ta có thể rút ra đặc điểm chung của
nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội tại điểm đến du lich.
Trong lý luận, rất ít công trình nghiên cứu về vấn đề này mà chủ yếu các
công trinh chủ yếu tập trung vào điểm đến du lịch và sản phẩm du lịch.
Theo Luật Du lịch năm 2005, đã xác định:
“Tham quan là hoạt động của khách du lịch trong ngày tới thăm nơi có tài nguyên
du lịch với mục đích tìm hiểu, thưởng thức những giá trị của tài nguyên du lịch”.
[26]
Tuy nhiên, trong Luật Du lịch không đưa ra khái niệm về điểm tham quan
14
mà chỉ nêu khái niệm về điểm du lịch:
“Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham
quan của khách du lịch”. [26]
Luật Du lịch cũng xác định: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên,
yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người
và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là
yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du
lịch” [26]
Theo Luật Du lịch: “Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài
nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác”
Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí
hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục
đích du lịch.
Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa,
văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao
động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể
được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”. [26]
phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch.
1.2. Phân loại di tích lịch sử văn hóa
Điểm tham quan được phân thành nhiều loại hình khác nhau trong đó có
điểm tham quan di tích lịch sử văn hóa. Tuy nhiên, đối với loại hình di tích lịch sử
văn hóa cũng được chia ra làm nhiều loại. Việc phân loại các di tích lịch sử văn hóa
thành từng nhóm cũng phải tuân thủ các tiêu chí khoa học chặt chẽ, trước hết để
tránh nhầm lẫn, nhất là trong khi khai thác du lịch góp phần quảng bá truyền thống
văn hóa - lịch sử của quốc gia, cũng như của từng địa phương, đồng thời góp phần
bảo trì, bảo tồn và phát huy các giá trị của di tích lịch sử văn hóa của di sản. Mặt
khác phân loại di tích lịch sử văn hóa, phân loại di sản còn để tìm ra phương án tối
ưu nhất trong quá trình tu bổ, trùng tu tránh gây tổn hại không đáng có đối với di
tích lịch sử, di sản đó.
Căn cứ Điều 4, Luật di sản văn hóa, Điều 14, nghị định số 92/2002/NĐ-CP
ngày 11/11/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di
16
sản văn hóa, các di tích lịch sử đã được phân loại như sau:
Di tích lịch sử - văn hóa
Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật,
bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.
Di tích lịch sử - văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây:
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá
trình dựng nước và giữ nước.
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng
dân tộc, danh nhân của đất nước.
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các
thời kỳ cách mạng, kháng chiến.
Di tích kiến trúc nghệ thuật
1.3. Những đặc điểm cơ bản của di tích lịch sử văn hóa
DTLSVH là tài sản vô giá của đất nước, của dân tộc, là những chứng tích vật
chất phản ánh sâu sắc nhất về đặc trưng văn hóa, về cội nguồn, về truyền thống dân
tộc… đồng thời là một bộ phận cấu thành kho tàng di sản văn hóa nhân loại. Ở đó
còn ẩn chứa rất nhiều thông tin của nhiều lĩnh vực khác nhau mà các nguồn thông
tin trên các loại hình sử liệu khác không có và không thể có được. DTLSVH giúp
con người biết được cội nguồn của dân tộc mình, hiểu rõ hơn về truyền thống lịch
sử, về đặc trưng văn hóa của đất nước và từ đó sẽ có tác động ngược trở lại tới việc
hình thành nhân cách con người. Việc khai thác và sử dụng văn hóa là cơ sở để có
thể sử dụng khai thác du lịch, góp phần quảng bá truyền thống văn hóa - lịch sử của
quốc gia, cũng như của từng địa phương, đồng thời góp phần bảo trì, bảo tồn và
phát huy các giá trị của DTLS, của di sản đạt được hiệu quả bền vững.
DTLSVH có những đặc điểm chung của tài nguyên du lịch nhân văn, tuy
nhiên nó vẫn có một số đặc điểm riêng như:
- DTLSVH phản ánh trung thực quá trình phát triển lịch sử, kinh tế, xã hội
của mỗi dân tộc, mỗi địa phương;
- DTLSVH phản ánh tính đa dạng về văn hóa của các dân tộc, là những
bằng chứng vật chất có ý nghĩa quan trọng, minh chứng về lịch sử đấu tranh dựng
nước và giữ nước của dân tộc;
18
- Các DTLSVH luôn tồn tại và bao gồm hai mặt giá trị tiêu biểu: giá trị văn
hóa vật thể và giá trị văn hóa phi vật thể. Ở Việt Nam, di sản văn hóa vật thể và phi
vật thể được coi là hai bộ phận hữu cơ cấu thành kho tàng di sản văn hóa dân tộc.
Chúng luôn gắn bó mật thiết, có tác động tương hỗ và tôn vinh lẫn nhau, nhưng vẫn
có tính độc lập tương đối:
+ Di sản văn hóa vật thể: là cái hữu hình, tồn tại dưới dạng vật chất, chứa
đựng những hồi ức sống động của loài người, là bằng chứng vật chất của các nền
văn hóa, văn minh nhân loại.
giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của Di sản văn hóa
nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân
ta”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII
đã xác định 10 nhiệm vụ về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc. Trong đó nhiệm vụ thứ tư là bảo tồn và phát huy các di sản
văn hóa. Nghị quyết đã chỉ rõ nội dung của nhiệm vụ này như sau: “Di sản văn hóa
là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để
sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa. Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa,
phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách
mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể…” [25]
- Sự quản lí của nhà nước : các cơ chế chính sách phát triển du lịch được bổ
sung, đổi mới và ngày một hoàn thiện hơn, phù hợp với điều kiện và xu hướng phát
triển du lịch thế giới.
1.4. Giá trị của di tích lịch sử văn hóa đối với điểm tham quan du lịch
DTLSVH là tài sản văn hóa. Khai thác các DTLSVH phục vụ du lịch sẽ góp
phần bảo tồn, tôn tạo di tích. Các giá trị lịch sử, văn hóa trong di tích trở thành hàng
hóa đặc biệt phục vụ nhu cầu khách tham quan, chúng không mất đi mà có dịp để
bảo tồn, gìn giữ. Phong tục, tập quán, sự kiện lịch sử sẽ được sống lại, tái hiện lại
khi khai thác phục vụ du lịch.
Các giá trị cụ thể của DTLSVH đối với hoạt động du lịch nói chung và với
điểm tham quan nói riêng gồm: giá trị lịch sử, giá trị văn hóa, giá trị khoa học, giá
trị kiến trúc nghệ thuật và giá trị giáo dục.
- Giá trị lịch sử của di tích: là giá trị gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu
20
biểu của quốc gia hoặc của địa phương, gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng
dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của
quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kì lịch sử.
góp phần làm tốt công tác bảo tồn. Hơn nữa, việc phát huy tốt giá trị của các
DTLSVH còn mang lại một lợi nhuận vô giá về mặt tinh thần, bởi thông qua việc
hiểu biết về các DTLSVH, các di sản văn hóa sẽ có tác động trực tiếp tới phương diện
giáo dục, giúp vun đắp tình cảm cho mỗi cá nhân và cộng đồng. Hoạt động du lịch
chính là con đường đưa khách tham quan đến với các DTLSVH, làm cho DTLSVH
có giá trị đúng với chính nó, làm cho di tích có hồn và sống lại với thời gian. Du lịch
trở thành phương tiện để truyền tải và trình diễn các giá trị văn hóa của địa phương,
dân tộc để mọi khách du lịch trong nước và quốc tế khám phá, chiêm ngưỡng, học tập
và thưởng thức.
Ngoài ra các DTLSVH còn có thể có các giá trị về đa dạng sinh học, các giá
trị về hệ sinh thái, các giá trị về địa chất, địa mạo…vv. [ 11]
Với những đặc điểm và giá trị như trên, ta có thể thấy rằng các DTLSVH là
bộ phận đặc biệt trong cơ cấu "tài nguyên du lịch". Các DTLSVH đó, cả về mặt nội
dung lẫn hình thức, đều có khả năng tạo nên sức hấp dẫn mạnh mẽ.
Vậy có thể khẳng định rằng điểm tham quan DTLSVH là một trong những
bộ phận cấu thành của các chương trình du lịch, thuộc loại hình du lịch văn hóa
lịch sử, và riêng Huế thì nó còn thuộc loại hình du lịch di sản, một kiểu của du lịch
văn hóa.
1.5. Nhu cầu và hành vi tiêu dùng của du khách tại các điểm tham quan di
tích lịch sử văn hóa
“Nhu cầu du lịch là là một loại nhu cầu đặc biệt và tổng hợp của con người,
được hình thành và phát triển trên nền tảng nhu cầu sinh lý (sự đi lại) và nhu cầu
tinh thần (nghỉ ngơi, tự khẳng định nhận thức, giao tiếp).”
“Hành vi tiêu dùng của khách du lịch (tourism consumer) là những hành vi
liên quan đến quá trình tiêu dùng du lịch, nó được biểu hiện trong việc: tìm kiếm,
mua, sử dụng và đánh giá các sản phẩm dịch vụ du lịch nhằm thoả mãn các nhu cầu
nào đó của khách du lịch (chủ yếu là thoả mãn nhu cầu du lịch). [24]
22
23
thay đổi. Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng của khách du lịch
như: kinh tế, văn hóa, độ tuổi, giá cả, mẫu mã sản phẩm…vv. Vì vậy các đơn vị tổ
chức những hoạt động tham quan du lịch tại các điểm tham quan DTLSVH cần nắm
rõ hành vi tiêu dùng của du khách để từ đó có thể định hướng trong việc tổ chức,
cung cấp các dịch vụ, các hoạt động phù hợp với đối tượng khách để du khách có
được những trải nghiệm tốt nhất tại các điểm tham quan. [24]
1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến điểm tham quan DTLSVH
1.6.1. Cơ sở hạ tầng (CSHT)
CSHT là động lực chính thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và thu hút đầu tư.
Hệ thống CSHT bao gồm nhiều thành tố nhưng để phát triển hoạt động du lịch thì
điều kiện tiên quyết cần có là hệ thống giao thông. Bên cạnh đó, các yếu tố khác
như hệ thống thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, cấp - thoát nước cũng giữ vai
trò quan trọng
Xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, trong nhiều năm trở lại đây, ngân
sách Trung ương và các địa phương có các điểm tham quan du lịch đã bỏ ra một
khoản vốn không nhỏ để đầu tư nâng cấp và hoàn thiện CSHT. Điều này có thể thấy
rõ khi diện mạo du lịch của các tỉnh, thành trên cả nước đang thay đổi từng ngày theo
hướng tích cực. Bên cạnh đó, các tỉnh, thành phố cũng đang kêu gọi nhiều dự án lớn
trong lĩnh vực du lịch để hướng tới những sản phẩm chuyên nghiệp hơn.
Có thể nói, việc thực hiện, sử dụng nguồn vốn đầu tư CSHT nói chung và
cho ngành du lịch nói riêng thời gian qua đã có tác động lớn, làm thay đổi diện mạo
của ngành này. Ước tính trong những năm gần đây, hàng nghìn tỷ đồng từ ngân
sách đã được hiện thực hóa bằng những công trình, dự án hạ tầng trên địa bàn qua
đó góp phần tích cực vào việc thúc đẩy đầu tư, cải thiện CSHT du lịch của địa
phương. Trong đó phải kể đến việc nâng cấp, hoàn thiện nhiều tuyến đường (quy
mô quốc gia và địa phương) giúp du khách tiếp cận với các địa điểm tham quan du