Trờng đại học vinh
Khoa giáo dục
___________________
Lê anh xuân
Phơng pháp hớng dẫn học sinh lớp 5
luyện tập văn tả cảnh
khóa luận tốt nghiệp ĐạI HọC
Nghệ An - 2012
1
Trờng đại học vinh
Khoa giáo dục
___________________
Phơng pháp hớng dẫn học sinh lớp 5
luyện tập văn tả cảnh
khóa luận tốt nghiệp ĐạI HọC
chuyên ngành: phơng pháp dạy học tiếng việt
Ngời hớng dẫn
: TS. Chu Thị Hà
Sinh viên thực hiện: Lê Anh Xuân
Mã số sinh viên : 0859012096
Lớp
: 49A1 - Tiểu học
kiểu bài đó thì văn miêu tả cảnh là một kiểu bài rất quen thuộc với học sinh.
Đối tượng của văn tả cảnh là những cảnh vật xung quanh cuộc sống của các
em. Đó là cảnh buổi sáng (trưa, chiều) ở quê em (công viên, đồng lúa...), cũng
có thể là cảnh mùa xuân, cảnh đêm trăng... Chúng đều là những cảnh vật rất
3
gần gũi, thân quen đối với các em, vì thế mà sẽ tả một cách sinh động, tinh tế
và thể hiện được tình cảm của mình đối với những cảnh vật đó.
1.4 Để có một bài văn tả cảnh hay thì người viết phải có tài quan sát,
biết chọn lọc những chi tiết điển hình và nổi bật. Đồng thời người viết phải
biết sử dụng từ ngữ hợp lý, độc đáo, ví von so sánh để chuyển tải nội dung
quan sát một cách chân thực và sinh động, đồng thời qua đó gửi gắm tình
cảm, thể hiện cảm xúc của mình đối với cảnh vật được miêu tả.
Tuy nhiên trong thực tế dạy và học văn miêu tả cảnh ở Tiểu học còn
nhiều hạn chế. Hầu hết giáo viên chưa áp dụng phù hợp các phương pháp
giảng dạy. Nhiều bài làm của học sinh chưa đạt yêu cầu về nội dung và hình
thức. Nguyên nhân chủ yếu là giáo viên chưa nắm vững lý thuyết về văn tả
cảnh một cách toàn diện. Học sinh chưa tiếp cận được phương pháp làm bài
khoa học và có hệ thống.
Xuất phát từ tầm quan trọng của việc dạy học Tập làm văn nói chung,
văn tả cảnh nói riêng, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Phương pháp
hướng dẫn học sinh lớp 5 luyện tập văn tả cảnh”.
2. Lịch sử vấn đề
Bàn về văn miêu tả và phương pháp dạy học văn miêu tả là một vấn đề
đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm từ lâu nhưng chưa hề có một công
trình nghiên cứu nào đi sâu vào tìm hiểu về phương pháp hướng dẫn học sinh
luyện tập về văn tả cảnh với tư cách là một công trình chuyên biệt, độc lập.
Chúng ta có thể đề cập đến các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu sau:
trường Tiểu học
- Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học (2 tập) - Lê Phương Nga,
NXB Đại học sư phạm - 2008.
Nội dung của quyển sách gồm có 2 phần:
5
Phần I: Bàn về những vấn đề chung của phương pháp dạy học Tiếng
Việt ở Tiểu học.
Phần II: Đi sâu vào phương pháp dạy học các phân môn cụ thể: Học
vần, Tập đọc, Tập viết, Chính tả, Luyện từ và câu, Kể chuyện và Tập làm văn.
Trong quyển sách này phần nội dung về phương pháp dạy học văn
miêu tả ở Tiểu học chỉ được đề cập đến một phần rất nhỏ. Quyển sách không
tập trung đi sâu vào việc rèn luyện kỹ năng viết văn cho học sinh mà chủ yếu
là đưa ra quy trình lên lớp của từng loại bài Tập làm văn.
- Văn miêu tả và phương pháp dạy văn miêu tả ở Tiểu học- Nguyễn Trí,
NXB Giáo dục- 1999.
Cuốn sách này gồm 2 phần:
Phần đầu: Tác giả đề cập đến khái niệm văn miêu tả và các kiểu bài
miêu tả ở tiểu học.
Phần sau: Tác giả giới thiệu một số phương pháp dạy văn miêu tả
trong trường tiểu học.
Quyển sách này đã đưa ra các phương pháp dạy văn miêu tả một cách
tương đối khoa học, khái quát. Tuy nhiên, phương pháp dạy học cho mỗi kiểu
bài cụ thể chưa được nghiên cứu kĩ, đặc biệt là văn miêu tả cảnh.
- Luyện viết văn miêu tả ở Tiểu học - Vũ Khắc Tuân, NXB Giáo
dục.(2 tập)
Trong tác phẩm này, tác giả chủ yếu thiết kế hệ thống bài tập luyện viết
các loại bài của văn miêu tả và một số kinh nghiệm của các nhà văn trong
Trong quá trình dạy học Tập làm văn tả cảnh ở lớp 5 nếu giáo viên
nắm vững lí thuyết về văn miêu tả- đặc biệt là vai trò của quan sát cũng
như yêu cầu, đặc điểm và liên tưởng, tưởng tượng, tình cảm và cảm xúc, sử
dụng ngôn từ trong văn tả cảnh. Từ đó có sự ứng dụng một cách linh hoạt
và chủ động vào dạy văn tả cảnh, kết hợp với tổ chức hướng dẫn học sinh
7
rèn luyện các kĩ năng đó trong việc làm văn tả cảnh thì sẽ nâng cao chất
lượng bài viết của học sinh.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp phỏng vấn.
- Phương pháp thử nghiệm.
7.3. Phương pháp thống kê toán học.
- Phương pháp xử lý số liệu thu được.
8. Phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng khảo sát: Học sinh lớp 5 của một số trường Tiểu học thuộc
Hương Khê (Hà Tĩnh).
8
NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
nêu ra những đặc điểm cụ thể, đặc trưng của những cảnh vật quen thuộc xung
quanh cuộc sống của học sinh: một dòng sông, một cánh đồng, một góc phố,
những di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh của đất nước. Mỗi cảnh đều nằm
trong một không gian và thời gian, đó là cái nền cho cảnh vật được miêu tả.
Văn miêu tả cảnh không những tập trung tả những nét tiêu biểu của cảnh làm
cho nó khác với cảnh khác mà còn làm cho người đọc cảm nhận được cảm
xúc, tình cảm của người viết cảnh vật.
Ví dụ: Đoạn văn miêu tả quang cảnh làng mạc ngày mùa của Tô Hoài:
“Mùa đông, giữa ngày mùa, làng quê toàn hoa màu vàng - những màu
vàng rất khác nhau.
Có lẽ bắt đầu từ những đêm sương sa thì bóng tối đã hơi cứng và sáng
ngày ra thì trông thấy màu trời có vàng hơn thường khi. Màu lúa chín dưới
đồng vàng xuộm lại. Nắng nhạt ngả màu vàng hoe. Trong vườn, lắc lư những
chùm quả xoan vàng lịm không trông thấy cuống, như những chuỗi tràng hạt
bồ đề treo lơ lửng. Từng chiếc lá mít vàng ối. Tàu đu đủ, chiếc lá sắn héo lại
mở năm cánh vàng tươi. Buồng chuối đốm quả chín vàng. Những tàu lá chuối
vàng ối xõa xuống như những đuôi áo, vạt áo. Nắng vườn chuối đương có gió
lẫn với lá vàng như những vạt áo nắng, đuôi áo nắng, vẫy vẫy. Bụi mía vàng
xọng, đốt ngầu phấn trắng. Dưới sân, rơm và thóc vàng giòn. Quanh đó, con
gà, con chó cũng vàng mượt. Mái nhà phủ một màu rơm vàng mới, lác đác
cây lụi có những chiếc lá đỏ. Qua khe giậu, ló ra mấy quả ớt đỏ chói. Tất cả
đượm một màu vàng trù phú, đầm ấm lạ lùng. Không còn cảm giác héo tàn
hanh hao lúc sắp bước vào mùa đông. Hơi thở của đất trời, mặt nước thơm
thơm, nhè nhẹ. Ngày không nắng, không mưa, hồ như không ai tưởng đến
10
ngày đêm, mà người ta chỉ mải miết đi gặt, kéo đá, cắt rạ, chia thóc Hợp tác
xã... Ai cũng vậy, cứ buông bát đũa lại đi ngay, cứ trở dậy là ra đồng ngay”.
với nét vẽ tinh tế, trong sáng và hết sức lãng mạn: “Mảnh trăng khuyết đứng
yên ở cuối trời, sáng trong như một mảnh bạc…”.
Cùng một vầng trăng nhưng mỗi người lại có một cách quan sát và
cách tả khác nhau nhưng đều đúng và đều hay và đó cũng là sự sáng tạo riêng
của mỗi tác giả.
Hay với Vích-to Huy-go khi nhìn một bầu trời đầy sao thấy như một
cánh đồng lúa chín. Còn Mai-a cốp-xki thì lại nhìn thấy ngôi sao như giọt
nước mắt của người da đen đang khóc Lênin khi biết Lênin vừa qua đời. Với
Ia-ga-ga-rin thì lại thấy vì sao như những hạt giống mới mà loài người gieo
vào vũ trụ. Như vậy, đều là miêu tả về những vì sao nhưng mỗi tác giả lại
khoác lên những ngôi sao đó những chiếc áo riêng.
Như vậy hiện thực cuộc sống là kho đề tài vô tận để người nghệ sĩ
khám phá, phát hiện nhưng đối với mỗi cây bút, nó lại được chiếu rọi dưới
một ánh sáng riêng. Cùng miêu tả về hình ảnh trăng nhưng mỗi nhà văn lại
có những cách thức miêu tả khác nhau. Điều đó đưa đến cho người đọc có
những khám phá mới lạ, bất ngờ và thú vị về sự vật tồn tại xung quanh
cuộc sống.
1.2.2. Tính chân thật trong văn miêu tả
Bất kỳ một tác phẩm nào cũng đòi hỏi tính chân thật. Bởi thế tác giả
phải nhúng ngòi bút của mình vào nghiên mực của cuộc đời, phải lặn sâu vào
đại dương cuộc sống, không phải để nhặt nhạnh những mảnh san hô tầm
thường mà để tìm cho được những viên ngọc trai lấp lánh. Với văn miêu tả
cũng vậy, miêu tả cần phải có tính cụ thể, sinh động, tính sáng tạo, nhưng
cũng rất cần tính chân thực. Văn miêu tả không hạn chế sự tưởng tượng,
không ngăn cản sự sáng tạo của người viết nhưng không có nghĩa là cho phép
người viết “bịa” một cách tùy ý. Miêu tả dù có sáng tạo đến bao nhiêu đi
12
chu đáo, nhưng rốt cuộc chỉ rặn được ba tiếng éc, e, e cụt ngủn. Nó ngượng
quá đỏ chín mặt, hấp tấp nhảy xuống đất. Gà trong làng nổi gáy loạn xị...
(Dẫn theo Văn miêu tả và phương pháp dạy văn miêu tả ở TH Nguyễn Trí - Tr 23)
Như vậy, các đối tượng được miêu tả hiện ra với những gì vốn tồn tại
trong hiện thực nhưng không hề khô cứng mà lại hết sức sinh động và cụ thể.
Văn miêu tả cho phép chúng ta sử dụng các biện pháp nghệ thuật để miêu tả
các đối tượng một cách sinh động hơn, ấn tượng hơn nhưng không vì thế mà
chúng ta cường điệu hóa lên, gây sự sáo rỗng cho bài văn. Không thể tả con
gà trống to bằng cái thùng phuy, bông hoa hồng có màu sắc rực rỡ như ánh
mặt trời. Bất kì bài văn nào dù hay đến mấy cũng phải để cho đối tượng được
miêu tả hiện lên với những đặc điểm, bản chất của nó và tất nhiên những đặc
điểm đó phải được chọn lọc một cách tinh tế và khéo léo. Một nhà văn đã nói
về cái giả và cái thật như sau:
“Giả và thật cũng giống như 2 cái dây điện có mắc bóng điện đâu vào
đấy. Nhưng bấm một cái thì bóng điện này sáng còn bóng điện kia tối vì một
bên có điện (thật) còn một bên thì không (giả)”.
Nhờ có tính chân thật mà mỗi khi đọc những bài văn miêu tả chúng ta
được gặp lại những sự vật, đối tượng gần gũi, quen thuộc trong cuộc sống. Có
gì hay và dễ đi vào lòng người bằng cái thật. Tính chân thật trong văn miêu tả
làm nên thế đứng của mỗi bài văn trong lòng người đọc.
1.2.3. Văn miêu tả mang tính sinh động và tạo hình
Sinh động và tạo hình là một đặc trưng và tiêu chí để đánh giá một bài
văn miêu tả hay. Đặt trưng này thực ra là hệ quả của tính cụ thể, sinh động,
chân thực và sáng tạo trong miêu tả. Nó đòi hỏi người viết dù có miêu tả đối
tượng nào ở góc độ nào cũng phải tạo được sự hấp dẫn, truyền cảm đối với
người đọc. Muốn vậy, khi miêu tả, các em phải thổi vào đó hơi thở của cảm
14
Chỉ bằng mấy nét phác thảo dòng sông Đà đã hiện lên thật cụ thể, sinh
động, bằng cách so sánh tài tình, sáng tạo, tác giả đã giới thiệu cho người đọc
thấy vẻ đẹp của sông Đà giang giống như mái tóc dài mềm mại buông xuống
của người thiếu nữ, nhà văn còn miêu tả được sự thay đổi về màu sắc của
sông theo mùa: mùa xuân thì sông “xanh ngọc bích”, mùa thu thì “lừ lừ chín
đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa”. Thật là một bức tranh hài hòa về
đường nét và màu sắc, rất giàu cảm xúc, khơi gợi và mở rộng khả năng liên
tưởng của người đọc.
Làm nên sự sinh động, tạo hình của văn miêu tả là những chi tiết sống,
gây ấn tượng... Tước bỏ chúng đi, bài miêu tả sẽ trở nên mờ nhạt, vô vị, thậm
chí trơ ra bộ xương khô. Đọc nó ta “tưởng như bắt gặp nụ cười nhợt nhạt của
một người không còn sinh khí”.
rong miêu tả để làm nổi bật đối tượng quan sát, người ta thường sử
dụng các biện pháp nghệ thuật như so sánh, nhân hóa:
Ví dụ: Sử dụng biện pháp so sánh:“Trăng tròn như cái đĩa” (Trần
Đăng Khoa) hay Những bông gạo như những đốm lửa giữa trời.
Trong bài “Sầu riêng” của Mai Văn Tạo, hình ảnh so sánh được xuất
hiện rất nhiều:
“Hoa sầu riêng trổ vào cuối năm. Gió đưa hương thơm ngát như
hương cau, hương bưởi tỏa khắp khu vườn. Hoa đậu từng chùm, màu trắng
ngà. Cánh hoa nhỏ như vảy cá, hao hao giống cánh sen con, lác đác vài nhụy
li ti giữa những cánh hoa. Mỗi cuống hoa ra một trái. Nhìn trái sầu riêng
lủng lẳng dưới cành trông giống những tổ kiến”.
(Dẫn theo Tiếng Việt 4, Tập 2, Trang 34)
Và để làm tăng sự uyển chuyển, mềm mại khi diễn đạt người viết
thường sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa, nhân hóa để tả bên ngoài, có khi để
tả tâm trạng.
17
tượng được miêu tả cũng được người viết đánh giá chúng theo quan điểm
thẩm mĩ, cũng gửi vào bài viết ít nhiều tình cảm hay ý kiến đánh giá, bình
luận của mình. Do vậy từng chi tiết của bài miêu tả đều mang ấn tượng cảm
xúc chủ quan. Khi đọc hai câu thơ: Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc / Đầm đìa
lá liễu giọt sương reo chắc hẳn người đọc nhận ra chủ nhân của nó trên là nữ
thi sĩ Hồ Xuân Hương. Bởi trong hai câu thơ nêu trên mang rõ dấu ấn cá tính
của nhà thơ qua các chi tiết vừa giàu tính tạo hình vừa giàu sức sống tiềm
tàng: lắt lẻo, cơn gió thốc, đầm đìa, giọt sương reo.
Miêu tả trong phân môn Tập làm văn khác hẳn với miêu tả trong môn
Tự nhiên và xã hội. Đọc hai đoạn văn cùng tả con bướm chúng ta nhận thấy
sự khác biệt. Đoạn thứ nhất trích từ sách học sinh:
“Thân bướm có 3 phần: đầu, ngực, bụng. Phần ngực có bốn cánh, sáu
chân. Bướm bay được nhờ hai đôi cánh là hai mảng rộng bản. Chúng có vảy
phấn bao phủ nên không trong như cánh chuồn chuồn”.
Đoạn này ta thấy các chi tiết hiện ra thật chính xác nhưng thật lạnh
lùng, cảm xúc của người viết không thể hiện ở đây. Và ở đây chỉ mới nêu
ra được đặc điểm chung của loài bướm còn bỏ qua đặc điểm riêng của từng
con bướm.
Đoạn thứ hai trích từ một tác phẩm văn học của Vũ Tú Nam được dùng
làm bài tập đọc có tựa đề Những cánh bướm bên sông (Tiếng việt 4).
“Ngoài giờ học, chúng tôi tha thẩn bên sông bắt bướm. Chao ôi, những
con bướm đủ hình dáng, đủ màu sắc. Con xanh biếc pha đen như nhung bay
loang loáng. Con vàng sẫm nhiều hình mặt nguyệt, ven cánh có răng cưa,
lượn lờ đờ như trôi trong nắng. Con bướm quạ to bằng bàn tay người lớn,
màu nâu xỉn, có hình đôi mắt tròn vẻ dữ tợn. Bướm trắng bay theo đàn líu ríu
như hoa nắng. Loại bướm nhỏ đên kịt, là là theo chiều gió, hệt như tàn than
bức ảnh chụp gần hoa mai tỏa ra năm cánh, nhưng cánh hoa thì xếp có một.
19
Chỉ có niềm say mê mới giúp tác giả có những so sánh ấn tượng, tinh tế: màu
hoa ngời xanh như màu ngọc bích, cánh hoa xòe ra mịn màng như lụa, ánh
lên một sắc vàng muốt, nuột nà và “thấp thoáng” một mùi hương. Tuy đã rất
quen thuộc, gần gũi với chúng ta nhưng có lẽ đến với những câu văn của Lê
Tấn ta mới cảm nhận hết vẻ đẹp của hoa, được cảm nhận hương hoa bằng “thị
giác”. Với tình yêu thiên nhiên tha thiết của mình, tác giả đã giúp người đọc
có cảm giác như đang nhìn ngắm, nâng niu bông hoa mai trên tay.
1.2.5. Ngôn ngữ của văn miêu tả giàu cảm xúc và hình ảnh
Ngôn ngữ trong văn miêu tả là yếu tố quan trọng làm nên sức sống của
bài văn. Khác với những văn bản khoa học, ngôn ngữ trong văn miêu tả là thứ
ngôn ngữ được trau chuốt, chọn lọc, giàu cảm xúc và hình ảnh, có thể gây ấn
tượng mạnh, tác động sâu xa trong trí tưởng tượng và cảm nhận của người
đọc. Có như thế thì ngôn ngữ miêu tả mới có khả năng diễn tả cảm xúc của
người viết, vẽ được một cách sinh động, tạo hình đối tượng miêu tả. Ngôn
ngữ trong văn miêu tả là sự phong phú đa dạng của các động từ và tính từ đan
xen nhau tạo thành những hạt pha lê lấp lánh trong văn miêu tả. Ngôn ngữ
miêu tả là những cung bậc trong bài văn. Tạo nên màu sắc của cảm xúc và
hình ảnh người ta còn phối hợp tính từ, động từ với nhiều biện pháp so sánh,
nhân hóa và ẩn dụ. Mặc dù nghệ thuật miêu tả không phải chỉ tạo hình ảnh
nhưng ma thuật của hành văn, sự sống của bài văn miêu tả lại nằm trong hình
ảnh. Hình ảnh thật sự là một cách viết văn mạnh mẽ, một phương thức làm
cho sự vật trở nên nhạy cảm hơn. Nhiều biện pháp tu từ như ẩn dụ, so sánh,
nhân hóa tạo nên hình ảnh ngôn ngữ.
Ẩn dụ là một hình ảnh tạo nên sự so sánh ngầm: mùa xuân cuộc đời,
cứng người vì sợ hãi.
Với nghệ thuật sử dụng ngôn từ tài tình, tác giả đã vẽ lên bức tranh
phong cảnh Sa Pa, làm cho cảnh rực rỡ, lộng lẫy sắc màu, hài hòa, tự nhiên.
Không chỉ vậy, nó còn tạo nên giá trị biểu cảm, gợi hình gợi nét và “gợi cho
21
người đọc cảnh hiện ra như thật” (Hà Minh Đức). Vẻ đẹp của Sa Pa hiện ra
với vẻ đẹp mê hồn, lung linh và kì diệu. Đặc biệt rất khó để có thể chụp hay
vẽ lại được bức tranh phong cảnh Sa Pa có cả 3 mùa trong năm, nhưng tác giả
đã cho người đọc thưởng thức được vẻ đẹp kỳ diệu đó của Sa Pa bằng ngôn từ
giàu cảm xúc và hình ảnh: Thoắt cái, lá vàng rơi trong khoảnh khắc mùa thu.
Thoắt cái, trắng long lanh một cơn mưa tuyết trên những cành đào, lê, mận.
Thoắt cái, gió xuân hây hẩy nồng nàn với những bông hoa lay ơn màu đen
nhung hiếm quý.
Nếu không dùng ngôn từ giàu cảm xúc và hình ảnh để vẽ thì chắc hẳn
bức tranh về Sa Pa chỉ là những nét phác thảo lạnh lùng và đơn điệu.
1.3. Đặc điểm của văn tả cảnh
Ngoài những đặc điểm chung của văn miêu tả thì văn tả cảnh trong
chương trình Tiếng Việt ở tiểu học còn có những đặc điểm sau:
1.3.1 Đối tượng của văn tả cảnh
Mỗi kiểu bài văn miêu tả lại có đối tượng miêu tả riêng. Văn tả cảnh có
đối tượng là những cảnh vật quen thuộc xung quanh các em: một cơn mưa,
một ngày nắng đẹp, một đêm trăng đẹp, một dòng sông, một cánh đồng, một
góc phố,…
Đã từ lâu, thiên nhiên đã được con người miêu tả làm nên những bức
tranh phong cảnh hữu tình bằng ngôn từ. Đây, cảnh đồng chiêm lung linh
nắng vàng:
“Đồng chiêm phả nắng lên không
Cánh cò dẫn nắng qua thung lúa vàng”
Đây là cảnh cơn mưa rào:
“Mưa đến rồi, lẹt đẹt...lẹt đẹt... mưa giáo đầu. Những giọt nước lăn
xuống mái phên nứa: mưa thực rồi. Mưa ù xuống khiến mọi người không
tưởng được là mưa lại kéo đến chống thế. Lúc nãy là mấy giọt lách tách,
23
bây giờ bao nhiêu nước tuôn rào rào. Nước xiên xuống, lao xuống, lao vào
trong bụi cây. Lá đào, lá na, lá sói vẫy tai run rẩy. Con gà sống ướt lướt
thướt ngật ngưỡng tìm chỗ trú. Mưa xuống sầm sập, giọt ngã, giọt bay, bụi
nước tỏa trắng xóa. Trong nhà bỗng tối sầm, một mùi nồng ngai ngái, cái
mùi xa lạ, man mác của những trận mưa mới đầu mùa. Mưa rào rào trên
sân gạch. Mưa đồm độp trên phên nứa, đập bùng bùng vào lòng lá chuối.
Tiếng giọt tranh đổ ồ ồ...
Nước chảy đỏ ngòm bốn bề sân, cuồn cuộn dồn vào các rãnh cống
đổ xuống ao chuôm. Mưa xối nước được một lúc lâu thì bỗng trong vòm
trời tối thẫm vang lên một hồi ục ục ì ầm. Tiếng sấm, tiếng sấm của mưa
mới đầu mùa...
Mưa đã ngớt. Trời rạng dần. Mấy con chim chào mào từ hốc cây nào
đó bay ra hót râm ran. Mưa tạnh, phía đông một mảng trời trong vắt. Mặt
trời ló ra, chói lọi trên những vòm lá bưởi lấp lánh.
Theo Tô Hoài.
Cảnh nhân tạo thường là cảnh một ngôi nhà, ngôi trường, vườn rau...
Đây là cảnh một khu phố trong sớm mai:
“Mảng thành phố hiện ra trước mắt tôi đang biến màu trong bước
chuyển huyền ảo của rạng đông. Tầng tầng, lớp lớp bụi hồng ánh sáng đã
tràn lan khắp không gian như thoa phấn trên những tòa nhà cao tầng của
thành phố khiến chúng trở nên nguy nga, đậm nét. Màn đêm đang lắng dần
rồi chìm vào đất”.
vào
mùa.
Gió tây lướt thướt bay qua rừng, quyến hương thảo quả đi, rải theo
triền núi, đưa hương thảo quả ngọt lựng, thơm nồng vào những thôn xóm
Chin San. Gió thơm. Cây cỏ thơm. Đất trời thơm. Người đi từ rừng thảo quả
về, hương thơm đậm ủ ấp trong từng nếp áo, nếp khăn.
Thảo quả trên rừng Đản Khao đã chín nục. Chẳng có thứ quả nào
hương thơm lại ngây ngất kì lạ đến như thế. Mới đầu xuân năm kia, những
hạt thảo quả gieo đất rừng, qua một năm, đã lớn cao tới bụng người. Một
năm sau nữa, từ một thân lẻ, thảo quả đâm thêm hai nhánh mới. Sự sinh sôi
sao mà mạnh mẽ vậy. Thoáng cái, dưới bóng râm của rừng già, thảo quả lan
tỏa nơi tầng rừng thấp, vươn ngọn, xòe lá, lấn chiếm không gian...”.
(Tiếng Việt 5- Tập 1- Tr 113)
Như vậy, qua đoạn văn tả cảnh rừng thảo quả nhưng tác giả đã
dành phần lớn để nói về mùi hương đặc trưng của thảo quả: hương thảo
quả ngọt lựng, thơm nồng, mùi hương này ướp cho cả khu rừng, đến mức
gió thơm. Cây cỏ thơm. Đất trời thơm... hương thơm đậm ủ ấp trong
từng nếp áo, nếp khăn.
25