Đặc điểm lời thoại nhân vật người chiến sỹ trong truyện ngắn lê lựu - Pdf 32

Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học Vinh
Khoa ngữ văn
************

Nguyễn ngọc dũng

Đặc điểm ngôn ngữ hội thoại
nhân vật ngời chiến sĩ trong
truyện ngắn lê lựu

Luận văn tốt nghiệp

Giáo viên hớng dẫn: PGS - TS Đỗ Thị Kim Liên

Vinh, 2003
1


Lời cảm ơn
Để hoàn thành khoá luận này, chúng tôi đã nhận đợc sự hớng dẫn tận
tình, chu đáo của PGS TS Đỗ Thị Kim Liên, sự đóng góp ý kiến quý báu của
các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Ngôn ngữ, trong Khoa Ngữ Văn Tr ờng Đại
học Vinh cũng nh sự động viên, giúp đỡ của ngời thân, bè bạn...Nhân dịp này,
chúng tôi xin đợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy cô và toàn thể các bạn!
Vinh ngày 25/3/2003.

2


Mở đầu

Lê Lựu đã là cây bút viết văn kỳ cựu Đến truyện này, văn Lê Lựu đã có
mùi tiểu thuyết. Ngời đọc biết anh là nhà tiểu thuyết có tài (7, 77). Những
năm 80, khi tiếng súng chiến tranh đã lắng xuống cũng là lúc cuốn tiểu thuyết
đầu tay của Lê Lựu Thời xa vắng ra đời và sớm gây đợc tiếng vang.
Truyện ghi lại một chặng đờng lịch sử oai hùng của dân tộc ta, xoay quanh cuộc
đời và số phận của nhân vật chính Giang Minh Sài Sau Thời xa vắng, Lê Lựu
còn viết tiếp một số bút kí, kí sự, truyện ngắn, tiểu thuyết Thành công của ông
đợc ghi dấu bằng một số giải thởng và sự tiếp nhận say mê của quảng đại quần
chúng.
Tuy nhiên có thể nói, cho đến nay việc tìm hiểu, nghiên cứu truyện ngắn
Lê Lựu nói chung và ngôn ngữ nhân vật trong truyện ngắn Lê Lựu nói riêng cha
đợc các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều. Nói điều đó không có nghĩa là phủ nhận
vai trò của ông đối với nền văn học nớc ta thời kì kháng chiến chống Mĩ mà bởi
vì trong những năm chiến tranh, cả dân tộc ta đang gồng mình đánh Mĩ, chúng ta
cha có nhiều thời gian cho việc nghiên cứu sâu về ông.
Năm 1967 1968, trong cuộc thi Truyện ngắn hay trên báo Văn nghệ,
nhà văn Lê Lựu đã giành đợc giải nhì với tác phẩm Ngời cầm súng, truyện đợc
đông đảo độc giả và những nhà phê bình đánh giá khá cao.
Tạp chí văn học số 2/1980 có đăng bài của Bích Thu: Về sáng tác của Lê
Lựu. Trong bài viết của mình, Bích Thu đã đề cập tới vấn đề đề tài, chất lãng
mạn và hiện thực, hình tợng nhân vật trong sáng tác của Lê LựuChị khẳng
định: Trong công cuộc chống Mĩ cứu nớc, ngời chiến sĩ đã trở thành trung tâm
trong các sáng tác văn học. ở tác phẩm của mình, Lê Lựu đã chung đúc hình
ảnh ngời chiến sĩ thành biểu tợng ngời cầm súng(13, 78) . Nh vậy, có thể nói,
việc xây dựng chân dung nhân vật ngời chiến sĩ trong truyện ngắn đã trở thành
một đề tài hấp dẫn, đợc nhiều nhà văn quan tâm, trong đó có nhà văn quân đội
Lê Lựu.
Tác giả Nguyễn Văn Lu trong bài viết Nhu cầu nhận thức lại thực tại
qua một Thời xa vắng, ở tạp chí văn học số 5/1987, lại bàn về cuốn tiểu thuyết
4

- Rút ra những kết luận về chân dung ngời chiến sĩ trong truyện ngắn của
Lê Lựu nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu truyện ngắn Lê Lựu nói riêng, truyện
ngắn nói chung.
5


IV. Phơng pháp nghiên cứu.
Để tiến hành nghiên cứu đề tài Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật ngời chiến sĩ
trong truyện ngắn Lê Lựu, chúng tôi sử dụng các phơng pháp sau đây:
1. Phơng pháp thống kê, phân loại.
Chúng tôi đi vào khảo sát tất cả những truyện ngắn đã chọn lọc (9 truyện),
thống kê các lời song thoại của nhân vật ngời chiến sĩ, từ đó tách chọn, phân loại
theo đặc điểm cấu tạo và đặc điểm ngữ nghĩa lời thoại.
2. Phơng pháp miêu tả, phân tích.
Trên cơ sở của sự thống kê, phân loại đã tiến hành, chúng tôi đi vào miêu
tả, phân tích đặc điểm cấu tạo và đặc điểm ngữ nghĩa lời thoại nhân vật ngời
chiến sĩ.
3. Phơng pháp so sánh, đối chiếu.
Từ sự miêu tả, phân tích nói trên, chúng tôi so sánh đặc điểm ngôn ngữ
nhân vật ngời chiến sĩ trong truyện ngắn Lê Lựu với truyện của các tác giả ở
cùng thời kì, viết cùng đề tài.
4. Phơng pháp tổng hợp.
Những kết quả thu đợc bởi các phơng pháp nghiên cứu nói trên là cơ sở để
chúng tôi đi đến kết luận có tính tổng hợp, khái quát về đặc điểm ngôn ngữ nhân
vật gắn với việc xây dựng hình tợng ngời chiến sĩ trong truyện ngắn Lê Lựu.
V. Cái mới của đề tài.
Đề tài đi sâu nghiên cứu ngôn ngữ nhân vật ngời chiến sĩ ở dạng song
thoại trên lí thuyết về ngữ dụng học kết hợp với kiến thức khoa học liên ngành
nh phong cách học, văn bản học, lí luận văn học... Từ đó chỉ ra đặc trng ngôn
ngữ nhân vật ngời chiến sĩ trong truyện ngắn Lê Lựu; đóng góp của nhà văn

7


1.2. Ngôn ngữ nhân vật.
1.2.1. Khái niệm ngôn ngữ nhân vật.
Trong tác phẩm văn học, nhân vật đợc nhà văn xây dựng từ nhiều góc độ,
nhiều phơng diện khác nhau nh ngoại hình, hành động, ngôn ngữ... Trong đó
ngôn ngữ là một phơng diện bộc lộ một cách tinh tế, trực tiếp về đặc điểm tâm
lý, tính cách, nhận thức của nhân vật.
Ngôn ngữ nhân vật chính là lời nói trực tiếp của nhân vật trong tác phẩm
văn học đợc biểu đạt bằng các tín hiệu ngôn ngữ nhằm mục đích thể hiện một
cách sinh động tính cách và đặc điểm nhân vật.
ở đây, chúng ta cần có một cách hiểu toàn diện về cái gọi là lời nói của
nhân vật. Lý thuyết ngữ dụng học đã chỉ ra rằng lời nói của nhân vật trong tác
phẩm văn chơng không đơn thuần là lời chúng ta nghe đợc mà còn là những
suy nghĩ, những lời độc thoại nội tâm của nhân vật. Chính vì vậy mà biểu hiện
hình thức của ngôn ngữ nhân vật là rất đa dạng, phong phú.
1.2.2. Các dạng hội thoại trong truyện ngắn Lê Lựu.
Trong thực tế giao tiếp, ta thờng bắt gặp các dạng thoại cơ bản sau: song
thoại, tam thoại, đa thoại, đơn thoại. Các dạng thức hội thoại này đều xuất hiện
trong ngôn ngữ giao tiếp của nhân vật trong truyện ngắn Lê Lựu.
a) Song thoại là dạng hội thoại diễn ra giữa hai nhân vật giao tiếp, gồm
lời trao, lời đáp và sự tơng tác.
Ví dụ:
- Gì vậy?
- Có lẽ phía nào đấy bị lộ, bọn địch đang kéo xuống.
- Nó biết mình ra khỏi đồi tranh rồi cũng nên.
- Biết mà nó để mình nằm đây từ sáng đến giờ à.
(Chuyện kể từ đêm trớc, 165).
Lý thuyết hội thoại quan tâm nhiều nhất đến đến dạng song thoại, bởi đây

- Có thể đợc đấy.
Những tiếng khác lao xao :
- Thế thử làm xem các bác.
- Bây giờ chị Lâm để chúng em lặn.

9


- Mình đã biết chỗ nào cần lóc bùn ra, để mình đi. Một cậu nữa đi với
mình. Các cậu ở lại kéo, cố lên xem có chuyển không nhá.
(Phía mặt trời, 116).
d) Đơn thoại là lời thoại của một nhân vật phát ra hớng đến ngời nghe nhng không có lời đáp mà ngời nghe chỉ đáp lại bằng hành động, bằng sự tiếp nhận
một cách im lặng. Trong truyện ngắn Lê Lựu, dạng thoại này xuất hiện chủ yếu
ở kiểu cấu trúc mệnh lệnh, sai khiến.
Ví dụ:
- Xung phong... ong... ong! Xung... ph... ong!
(Chính trị viên và chiến sĩ mới, 180).
- 34, chiếc thứ ba, tốp phải, tốc độ... bổ nhào... bắn... ắn...
(Ngời cầm súng, 336).
e) Độc thoại là suy nghĩ bên trong, không thành lời của nhân vật. Nó là
kết quả sự suy t nội tâm của nhân vật về một vấn đề gì đó. Trong Tết làng Mụa
của Lê Lựu, nhân vật Tỉnh khi chứng kiến những việc làm, những hành động của
Minh đã nói thầm với chính mình:
Anh Minh ạ, tôi hiểu rồi. Tuy bố chúng nó đang bị sai khiến đi cớp Tết
của ngời khác, nhng dù sao chúng cũng là con nhà nghèo. Lũ trẻ đó cũng muốn
có một cái Tết.
(Tết làng Mụa, 18).
Các dạng thoại nói trên không chỉ đợc biểu hiện một cách độc lập, tách rời
nhau mà có khi chúng đồng thời xuất hiện, tồn tại trong một cuộc thoại. Ban đầu
chỉ là lời song thoại, sau đó là tam thoại, đa thoại xen lẫn độc thoại...

lam lũ, khó nhọc từ ngày còn bé:
- Tớ... tớ... còn phải...
- Mình thấy những đứa trẻ...
- Tỉnh ạ, các đồng chí ở địa phơng bảo đây cũng là nhà nghèo. Thôi cậu
cứ đi, báo cáo là chúng mình đã chuẩn bị xong, sẵn sàng chờ lệnh...
- Nó là trẻ... cũng lại đến ngày Tết.
(Tết làng Mụa, 15 - 16).
Hoàng, chàng sinh viên trẻ tuổi, tính tình xốc nổi, vừa có lòng dũng cảm,
nhiệt tình của tuổi trẻ, vừa có những hành động, lời nói rất đáng yêu, trẻ con:
11


- Quê bạn ở đâu, tỉnh Bắc à? Thế thì sát quê mình. Bạn học lớp mấy?
- Còn năm nữa mới tốt nghiệp phổ thông.
- Thế hả? Mình là Hoàng sinh viên s phạm năm thứ 3. Bạn có định học gì
mình giúp!
- Thật không. Những hôm lên chốt em vẫn học đấy. Anh giúp em nhá...
- Nói thật với ông bạn là mình vào chiến dịch này chỉ có một nguyện vọng
là đợc đánh địch bằng hoả lực mạnh. Bạn xem bê nào có đại liên hoặc cối thì đề
nghị cho mình về đấy!
- Thế thì đợc ngay, em đa anh lên chốt bê ba nhé! ...
(Chính trị viên và chiến sĩ mới, 183 - 184).
ở cuộc đối thoại trên, nhân vật Hoàng vì muốn đợc đánh địch bằng hoả
lực mạnh đã nghĩ ra một cuộc trao đổi ngầm rất đáng yêu với chiến sĩ liên lạc,
Hoàng sẽ dạy học cho cậu ta và bù lại cậu ta sẽ xin thủ trởng cho Hoàng đợc
chiến đấu bằng hoả lực mạnh.
Cả hai nhân vật, hai con ngời Minh và Hoàng đều có những nét cá tính
riêng biệt thể hiện qua ngôn ngữ từng ngời nhng ở họ đều có một điểm chung,
điển hình cho ngời chiến sĩ cách mạng Việt Nam là dũng cảm, sẵn sàng hi sinh
cho sự nghiệp chung của Tổ quốc.

c) Chức năng làm phong phú cho giọng điệu tác phẩm.
Đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết và truyện ngắn hiện đại là tính chất đa
thanh, đa giọng. Tính chất này quy định sự phản ánh một hiện thực cuộc sống đa
dạng, phức tạp, nhiều biến cố... trong thời đại cách mạng nhiều khó khăn của đất
nớc ta. Ngôn ngữ nhân vật đã góp phần tích cực trong việc làm phong phú thêm
cho giọng điệu tác phẩm. Một tác phẩm văn học nếu chỉ chứa trong nó giọng
trần thuật của tác giả sẽ khó có thể tạo đợc tiếng vang. Nó phải là sự kết hợp
một cách hài hoà giữa nhiều kiểu giọng điệu, nhiều cung bậc khác nhau... Trên
cơ sở đó độc giả sẽ tiếp nhận đợc tác phẩm văn học từ nhiều góc độ. Trong
Chuyện kể từ đêm trớc, Lê Lựu viết:
- Anh cùng tiểu đội với anh Chung à? Ôi, thích quá nhỉ Tôi reo khe
khẽ. Anh khóc. Không hiểu vì sao trông con ngời sắt lại, lì lì hơn tôi đến năm
sáu tuổi kia lại dễ khóc thế. Khóc một lúc rồi thấy phải tự kìm nén lại, anh đa
cánh tay trái (cánh tay còn lành) chùi nớc mắt. Lại nằm im, anh nằm nh thế vừa
để dễ thở vừa để sự xúc động trong mình vơi xuống mới nói:
13


- Nó đa nhật kí cho mình Ngắt một quãng. Tôi chăm chú chờ. Anh
không nhìn tôi tiếp: - Nó dặn mình đọc và nếu có làm sao thì đ a cho ngời nào
thân thiết nhất giữ, đợi khi nó trở về. Mình đa cho đồng chí.
Tôi thấy bàng hoàng, máu chạy giần giật khắp ngời, muốn ôm choàng lấy
anh.
(Chuyện kể từ đêm trớc, 151).
Câu chuyện về ngời chiến sĩ anh dũng Lu Hoài Chung đợc tác giả khắc
hoạ thông qua nghệ thuật viết văn đầy tài năng... Viết về anh, Lê Lựu không đơn
thuần sử dụng ngôn ngữ trần thuật, miêu tả mà đó còn là sự đan xen của hàng
loạt lời thoại của một số nhân vật khác, là sự cảm nhận chân thành về tấm g ơng
một con ngời đã sống vì nghĩa lớn... Chính sự kết hợp hài hoà ấy đã tạo đợc ở tác
phẩm của nhà văn này nhiều kiểu giọng điệu phong phú, trữ tình có, tự sự

e) Chức năng bộc lộ phong cách ngôn ngữ của nhà văn.
Ngoài các chức năng đã kể ra ở trên, ngôn ngữ nhân vật bao giờ cũng gắn
với phong cách của từng nhà văn. Mặc dù trong sáng tạo văn chơng, ngời nghệ sĩ
phải tôn trọng quy luật khách quan nhng không vì thế mà cá tính chủ quan,
phong cách cá nhân của họ bị khuất lấp. Nghĩa là trong quá trình sáng tạo ra lời
nói của nhân vật trong tác phẩm văn chơng, ở trong những điều kiện, hoàn cảnh
nhất định của sự vận động, phát triển cốt truyện, nhà văn phải để cho nhân vật
của mình nói nh thế nhng đằng sau những lời nói ấy chắc chắn chứa đựng yếu tố
chủ quan, cá tính sáng tạo của nhà văn. Chúng ta từng biết đến Nguyễn Huy
Thiệp với ngôn ngữ hội thoại của nhân vật đầy tính góc cạnh, đa nghĩa, phản ánh
đợc thực tại cuộc sống chứa chất nhiều quẫn tắc, mâu thuẫn... Đi vào tìm hiểu
đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong truyện ngắn Lê Lựu, chúng ta cũng nhận ra đợc phong cách riêng của ông.
Ngôn ngữ nhân vật có nhiều chức năng khác nhau, khảo sát đặc điểm
ngôn ngữ nhân vật ngời chiến sĩ trong truyện ngắn Lê Lựu không thể không
quan tâm đến những chức năng ấy, đặc biệt là chức năng cá thể hoá tính cách
nhân vật. Nắm đợc chức năng này, chúng ta sẽ có thêm cơ sở để đi đến kết luận
về chân dung ngời chiến sĩ qua đặc điểm ngôn ngữ hội thoại.
1.3. Ngữ cảnh.
1.3.1. Khái niệm ngữ cảnh.
Xung quanh khái niệm ngữ cảnh có nhiều cách hiểu không đồng nhất:
15


Từ điển tiếng Việt định nghĩa: Ngữ cảnh là tổng thể nói chung những
đơn vị đứng trớc và đứng sau một đơn vị ngôn ngữ đang xét, quy định ý nghĩa và
giá trị cụ thể của đơn vị đó trong chuỗi lời nói (18, 673).
Cách hiểu trên đây xem xét ngữ cảnh theo nghĩa hẹp. Tác giả Trần Thị
Thìn lại đa ra cách hiểu theo nghĩa rộng ngữ cảnh bao gồm:
- Bối cảnh không gian, thời gian.
- Quan hệ giữa các chủ thể đối thoại, trạng thái tâm lí của họ, những tri

Trong 9 truyện ngắn của Lê Lựu mà chúng tôi đã khảo sát thì không gian
hội thoại của nhân vật đều gắn với bối cảnh cuộc chiến tranh chống Mĩ của dân
tộc ta. Không gian ấy bao gồm không gian rộng và không gian hẹp.
Không gian rộng là không gian chiến trờng và không gian đồng quê.
Chiến tranh là lúc con ngời thể hiện rõ nhất bản thân mình. Trong truyện ngắn
Lê Lựu, những ngời chiến sĩ của ta dù ở tiền tuyến hay hậu phơng, đều hớng đến
cuộc kháng chiến ác liệt nhng hào hùng của dân tộc ta. Trên chiến trờng, họ thể
hiện đợc bản lĩnh dũng cảm, kiên cờng, bất khuất; ở thôn quê, họ hăng hái ra sức
thi đua sản xuất phục vụ tiền tuyến... Đó là các nhân vật Minh và Tỉnh trong Tết
làng Mụa, Yên trong Trong làng nhỏ, cha con Mai Hữu trong Chuyện kể từ
đêm trớc, Hoàng trong Chính trị viên và chiến sĩ mới, Tiên trong Ngời cầm
súng, Chung và Lâm trong Phía mặt trời, Lê Văn trong Ngời về đồng cói...
Tóm lại, họ là những con ngời luôn ở trong t thế sẵn sàng hi sinh cho độc lập, tự
do của dân tộc. Lời nói của họ là lời của những tấm lòng quyết tử cho Tổ quốc
quyết sinh.
Không gian hẹp, không gian gắn với mỗi phát ngôn cụ thể trong truyện
ngắn Lê Lựu thờng là không gian gia đình, không gian của từng bờ ruộng, sân
phơi hợp tác xã, không gian của từng trại lán đóng quân của từng đơn vị bộ đội,
không gian của trận địa pháo, không gian của những cuộc hành quân... Nghĩa là
gắn với công cuộc đấu tranh giữ nớc của dân tộc ta, của tinh thần quyết chiến
quyết thắng thì không gian hẹp trong truyện ngắn Lê Lựu vẫn chủ yếu là không
gian của cả tập thể yêu nớc anh hùng. Từng không gian cụ thể ấy chi phối rất rõ
nét ngôn ngữ nhân vật.
Nhân vật Minh (Tết làng Mụa) trong không gian của trận đánh bốt Phơng ác liệt, trong bối cảnh làng Mụa đang chờ tin thắng của các anh để cùng
nhau đón Tết... khi sắp hi sinh, đã nói những lời đầy xúc động:
- Cậu về ăn Tết... với bà cụ... Nhớ bảo mình đi công tác... ác...
17


(Tết làng Mụa, 26).


- Chết chết bà ơi! Con phải họp ngay bây giờ. Gay lắm! Nhân lực rút đi
mà kế hoạch giao đay lại sớm hơn một tuần. Phải bàn găng mới ra đợc (...)Còn bàn giao bao nhiêu công việc nữa. Mình không làm hẳn hoi các ông ấy
hoãn lại rầy rà lắm!
(Trong làng nhỏ, 61).
- Mấy hôn nay đã khá hơn nhng vẫn còn ùn. Chúng tôi định chẻ cả đêm.
(Ngời về đồng cói, 259).
Chiến sĩ ngoài mặt trận vẫn lạc quan, tin tởng ở chính mình và đồng đội
của mình trong những tháng ngày gian nan, ác liệt nhất:
- ... Có thể còn hơn nữa. Anh bạn bảo chúng ta có vợt đợc không?
- Nhất định chứ ạ.
- Đợc. Đợc. Hôm nay ta ra khỏi đồi tranh là quyết tâm lớn lắm. Nh thế đã
có kinh nghiệm. Chắc là đợc. ừ đợc. Cố gắng lên.
(Chuyện kể từ đêm trớc, 140).
Thời gian trong truyện ngắn Lê Lựu thể hiện qua ngôn ngữ nhân vật có khi
là thời gian hồi tởng:
- Quá tra hôm qua mình bị thơng, nó lên chỉ huy. Thằng cha mần tiểu đội
thì vững lắm, mình rất tin đồng chí ạ. Đến hồi đêm anh em cõng mình đi nó bảo:
Anh cố gắng chịu đựng, rút ra an toàn. Chà, nó tình cảm lắm...
(Chính trị viên và chiến sĩ mới, 159 - 160).
Có thể thấy, dù là ở những thời gian, thời điểm cụ thể nào, ngay cả những
khi gay go, ác liệt nhất thì trong ngôn ngữ của những ngời chiến sĩ vẫn toát lên
sức sống, tinh thần của dân tộc Việt Nam dân tộc anh hùng!
Ngữ cảnh là một nhân tố chi phối rõ nét ngôn ngữ nhân vật. Khảo sát
truyện ngắn Lê Lựu, chúng tôi nhận thấy thời gian và không gian của cuộc chiến
tranh ái quốc luôn xuất hiện cạnh nhau, làm nền cho lời thoại nhân vật... Trong
sự chi phối có tính thống nhất biện chứng ấy, nhân vật ngời chiến sĩ trong truyện
ngắn Lê Lựu đã toát lộ những vẻ đẹp giản dị mà phi thờng của một thời đại vẻ
vang lịch sử.


thông qua việc khảo sát lời thoại sử dụng từ ngữ gắn với nghề lính, chúng ta sẽ
khám phá ra đợc bề sâu tâm hồn, tính cách của họ...
Theo thống kê, trong tổng số 508 phiếu lời thoại nhân vật, có 157 phiếu sử
dụng từ gắn với nghề lính chiếm tỉ lệ gần 30%. Hệ thống từ ngữ kiểu này
rất đa dạng về mặt từ loại, bao gồm cả danh từ, động từ, tính từ. Phần đa chúng là
những từ thực góp phần miêu tả diện mạo, hình thức, tính cách, phẩm chất, hoạt
động của ngời lính. Qua khảo sát, chúng tôi đã thống kê đợc số từ xuất hiện gắn
với nghề lính ở bảng sau :
Từ loại
Danh từ
Động từ
Tính từ

Số từ xuất hiện
88
33
24
21

Tỷ lệ (%)
62
24
14


Nh vậy, danh từ là loại chiếm đa số, chúng tôi phân thành những nhóm cơ
bản sau đây:
- Nhóm danh từ chỉ vũ khí: súng, súng lớn, đạn, nòng, lựu đạn, khẩu đại
liên, cối, pháo, pháo cao xạ, chân súng.
- Nhóm danh từ chỉ hàng quân nhu: ba lô, lơng khô, bi đông, chiến lợi

chuẩn bị cẩn thận.
- Nhng còn nhiệm vụ đêm nay.
- Cậu sợ tớ không đủ sức hở ? Đêm nay có đoạn phải bò dới bùn để rải
dây đấy. Cậu thử thi với tớ xem.
(Tết làng Mụa, 9 - 11).
Qua đoạn thoại trên, ta nhận ra một thế hệ bộ đội dũng cảm, gan dạ, có tác
phong, kỷ luật quân đội cao và cũng hết sức lạc quan, tự tin ở chính mình.
Đại đội trởng Tiên tiếp chuyện nhân vật tôi :
- Thế anh bố trí lúc nào nói cho tôi nghe một vài suy nghĩ về những trận
đánh tiêu biểu nhá !
- Suy nghĩ hả ? Chả có gì đâu.
- Thôi, xin ông đừng ngại nữa - (...) - Anh em tân binh đang chờ tôi kể
chuyện về anh đấy.
- Thật à ? (...) Tôi chả có gì kể đâu (...) Chán bỏ mẹ, giặc đến thì
đánh, còn gì phải nghĩ nữa. Các ông chỉ vẽ chuyện.
(Ngời cầm súng, 379 - 380).
Những cụm từ ngữ kiểu nh giặc đến thì đánh đã lột tả đợc một cách
chính xác đặc điểm, phẩm chất ngời chiến sĩ trong truyện ngắn Lê Lựu. Họ dũng
cảm, gan dạ, sẵn sàng hi sinh xơng máu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Chiến sĩ thơng binh Lê Văn từ chiến trờng trở về quê hơng vẫn có thói
quen sử dụng ngôn ngữ nhà lính:
- Báo cáo anh, cói đội tôi bắt đầu rợp rồi, phải gắng lên, chỉ tháng nữa là
ổn, tôi còn đủ sức chán.
- Báo cáo anh, sao lại thế ạ. Đang lúc khó khăn này. Hay là
- Báo cáo anh, những chuyện xảy ra ở đội cha giải quyết xong tôi sợ
(Ngời về đồng cói, 285 - 286).

23



24


tranh khốc liệt và ý chí quyết tâm quét sạch bóng thù là cơ sở của những phát
ngôn kiểu nh vậy.
Trung đoàn trởng Nguyễn Ngọc Bính tâm sự, giãi bày với nhân vật Đê:
- Tất nhiên, nh thế hoàn toàn không có nghĩa là nhu nhợc, buông lỏng,
xuê xoa những quy định, nguyên tắc điều lệnh của quân đội.
(Quê hơng ngời lính, 412).
Chính trị viên huyện đội nói chuyện với Lâm:
- Lâm ạ -()- Chú coi cháu cũng nh em Chung. ừ phải, không chỉ khi
chị em đã thân thiết với nhau mà ngay từ hồi cháu mới vào đơn vị.
(Phía mặt trời, 104).
Đại đội trởng Tiên chỉ dẫn kế hoạch tác chiến cho anh em:
- Mình nghĩ mãi từ lúc bắt đầu ma rồi. Nhất định phải dãn ba khẩu ra.
Nó trinh sát lúc sắp ma chứ gì? Mình chuyển đi thế này là bất ngờ lắm? Có phải
không?
- Nh thế vừa phải đắp lại công sự các khẩu pháo, vừa phải tập trung phá
và đắp thêm ba công sự mới nữa à?
- Chứ sao!
(Ngời cầm súng, 382 - 383).
Trong những hoàn cảnh hiểm nguy của cụôc chiến tranh bảo vệ đất nớc,
các chiến sĩ của ta vẫn luôn thể hiện bản lĩnh quyết tâm, lạc quan, kiên cờng của
anh bộ đội Cụ Hồ. Lời nói của họ khẳng định một cách chắc chắn khí thế chống
giặc hào hùng, tất thắng của dân tộc ta.
b) ý nghĩa phủ định.
Khi ngời nói thể hiện thái độ không đồng tình hoặc bác bỏ hoàn toàn một
sự kiện, hiện tợng gì đó thì trong lời thoại của họ thờng xuất hiện tình thái phủ
định. Tình thái phủ định xuất hiện không nhiều trong truyện ngắn Lê Lựu, cái
làm ta quan tâm là ý nghĩa tình thái của sự phủ định trong từng lời thoại.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status