1
MỞ ðẦU
Sự phát triển công nghiệp ở nước ta hiện nay ñã ñem lại những thành tựu
to lớn cho các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội làm cho ñời sống của con người
ngày càng ñược nâng cao. Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hóa, hiện ñại hóa
cũng mang lại những hậu quả ñáng lo ngại cho môi trường sống và sức khỏe con
người. Ở nước ta việc khai thác khoáng sản bừa bãi, việc xây dựng các nhà máy,
các khu công nghiệp, khu chế xuất ñã thải vào môi trường một lượng không nhỏ
các chất ñộc hại, ñặc biệt là các kim loại nặng gây ô nhiễm môi trường nước
cũng như nguồn thức ăn. Phần lớn những kim loại này là những nguyên tố vi
lượng cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của con người cũng như ñộng
thực vật. Tuy nhiên, khi tồn tại trong cơ thể với một lượng lớn vượt quá giới hạn
cho phép chúng sẽ gây ra sự nhiễm ñộc nguy hiểm. Chính vì vậy, việc ñiều tra,
phân tích, xác ñịnh nồng ñộ, hàm lượng các nguyên tố này trong môi trường mà
ñặc biệt là trong các loại thực phẩm, nguồn nước, các yếu tố có thể ảnh hưởng
ñến con người thông qua lưới thức ăn là việc làm vô cùng cần thiết.
Hiện nay, vấn ñề ô nhiễm kim loại nặng trong các nguồn nước ñang diễn
ra ở nhiều nước trên thế giới. Các nhà chuyên môn về vệ sinh an toàn thực phẩm
cảnh báo rằng nhiều loại sinh vật sinh sống trong vùng nước ô nhiễm, ñặc biệt là
vùng thuộc những khu công nghiệp dễ dàng tích tụ các nguyên tố ñộc hại như:
Hg, As, Pb… trong cơ thể.
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi chọn ñề tài “Nghiên cứu xác
ñịnh hàm lượng các nguyên tố thủy ngân, chì và asen trong rong và cua ở
vùng biển Kỳ Ninh thuộc ñặc khu kinh tế cảng Vũng Áng huyện Kỳ Anh
tỉnh Hà Tĩnh” làm nội dung nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình.
Nhiệm vụ nghiên cứu ñặt ra là:
- Lấy mẫu rong biển và cua ở biển Kỳ Ninh thuộc ñặc khu kinh tế cảng
Vũng Áng, Hà Tĩnh.
- Xử lý mẫu.
200,59
- Cấu hình electron:
[Xe] 4f145d106s2
- Bán kính nguyên tử:
1,60 Ao
- Nhiệt ñộ nóng chảy:
38,9oC
- Màu sắc:
Trắng bạc
- Năng lượng ion hóa (eV):
I1 (10,43); I2 (18,75); I3 (32,43)
- Thế oxi hóa:
E0Hg2+/Hg = + 0,854V
1.1.1.2. Trạng thái tự nhiên, vai trò, ứng dụng của thủy ngân [7,8,14,23,25]
a. Trạng thái thiên nhiên
Thủy ngân là một trong số những nguyên tố có ñộ phổ biến thấp (khoảng
7.10-7% tổng số nguyên tử). Khoáng vật chính của thủy ngân là xinaba hay thần
Thủy ngân ñược sử dụng trong công nghệ khai thác vàng (ñặc biệt là ở châu
Phi), sử dụng trong phong vũ biểu, nhiệt biểu, ñèn cao áp và bơm chân không.
Các sunfua thủy ngân dùng ñể sản xuất phẩm nhuộm. Các muối ở dạng tan ñược
sử dụng ñể chữa bệnh ngoài da, các chất hữu cơ chứa thủy ngân ñược sử dụng
5
rộng rãi trong khử trùng vết thương, thuốc diệt nấm... Thủy ngân(I) clorua
Hg2Cl2 làm ñiện cực.
1.1.1.3. ðộc tính của thủy ngân [2,20,22]
Thủy ngân là kim loại có thể tạo muối ở dạng ion: thủy ngân (I) và thủy
ngân (II). Thủy ngân cũng có ở dạng các hợp chất cơ thủy ngân, sử dụng trong
nông nghiệp (thuốc chống nấm mốc...) và trong công nghiệp (làm ñiện cực...).
Thủy ngân còn có trong các chất thải công nghiệp, phân hóa học ...
Thủy ngân thường có trong nước bề mặt và nước ngầm với nồng ñộ
thường < 0,5 µg/l. Lượng thủy ngân trong không khí khoảng 2-10 mg/m3.
Thủy ngân trong môi trường nước có thể bị hấp thụ vào cơ thể thủy sinh
vật, ñặc biệt là cá và các ñộng vật không xương sống. Cá hấp thụ thủy ngân và
chuyến hóa thành methyl thủy ngân (CH3Hg+) rất ñộc ñối với cơ thể người. Chất
này hòa tan trong mỡ, phần chất béo của màng và trong não tủy.
Thủy ngân vô cơ tác ñộng chủ yếu ñến thận, trong khi ñó methyl thủy
ngân ảnh hưởng chính ñến hệ thần kinh trung ương. Sau khi nhiễm ñộc, người
bệnh dễ bị kích thích, cáu gắt, xúc ñộng, rối loạn tiêu hóa, rối loạn thần kinh,
viêm lợi, run chân. Nếu bị nhiễm ñộc nặng có thể tử vong. ðộc tính do thủy
ngân tác dụng lên nhóm sulfuhydryl (-SH) của các hệ thống enzym. Sự liên kết
thủy ngân với màng tế bào ngăn cản vận chuyển ñường qua màng. ðiều này gây
ra sự thiếu hụt năng lượng trong tế bào và gây rối loạn thần kinh. ðây là cơ sở
ñể giải thích vì sao những ñứa trẻ sơ sinh từ mẹ nhiễm methyl thủy ngân sẽ tác
ñộng tới hệ thần kinh trung ương (tâm thần phân liệt, kém phát triển trí tuệ và co
giật...). Nhiễm ñộc methyl thủy ngân còn dẫn ñến phân lập nhiễm sắc thể, phá vỡ
1,75 Ao
- Nhiệt ñộ nóng chảy:
327oC
- Màu sắc:
Xám thẫm
- Năng lượng ion hóa (eV):
I1 (7,42); I2 (15,03); I3 (32,0); I4 (42,3)
- Thế oxi hóa:
E0Pb2+/Pb = - 0,126 V
1.1.2.2. Trạng thái tự nhiên, vai trò, ứng dụng của chì [6,13,24]
a. Trạng thái thiên nhiên
Chì là một nguyên tố trong vỏ quả ñất ứng với thành phần thạch quyển là
1,6.10-4 % tổng số nguyên tử và chiếm 1,6.10-3 % về khối lượng.
Galen (PbS) là quặng chì quan trọng nhất trong công nghiệp, ngoài ra còn
gặp chì trong quặng xeruzit (PbCO3). Trong chất sống (chủ yếu là thực vật) có
7
chứa khoảng 5.10-5mg chì theo khối lượng, trong nước ñại dương có 10-5mg chì
trong 1 lít nước biển.
Chì có 18 ñồng vị, có bốn ñồng vị thiên nhiên là
lớp sơn phủ có ñộ bám, không chảy nhão và chống nứt trong thời gian lâu hơn.
8
Ngoài ra chì sử dụng như thành phần màu trong tráng men và ñược sử dụng
trong tấm ngăn ñể chống phát xạ hạt nhân.
1.1.2.3. ðộc tính của chì [2,20,22]
Chì ñược sử dụng ñể sản xuất ăc quy chì, hàn... Các hợp chất hữu cơ của
chì như tetraetyl và tetrametyl chì ñược sử dụng rộng rãi làm chất chống kích nổ
và chất làm trơn trong xăng. Tuy vậy, hiện nay một số nước ñã không dùng loại
xăng pha chì. Phần lớn lượng chì trong ống nước là do ống dẫn nước là hợp kim
chì, các vật dụng hàn bằng chì trong ngành xây dựng... Lượng chì hòa tan trong
ống dẫn nước phụ thuộc vào các yếu tố như pH, nhiệt ñộ, ñộ cứng của nước và
thời gian nước lưu trong ống. Nước mềm có tính axit hòa tan nhiều chì.
Sự thâm nhiễm chì qua nhau thai người xảy ra sớm từ tuần 20 của thai kỳ
và tiếp diễn suốt thời kỳ mang thai. Trẻ em có mức hấp thụ chì gấp 4 - 5 lần
người lớn. Mặt khác, thời gian bán hủy sinh học của chì ở trẻ em cũng lâu hơn
nhiều so với người lớn. Chì thường tích ñọng ở xương. Trẻ em từ 6 tuổi trở
xuống và phụ nữ có thai là những ñối tượng mẫn cảm ñối với những ảnh hưởng
nguy hại ñến sức khỏe do chì gây ra.
Chì cũng kìm hãm chuyển hóa canxi bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp
thông qua sự kìm hãm chuyển hóa vitamin D. Chì gây ñộc cả hệ thống thần kinh
trung ương lẫn thần kinh ngoại biên.
Chì tác ñộng lên hệ thống enzym, nhất là enzym vận chuyển hydro. Khi bị
nhiễm ñộc, người bệnh có một số rối loạn cơ thể, trong ñó chủ yếu là rối loạn
trong hệ thống tạo huyết (tủy xương). Tùy theo mức ñộ nhiễm ñộc có thể gây ra
những tai biến như ñau bụng, ñường viền ñen Burton ở lợi, ñầu khớp, viêm thận,
cao huyết áp vĩnh viễn, liệt, tai biến não, nếu bị nặng có thể dẫn ñến tử vong.
Tác dụng sinh hóa chủ yếu của chì gây ảnh hưởng ñến sự tổng hợp máu, phá vỡ
hồng cầu. Chì ức chế một số enzym quan trọng của quá trình tổng hợp máu do
[Ar] 3d104s24p3
- Bán kính nguyên tử:
Ao
- Nhiệt ñộ nóng chảy:
817oC (36 atm)
- Màu sắc:
Thường có màu xám.
- Năng lượng ion hóa (eV):
I1 (10,5); I2 (20,1); I3 (28,0); I4 (49,9); I5 (62,5)
1.1.3.2. Trạng thái tự nhiên, vai trò, ứng dụng của Asen [7,8,13,23,25]
a. Trạng thái thiên nhiên
Asen hay còn gọi là thạch tín, có ký hiệu As. Asen là một á kim gây ngộ
ñộc khét tiếng và có nhiều dạng thù hình: màu vàng (phân tử phi kim) và một vài
10
dạng màu ñen và xám (á kim) chỉ là những dạng người ta có thể nhìn thấy. Ba
dạng có tính kim loại của asen với cấu trúc tinh thể khác nhau cũng ñược tìm
thấy trong tự nhiên (các khoáng vật asen sensustricto và hiếm hơn là
asenolamprit cùng parasenolamprit), nhưng nói chung nó thường tồn tại dưới
dạng các hợp chất asenua và asenat. Vài trăm loại khoáng vật như vậy ñã ñược
mononatri (MSMA), một dạng hợp chất hữu cơ ít ñộc hại hơn của asen ñã thay
thế cho vai trò của asenat hiñrô chì trong nông nghiệp.
Scheele lục hay asenat ñồng, ñược sử dụng trong thế kỷ XIX như là tác
nhân tạo màu trong các loại bánh kẹo ngọt. Ứng dụng có nhiều e ngại nhất ñối
với con người có lẽ là trong xử lý gỗ bằng asenat ñồng crôm hóa, còn gọi là
CCA hay tanalith. Gỗ xẻ xử lý bằng CCA vẫn còn phổ biến ở nhiều quốc gia và
nó ñược sử dụng nhiều trong nửa cuối thế kỷ XX như là vật liệu kết cấu và xây
dựng ngoài trời. Nó ñược sử dụng chống lại khả năng gây mục nát hay phá hoại
của côn trùng. Mặc dù việc sử dụng gỗ xẻ xử lý bằng CCA ñã bị cấm tại nhiều
khu vực sau khi các nghiên cứu chỉ ra rằng asen có thể rò rỉ từ gỗ vào trong ñất
cận kề ñó, một rủi ro khác là việc ñốt các loại gỗ cũ ñã xử lý bằng CCA. Việc
hấp thụ trực tiếp hay gián tiếp tro do việc ñốt cháy gỗ xử lý bằng CCA có thể
gây ra tử vong ở ñộng vật cũng như gây ra ngộ ñộc nghiêm trọng ở người.
Trong các thế kỷ XVIII, XIX và XX, một lượng lớn các hợp chất của asen
ñã ñược sử dụng như là thuốc chữa bệnh, như arsphenamin (bởi Paul Ehrlich)
và triôxít asen (bởi Thomas Fowler). Arsphenamin cũng như neosalvarsan ñược
chỉ ñịnh trong ñiều trị giang mai và bệnh trùng mũi khoan, nhưng ñã bị loại bỏ
bởi các thuốc kháng sinh hiện ñại. Triôxít asen ñã ñược sử dụng theo nhiều cách
khác nhau trong suốt 200 năm qua, nhưng phần lớn là trong ñiều trị ung thư. Cục
Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) vào năm 2000 ñã cho phép dùng hợp
chất này trong ñiều trị cho các bệnh nhân với bệnh bạch cầu cấp tính tiền
myelin và kháng lại ATRA. Nó cũng ñược sử dụng làm dung dịch
Fowler trong bệnh vẩy nến.
12
Axetoasenit ñồng ñược sử dụng làm thuốc nhuộm màu xanh lục dưới
nhiều tên gọi khác nhau, như 'Lục Paris' hay 'lục ngọc bảo'. Nó gây ra nhiều
dạng ngộ ñộc asen. Asen còn có một số ứng dụng khác như làm vật liệu bán dẫn
quan trọng trong các mạch tích hợp IC và sử dụng trong kỹ thuật mạ ñồng, pháo
Hô hấp: Không khí ñược cơ thể sống hít vào có những chất ô nhiễm
không chỉ ở dạng khí mà còn ở dạng lỏng, bụi rắn có khả năng bay hơi. Các chất
ñộc sau khi ñược hấp thụ qua màng nhầy sẽ lan tỏa và ñi vào máu, gây ngộ ñộc.
Các chất ñộc ở dạng rắn hay lỏng, lơ lửng trong không khí như sương mù,
khói với hạt nhỏ dưới 1 micro có thể vào phổi dễ dàng và tới tận phế nang gây
tổn thương như mù phổi, bệnh bụi phổi. Toàn bộ phế nang có diện tích rất lớn
với một mạng lưới mao mạch dày ñặc giúp chất ñộc khuyếch tán nhanh vào máu,
không qua gan và không ñược giải ñộc như theo ñường tiêu hóa mà ñi ngay qua
tim ñể ñi ñến các phủ tạng, ñặc biệt hệ thần kinh trung ương. Do ñó, chất ñộc
xâm nhập qua ñường hô hấp tác ñộng gây ñộc nhanh và rất nguy hiểm gần như
là ñược tiêm thẳng vào tĩnh mạch.
Bụi khí ñộc có kích thước phân tử từ 1-5 micro ñi vào phế quản hay phế
nang.
Tiêu hóa: ðồ ăn, thức uống bị nhiễm bẩn không ñảm bảo quy tắc an toàn
vệ sinh thực phẩm hay ñồ ăn bản thân nó chứa kim loại nặng xâm nhập vào cơ
thể sinh vật và gây bệnh. Chỉ có một số ñộc chất ñi tới não, còn lại ñộc chất chủ
yếu ñi qua gan, thận, qua sữa mẹ, tuyến mồ hôi và tuyến sinh dục.
ðường da: Da có vai trò bảo vệ chống tác ñộng của các yếu tố hóa học,
vật lý và sinh học. Do một số yếu tố nhạy cảm với lớp mỡ dưới da nên có thể ñi
qua da, vào hệ tuần hoàn chung của cơ thể. Nhiễm ñộc qua da càng xảy ra dễ
14
dàng nếu da bị tổn thương về mặt cơ học (chấn thương), lý học (bỏng), các chất
hóa học (các chất kích thích và ăn da, gây bỏng). Nếu nhiễm qua niêm mạc càng
nguy hiểm hơn vì niêm mạc có mật ñộ mao mạch dày.
Khi các chất ñộc hoặc chất lạ ñi vào cơ thể thông qua một hoặc nhiều
ñường như ñã kể trên, chúng sẽ ñi vào máu. Sau ñó, chúng có thể bị ñào thải ra
khỏi cơ thể bằng một sự chuyển hóa sang một thể khác hoặc bài tiết qua gan,
thận (với các chất ñộc tan ñược trong nước), và qua phổi (với các chất ñộc có
Ở nước ta, tình hình nghiên cứu hàm lượng kim loại nặng trong thủy sản
cũng ñang ñược quan tâm. Theo luận án tiến sỹ “Nghiên cứu ảnh hưởng ô nhiễm
nước ao hồ TP Hà Nội lên chất lượng nuôi trồng thủy sản” của nghiên cứu sinh
Trịnh Bảo Ngọc thì hàm lượng các kim loại nặng trong cá ở vùng nghiên cứu
như sau:
Bảng 1.1. Hàm lượng kim loại nặng trong cá ở một số hồ ở Hà nội
Hàm lượng kim loại (µg/g)
As
Hg
Pb
Mùa mưa
0,09
0.03
0,18
Mùa khô
0,16
0,03
0,53
0,19
0,14
16
Tại trường ðại học Vinh, các luận văn thạc sỹ của Hoàng Quốc Huy và Lê
Thị Thùy Hương và một số tác giả khác cũng ñã nghiên cứu xác ñịnh hàm lượng
kim loại nặng trong một số loài thủy sản ở vùng biển Nghệ An và Hà Tĩnh [7,8].
1.4. Các phương pháp xác ñịnh hàm lượng kim loại chì, thủy ngân, asen
1.4.1. Các phương pháp xác ñịnh thủy ngân [5,7,8,18,23]
1.4.1.1. Xác ñịnh thủy ngân bằng phương pháp trọng lượng
Các khoáng vật của thủy ngân như sunfua thuỷ ngân (HgS), telurit,
selenit... ñược phá bằng nước cường thủy trong bình phá mẫu hồi lưu. Sau khi
lọc, dung dịch ñược trung hòa bằng natri cacbonat và sau ñó ñược ñun nóng với
một lượng dư của amoni sunfua mới pha. Dung dịch natri hydroxit ñược thêm
vào cho ñến khi chất lỏng chuyển từ màu nâu tím sang màu sáng. ðun dung dịch
tới sôi và natri hydroxit lại ñược thêm vào cho tới khi ñược chất lỏng trong suốt.
Nếu có mặt thì nó còn lại trong dung dịch mà không bị hòa tan và có thể
ñược lọc ñi. Thêm amoni nitrat dư vào dung dịch, hỗn hợp ñược ñun sôi cho tới
khi phần lớn amoni bị ñuổi hết. Dung dịch trong ñược gạn khỏi kết tủa bằng
nước nóng. Sau ñó chuyển kết tủa vào chén. Sấy khô ở 110oC cân và tính toán
kết quả.
1.4.1.2. Xác ñịnh thủy ngân bằng phương pháp amangam
Phương pháp xác ñịnh trực tiếp thủy ngân trong quặng dựa vào sự chưng
cất thủy ngân từ mẫu khô. Khử mẫu nếu cần thiết và thu kim loại trên một tấm
vàng hoặc bạc ñã biết trọng lượng.
Mẫu ñược cân và ñặt vào chén. Cho 5 – 10 g bột sắt vào trộn ñều, phủ bột
sắt khắp bề mặt. Quặng sunfit có thể ñược trộn với kẽm oxit và natri cacbonat
18
- Phương pháp kích hoạt nơtron
- Phương pháp sắc ký khí
- Phương pháp phổ khối lượng
- Phương pháp cực phổ…
Phương pháp hấp thụ hoặc phát xạ nguyên tử và phương pháp kích hoạt
notron ñược áp dụng ñể xác ñịnh thủy ngân tổng trong các mẫu sinh học và môi
trường. Phương pháp sắc ký khí ñược sử dụng ñể xác ñịnh metyl thủy ngân.
1.4.2. Các phương pháp xác ñịnh chì [5,6,24]
1.4.2.1. Phương pháp phân tích thể tích
Nguyên tắc của phương pháp ño là dựa trên sự ño thể tích dung dịch thuốc
thử ñã biết nồng ñộ chính xác (dung dịch chuẩn) ñược thêm vào dung dịch chất
ñịnh phân ñể tác dụng ñủ toàn bộ lượng chất ñịnh phân ñó. Thời ñiểm thêm
lượng thuốc thử tác dụng với toàn bộ chất ñịnh phân gọi là ñiểm tương ñương.
ðể nhận biết ñiểm tương ñương, người ta dùng các chất gây ra hiện tượng có thể
quan sát bằng mắt gọi là các chất chỉ thị. Có thể sử dụng một trong những cách
sau:
- Phương pháp thể tích cromat: Kết tủa cromat chì trong dung dịch axetat
amoni ñã ñược axit hoá bằng CH3COOH rồi hoà tan nó bằng hỗn hợp clorua
(NaCl + HCl) sau ñó thêm một lượng KI (không cho quá dư KI vì sẽ tạo nên kết
tủa PbI2 có màu vàng ánh, làm cho việc phân biệt sự ñổi màu của dung dịch trở
nên rất khó khăn) vào dung dịch và chuẩn ñộ lượng I2 thoát ra bằng Na2S2O3.
Các phương trình phản ứng:
2Pb(CH3COO)2 + K2Cr2O7 + H2O = 2PbCrO4 + 2CH3COOK + 2CH3COOH
2PbCrO4 + 4HCl = 2PbCl2 + H2Cr2O7 + H2O
H2Cr2O7 + 6KI + 12HCl = 2CrCl3 + 6KCl + 7H2O + 3I2
A = K.C
Trong ñó
A: ñộ hấp thụ quang
K: hằng số thực nghiệm
C: nồng ñộ nguyên tố phân tích
Phương pháp này cho phép xác ñịnh nồng ñộ chất ở khoảng 10E-5 tới
10E-7M và là một trong các phương pháp ñược sử dụng khá phổ biến.
Cách tiến hành: Cho chì tác dụng với thuốc thử dithizon ñể tạo phức chì
dithizonat Pb(C13H12N4S)2 ở pH = 6,0.
Pb2+ + 2H2Dz(xanh) = Pb(HDz)2 (ñỏ) + 2H+
Phức này khó tan trong nước nhưng lại tan dễ trong dung môi hữu cơ nên
người ta chiết phức ñó bằng CCl4, ño ñộ hấp thụ quang của phức chì ở 510 nm.
Giới hạn phát hiện của phép ño là 0,05 ppm ñối với chì.
Phương pháp trắc quang có ñộ nhạy, ñộ ổn ñịnh và ñộ chính xác khá cao,
ñược sử dụng nhiều trong phân tích vi lượng. Tuy nhiên với việc xác ñịnh Pb
trong nước thì lại gặp rất nhiều khó khăn do ảnh hưởng của một số ion kim loại
tương tự. Khi ñó phải thực hiện các công ñoạn che, tách phức tạp.
Hiện nay ñã có nhiều phương pháp xác ñịnh ion kim loại Pb trong nước
cho ñộ nhạy và ñộ chính xác cao, thời gian phản tích nhanh, thao tác ñơn giản
chẳng hạn như: Phương pháp hấp thụ hoặc phát xạ nguyên tử, phương pháp cực
phổ, phương pháp phổ khối lượng...
1.4.3. Các phương pháp xác ñịnh asen [7,8,23,26,327]
21
1.4.3.1. Phương pháp tách và làm giàu asen
Một số hợp chất của asen dễ bay hơi, dẫn ñến sự mất trong phân tích, asen
bị mất trong quá trình ñun nóng (asen (III) và ngay cả asen (V) khi có mặt
việc xác ñịnh asen.
- Chiết bằng dung môi hữu cơ
AsCl3 ñược chiết khá tốt từ dung dịch HCl với tetraclorua cacbon, benzen
và cloruafom. Tỷ lệ phần trăm chiết phụ thuộc vào nồng ñộ của dung dịch HCl.
Asen ñược chiết tới 88% trong môi trường nước – axit sunfuric ñặc – axit
clohidric. Asen (III) ñược chiết với iodua dưới dạng hợp chất AsI3 bằng CCl4
hoặc CHCl3. Ngoài ra những tác nhân chứa nhóm thiol và thione cũng ñược sử
dụng rộng rãi ñể xác ñịnh asen. Asen cũng ñược tách khỏi ion kim loại bằng sắc
ký khí trao ñổi ion.
1.4.3.2. Phương pháp xác ñịnh asen
Phương pháp thông thường nhất ñể xác ñịnh asen là sử dụng phản ứng tạo
axit heteropoly molipdoasenic, có màu vàng và sau ñó bị khử thành
molipdoasenic có màu xanh.
Xác ñịnh asen bằng bạc ñietyl ñithiocacbamat: Asen trong dung dịch bị
khử thành asin, ñược chưng cất và bị hấp thụ trong dung dịch pyridin hoặc
clorofoc chứa bạc. Dải màu của dung dịch phụ thuộc vào tỷ lệ giữa Ag với Asen.
Phản ứng này xảy ra như sau:
AsH3 + 6 (C2H5)2NCSSAg →
23
6Ag + 3(C2H5)2NCSSH + [(C2H5)2NCSS]3As
Phương pháp này ñược sử dụng rộng rãi ñể xác ñịnh asen trong các
sunfua, axit sunfuric, axit photphoric, các chất hữu cơ, các chất khoáng và trong
nước.
Hiện nay ñã có nhiều phương pháp xác ñịnh asen cho ñộ nhạy và ñộ chính
xác cao, thời gian phản tích nhanh, thao tác ñơn giản chẳng hạn như: Phương
pháp hấp thụ hoặc phát xạ nguyên tử, phương pháp kích hoạt notron...
1.5. Tổng quan về xử lý mẫu [9,15]
Trong các mẫu phân tích các chất cần xác ñịnh tồn tại trong các trạng thái
- Thời gian xử lý nhanh
- Không phải ñuổi axit dư lâu, nên hạn chế ñược sự nhiễm bẩn do môi
trường
- Phù hợp cho nhiều loại mẫu khác nhau ñể xác ñịnh kim loại
- Không cần trang bị phức tạp
- Phương pháp vô cơ hóa mẫu khô - ướt kết hợp ñã phát huy ñược ưu ñiểm
và khắc phục ñược nhược ñiểm của phương pháp vô cơ hóa mẫu khô và vô cơ
hóa mẫu ướt.
1.6. Khái quát về vùng nghiên cứu [27,28]
Hà Tĩnh trải dài từ 17°54’ ñến 18°50’ vĩ Bắc và từ 103°48’ ñến 108°00’
kinh ðông. Phía bắc giáp tỉnh Nghệ An, phía nam giáp tỉnh Quảng Bình, phía
tây giáp nước Lào, phía ñông giáp biển ðông.
25
Kỳ Anh là một huyện thuộc tỉnh Hà Tĩnh, phía nam và tây của huyện giáp
tỉnh Quảng Bình, phía bắc giáp huyện Cẩm Xuyên, phía ñông giáp biển ðông.
ðịa hình ñồi núi, ở phía tây có ðộng Chúa (545 m), phía nam là dãy Hoành
Sơn có ñỉnh cao 1.044 m; ñồng bằng ven biển hẹp. Có sông Rào Trò chảy qua.
Bờ biển dài 63 km, có Khu Kinh Tế Cảng Vũng Áng, có cửa Khẩu, mũi
Ròn (230 m), ngoài khơi có ðảo Sơn Dương, hòn Chim.
Khu công nghiệp Vũng Áng là một khu kinh tế của Việt Nam tại huyện
Kỳ Anh, phía Nam tỉnh Hà Tĩnh, cách thị xã Hồng Lĩnh 70 km về phía Nam.
Khu kinh tế Vũng Áng ñược thành lập vào tháng 4 năm 2006 trên cơ sở khu
công nghiệp - cảng biển Vũng Áng ñã ñược thành lập từ năm 1997. ðây là một
bộ phận của khu ñô thị Vũng Áng và vùng kinh tế Bắc Quảng Bình - Nam Hà
Tĩnh.
Hình 1: Bản ñồ quy hoạch chung về khu công nghiệp Vũng Áng ñến năm 2025
Mục ñích thành lập khu kinh tế Vũng Áng là khai thác lợi thế vị trí ñịa lý