BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
---NGUYỄN THỊ HỒNG SANG
NGHIÊN CỨU VẬN DỤNG DẠY HỌC
DỰ ÁN MỘT SỐ KIẾN THỨC
CHƯƠNG “TỪ TRƯỜNG” VẬT LÝ 11 THPT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN – 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
----
NGUYỄN THỊ HỒNG SANG
NGHIÊN CỨU VẬN DỤNG DẠY HỌC
DỰ ÁN MỘT SỐ KIẾN THỨC
CHƯƠNG “TỪ TRƯỜNG” VẬT LÝ 11 THPT
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PPDH BỘ MÔN VẬT LÝ
MÃ SỐ: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
Nghệ An, ngày 06 tháng 06 năm 2012
Nguyễn Thị Hồng Sang
4
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4. Giả thuyết khoa học
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
6. Phương pháp nghiên cứu
7. Đóng góp mới của luận văn
8. Cấu trúc của luận văn
Chương 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ DẠY HỌC DỰA
1
1
2
2
2
2
3
3
3
4
16
17
17
17
1
1.3.4. Các đặc điểm của bài học thiết kế theo dự án có hiệu quả
1.4. Hồ sơ bài dạy trong PBL
8
19
21
1.4.1. Ý tưởng thiết kế dự án
1.4.2. Xây dựng kế hoạch, thiết kế kịch bản
1.4.3. Hướng dẫn HS tổ chức hoạt động trong nhóm
1.4.4. Bộ câu hỏi định hướng trong PBL
21
23
2
8
3
0
5
1.4.5. Sản phẩm của học sinh
1.4.6. Tổng kết và đánh giá
XÂY DỰNG KẾ HOẠCH DẠY HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC
CHƯƠNG “TỪ TRƯỜNG” VẬT LÝ 11 THPT THEO TINH
THẦN DẠY HỌC DỰ ÁN
2.1. Ý tưởng sư phạm về kế hoạch vận dụng PBL chương “Từ 41
trường” Vật lý 11 THPT theo tinh thần PBL
2.1.1. Vị trí, đặc điểm của chương “Từ trường” Vật lý 11
2.1.2. Mục tiêu dạy học của chương “Từ trường” Vật lý 11
42
41
2.1.3. Cấu trúc lô-gíc của chương “Từ trường” Vật lý 11 THPT 44
...2.1.4. Tóm tắt nội dung của chương “Từ trường” Vật lý 11 THPT
45
2.2. Thiết kế ý tưởng dự án từ mục tiêu nội dung dạy học của 46
chương “Từ trường” Vật lý 11 THPT
2.2.1. Ý tưởng thực hiện dự án 1: “Sự bất hòa của các thiết bị tiêu 46
thụ điện”
2.2.2. Ý tưởng thực hiện dự án 2:”Ai là dũng sĩ diệt đinh?”
47
2.3. Xây dựng kế hoạch dạy học một số kiến thức chương “Từ 4
trường” Vật lý 11 THPT theo tinh thần PBL
2.3.1. Xây dựng bộ câu hỏi định hướng
2.3.2. Thiết kế nhóm. Giao nhiệm vụ. Triển khai kế hoạch
2.3.3. Hồ sơ đánh giá. Tự đánh giá
2.3.4. Tài liệu
6
69
69
69
7
3.3. Nội dung thực nghiệm
0
7
3.3.1. Công tác chuẩn bị
0
7
0
7
3.3.2. Tiến hành thực nghiệm
3.4. Kết quả thực nghiệm sư phạm
0
72
3.4.1. Kết quả về mặt định lượng
3.4.2. Kiểm định thống kê
Kết luận chương 3
KẾT LUẬN
72
77
Giáo viên
HS
Học sinh
TN
Thực nghiệm
ĐC
Đối chứng
MVT
Máy vi tính
TNSP
Thực nghiệm sư phạm
PP
Phương pháp
THPT
Trung học phổ thông
Thời gian qua, giáo dục nước ta đã và đang thực hiện những thay đổi toàn
diện từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, đến tổ chức thực hiện,
đánh giá. Trong đó, đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề có tính then chốt, là
hiện thực hóa việc đổi mới các yếu tố khác của quá trình giáo dục. Điều đó đã
được khẳng định trong luật giáo dục tại điều 28.2 Luật giáo dục năm 1992 ghi rõ:
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,
sáng tạo của học sinh; Phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; Bồi
dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; Rèn luyện kỹ năng
vận dụng kiến thức vào thực tiễn; Tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng
thú học tập cho học sinh”.
Vì vậy cần từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện
hiện đại vào trong quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự
nghiên cứu cho học sinh.
Từ năm 1996, giáo dục phổ thông nước ta bắt đầu thực hiện công cuộc đổi
mới toàn diện; Theo đó các phương pháp dạy học hiện đại trên thế giới cũng từng
bước được nghiên cứu vận dụng, trong đó có dạy học dự án (Project Based
Learning_PBL). Một cách chung nhất, dạy học dự án là một hình thức dạy học
thực hiện quan điểm dạy học định hướng vào người học và quan điểm dạy học
tích hợp. Dạy học dự án góp phần gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành
động, nhà trường và xã hội, tham gia tích cực vào việc đào tạo năng lực làm việc
tự lực, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh.
Đã có một số đề tài luận văn Thạc sĩ nghiên cứu vận dụng dạy học dự án
trong môn vật lý. Người học sẽ học tập tích cực hơn nếu các kiến thức được
vận dụng vào giải quyết những vấn đề cụ thể, thực tế, điều đó làm cho các kiến
thức trở nên có nghĩa đối với người học, khơi dậy lòng say mê, hứng thú ở các
em. Với mục đích trang bị cho học sinh kiến thức cơ bản vững chắc, rèn luyện
kỹ năng giải quyết các vấn đề thực tế đặt ra, khơi dậy tính tích cực, tự chủ của
học sinh thì việc tổ chức dạy học dự án sẽ đem lại hiệu quả cao.
Qua tìm hiểu, tôi thấy chương “Từ trường” (Vật lý 11 THPT) có vị trí cơ
bản và rất quan trọng trong toàn bộ chương trình Vật lý 11, có nhiều khả năng
5.6. Thực nghiệm sư phạm, ghi nhận và đánh giá kết quả nghiên cứu.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận: Tham khảo, nghiên cứu các lý thuyết, tài liệu về các
vấn đề liên quan đến việc giải quyết các nhiệm vụ của đề tài.
- Nghiên cứu thực tiễn
10
- Điều tra, khảo sát về việc nghiên cứu ứng dụng và ứng dụng.
- Thực nghiệm sư phạm.
7. Đóng góp mới của luận văn
- Xây dựng được hai bộ hồ sơ dạy học ứng với hai dự án thuộc hai bài " Sự
từ hóa các chất, sắt từ” và “ Từ trường của một số dòng điện có dạng đơn
giản" chương "Từ trường".
- HS tạo được sản phẩm học tập (theo nhóm) và trình diễn bảo vệ kết quả
bằng sự hỗ trợ của CNTT: mỗi dự án có 4 bài trình diễn bằng Powerpoint ứng với
4 nhóm.
- HS tạo được sản phẩm vật chất: thiết bị hút đinh thép trên đường phố.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, phần nội
dung của đề tài được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Lý thuyết về dạy học dựa trên dự án (PBL), gồm
Chương 2: Thiết kế tiến trình dạy học một số kiến thức chương “Từ
trường” theo tinh thần PBL, gồm
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm, gồm
Ngoài ra còn có phần phụ lục bao gồm
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ DẠY HỌC DỰA TRÊN DỰ ÁN (PBL)
1.1.
sáng tạo vào thực tế cuộc sống. Học theo dự án còn là hoạt động tìm hiểu sâu về
một chủ đề cụ thể với mục tiêu tạo cơ hội để học sinh thực hiện nghiên cứu vấn đề
thông qua việc kết nối các thông tin, phối hợp nhiều kỹ năng, thái độ nhằm xây
dựng kiến thức, phát triển tư duy và thái độ học tập suốt đời. Quá trình học theo dự
án giúp học sinh củng cố kiến thức và xây dựng các kỹ năng hợp tác, giao tiếp và
học tập độc lập suốt đời. Các chủ đề trong dạy học theo dự án chủ yếu liên quan
đến việc học tập và các hiện tượng trong cuộc sống hàng ngày của các em, có thể
nằm trong các môn học tích hợp hoặc nằm ngoài chương trình. Cần phân biệt dạy
học dựa trên dự án với dạy học dựa trên vấn đề PBL (Problem Based Learning).
Theo K.Frey, học giả hàng đầu về PBL của Cộng hòa Liên bang Đức cho
rằng: “PBL là một hình thức của hoạt động học tập trong đó, nhóm người học xác
định một chủ đề làm việc, thống nhất về một nội dung làm việc, tự lập kế hoạch
và tiến hành công việc để dẫn đến một sự kết thúc có ý nghĩa, thường xuất hiện
một sản phẩm có thể trình ra được” [20].
Đối với một số nhà nghiên cứu về PBL của Hoa Kỳ như Thomas,
Mergendoller hay Michaelson thì “PBL là một mô hình tổ chức học tập xung
12
quanh dự án. Các dự án có nhiệm vụ phức tạp, dựa trên các câu hỏi hay vấn đề
đầy thử thách, đòi hỏi HS phải thiết kế, giải quyết vấn đề, hoặc tiến hành các hoạt
động điều tra; Nó cung cấp cho HS cơ hội để làm việc tự lực trong một khoảng
thời gian và kết quả cuối cùng là tạo ra các sản phẩm thực tế hoặc các bài thuyết
trình trước lớp học” [21].
Vậy PBL có thể hiểu là một hình thức dạy học, trong đó người học thực
hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, có
tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu. Nhiệm vụ này được người học thực hiện với
tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế
hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết
quả thực hiện, làm việc nhóm là hình thức cơ bản của dạy học dự án.
- Giai đoạn 1: Chọn đề tài và xác định mục đích của dự án
Giáo viên và học sinh cùng nhau đề xuất ý tưởng, xác định mục đích của
dự án. Giáo viên cần tạo ra một tình huống có vấn đề, hoặc đặt ra một nhiệm vụ
cần phải giải quyết. Trong đó, GV cần chú ý đến việc liên hệ với hoàn cảnh thực
tiễn xã hội đời sống và hứng thú của người học cũng như ý nghĩa xã hội của đề
tài và GV có thể giới thiệu một số hướng đề tài để HS lựa chọn và cụ thể hoá.
Trong trường hợp thích hợp, sáng kiến về việc xác định đề tài có thể xuất phát từ
phía HS. Giai đoạn này được K.Frey mô tả thành hai giai đoạn là đề xuất sáng
kiến và thảo luận sáng kiến.
- Giai đoạn 2: Xây dựng kế hoạch thực hiện
Trong giai đoạn này, HS sẽ xây dựng đề cương cũng như kế hoạch cho
việc thực hiện dự án dưới sự hướng dẫn của GV. Trong việc xây dựng kế hoạch,
thầy và trò cần xác định những công việc cần làm, thời gian dự kiến, vật liệu,
kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công công việc trong nhóm.
- Giai đoạn 3: Thực hiện dự án
Các thành viên sẽ thực hiện công việc đúng theo kế hoạch đã đề ra cho
nhóm và cá nhân. Trong giai đoạn này, HS thực hiện các hoạt động tư duy và
hoạt động thực tiễn, những hoạt động này xen kẽ nhau và có sự tác động qua lại.
Kiến thức lý thuyết, các phương án giải quyết vấn đề được thử nghiệm qua thực
tiễn. Trong quá trình đó sản phẩm của dự án và thông tin mới được tạo ra.
- Giai đoạn 4: Thu thập kết quả và công bố sản phẩm
Kết quả của việc thực hiện dự án có thể viết dưới dạng bài báo cáo, luận
văn. Trong nhiều dự án các sản phẩm vật chất được tạo ra qua hoạt động thực
hành. Sản phẩm của dự án có thể là những hành động phi vật chất, chẳng hạn
việc biểu diễn một vở kịch, việc tổ chức sinh hoạt nhằm tạo ra các tác động xã
14
hội. Sản phẩm của dự án có thể được trình bày giữa các nhóm HS, có thể được
Tài liệu hỗ trợ
Theo dõi, đôn đốc
Triển khai dự án
Xử lý thông tin
Trình bày
Kết quả
Kết thúc dự án
Đánh giá
Sơ đồ 1: Cấu trúc dạy học dự án
16
Hình thành ý tưởng dự án
Hình thành
lại ý tưởng
Phân tích ý tưởng dự án
( Kết quả là dự thảo đề án)
Không khả thi
Lập kế hoạch dự án
(Kết quả là kế hoạch dự án)
Không khả thi
Thực hiện dự án
Kết thúc dự án
Không đạt
Kết thúc theo dự án
- Dự án ngoài chuyên môn: là dự án không phụ thuộc trực tiếp vào các môn
học.
Phân loại theo sự tham gia của người học: dự án cho nhóm HS, dự án cá
nhân. Dự án dành cho nhóm HS là hình thức dự án dạy học chủ yếu. Trong trường
phổ thông còn có dự án toàn trường, dự án dành cho một khối lớp, dự án cho một
lớp học.
Phân loại theo sự tham gia của GV: dự án dưới sự hướng dẫn của một
GV, dự án với sự cộng tác hướng dẫn của nhiều GV.
Phân loại theo quỹ thời gian: K.Frey đề nghị cách phân chia như sau:
- Dự án nhỏ: thực hiện trong một số giờ học, có thể từ 2 đến 6 giờ học.
- Dự án trung bình: dự án trong một hoặc một số ngày (“Ngày dự án”),
nhưng giới hạn là một tuần hoặc 40 giờ học.
- Dự án lớn: dự án thực hiện với quỹ thời gian lớn, tối thiểu là một tuần
(hay 40 giờ học), có thể kéo dài nhiều tuần (“Tuần dự án”). Cách phân chia theo
thời gian này thường áp dụng ở trường Phổ thông. Trong đào tạo Đại học, có thể
quy định quỹ thời gian lớn hơn.
Phân loại theo nhiệm vụ
Dựa theo nhiệm vụ trọng tâm của dự án, có thể phân loại các dự án theo các
dạng sau:
- Dự án tìm hiểu: là dự án khảo sát thực trạng đối tượng.
- Dự án nghiên cứu: nhằm giải quyết các vấn đề, giải thích các hiện tượng, các
quá trình.
- Dự án kiến tạo: tập trung vào việc tạo ra các sản phẩm vật chất hoặc thực
hiện một kế hoạch hành động thực tiễn, nhằm thực hiện những nhiệm vụ như trang
18
trí, trưng bày, biểu diễn, sáng tác.
- Dự án hỗn hợp: là các dự án có nội dung kết hợp các dạng nêu trên.
Các loại dự án trên không hoàn toàn tách biệt với nhau. Trong từng lĩnh
Chú trọng hình thành các
năng, kĩ xảo. Học để đối phó với năng lực (sáng tạo, hợp tác...)
thi cử. Sau khi thi xong những kĩ năng tư duy bậc cao, dạy
điều đã học thường bị bỏ quên phương pháp và kỹ thuật lao
hoặc ít dùng đến.
động khoa học, dạy cách học.
Mục tiêu
Học để đáp ứng các yêu cầu
của cuộc sống hiện tại và
tương lai. Những điều đã học
cần thiết, bổ ích cho bản thân
HS và cho sự phát triển của xã
hội.
Người phân xử, người nói,
Người huấn luyện, người
Giáo viên
chuyên gia.
hướng dẫn, chuyên gia, người
học.
19
Thụ động lắng nghe, người mô
“Vấn đề”
sinh từ chương trình học, nhiều từ cuộc sống thực vì thế hấp
bài học
khi không hấp dẫn, không thiết dẫn, thiết thân, thiết thực với
Nội dung
thực với HS.
HS.
Kiến thức riêng của từng môn Kiến thức liên ngành, thực tế.
học, trừu tượng, toàn diện.
Hoạt
động học
Hoạt động cá nhân.
Hoạt động nhóm.
Đánh giá tuyển chọn. Đánh giá
Thăm dò, dựa trên dạng bài
tập
Đánh giá
Môi
Cố định: giới hạn trong 4 bức
Cơ động, linh hoạt: học ở
tường của lớp học, GV đối diện lớp, ở phòng thí nghiệm, ở
với cả lớp.
hiện trường, trong thực tế; học
20
cá nhân, học theo nhóm; cả
lớp đối diện với GV.
1.2.4. Vai trò của giáo viên trong việc thiết kế dự án
1.2.4.1. Thiết kế mục tiêu học tập
Mục tiêu DH cụ thể là tiêu điểm mà GV mong muốn đạt được khi DH một
kiến thức cụ thể. Việc xác định mục tiêu DH của từng đơn vị kiến thức cần xác
định rõ mục tiêu đặt ra không chỉ đối với kết quả HS đạt được sau khi học mà cả
đối với hoạt động học của HS trong quá trình chiếm lĩnh tri thức.
Việc thiết kế mục tiêu của GV phải căn cứ vào chuẩn kiến thức kĩ năng và
yêu cầu về thái độ trong chương trình. Mục tiêu học tập của bài học được thiết kế
theo một số qui tắc sau:
-Mục tiêu luôn được diễn đạt thông qua người học
-Bảo đảm tính chất toàn vẹn của bài học hoặc chủ đề học tập, đúng với
khái niệm mà bài học hoặc chủ đề đó phản ánh.
-Bao quát đủ ba lĩnh vực tổng quát của học tập, cả quá trình lẫn kết quả
hay thành tựu học tập về kiến thức, kĩ năng, thái độ.
-Các yếu tố trong mục tiêu được mô tả dưới hình thức những hành vi cử
chỉ quan sát được. [18]
1.2.4.2. Thiết kế nội dung học tập
Thiết kế nội dung học tập theo quan điểm PBL, GV cần:
- Xác định bối cảnh học tập. Xác định bối cảnh học tập là tìm kiếm lời giải
-Các hoạt động xử lí, biến đổi và phát triển sự kiện, vấn đề: từ sự kiện mới
sẽ nảy sinh quá trình tư duy, suy luận, và khái quát hóa của người học. HS sẽ tiến
hành xử lí, biến đổi dữ liệu, thông tin và giá trị đã thu nhận được giúp người học
phát triển kĩ năng trí tuệ và kĩ năng học tập.
-Các hoạt động ứng dụng, củng cố: thông qua hành động thực tế trong các
tình huống HS phải hoàn tất một công việc cụ thể. Có thể đó là nghiên cứu cá
nhân hoặc nhóm về một chủ đề, viết và trình bày một báo cáo, tiến hành một thực
nghiệm thăm dò hoặc chứng minh…Các hoạt động này có chức năng hoàn thiện
tri thức và kĩ năng đã lĩnh hội được, củng cố những điều đã được học bằng công
việc.
-Các hoạt động đánh giá, điều chỉnh: đánh giá quá trình và kết quả, giúp
người học nhận thức rõ kết quả học tập, những thành công và thiếu sót của mình,
từ đó điều chỉnh nội dung và cách học, phát triển những ý tưởng mới. Hoạt động
đánh giá là yếu tố tác động mạnh mẽ đến quá trình học tập của học sinh, nhất là
tính tích cực học tập.
22
1.2.4.4. Thiết kế môi trường học tập
Bản chất của việc thiết kế môi trường học tập là tổ chức tất cả những yếu
tố thiết kế ở trên hệ thống các tình huống vật chất mà người dạy và người học có
thể trực tiếp tác động đến và qua đó tác động với nhau. Có thể kể đến các môi
trường sau:
- Môi trường trên lớp: có thể thiết kế môi trường làm việc cá nhân, làm
việc theo nhóm, theo tổ, môi trường thực hành cả lớp, môi trường tiết học trong
đó người học nghiên cứu và giải quyết vấn đề. Căn cứ vào việc xác định môi
trường làm việc mà GV quyết định cách bố trí bàn ghế, bảng, bàn thí nghiệm,
dụng cụ thí nghiệm, máy tính…theo các sơ đồ khác nhau.
- Môi trường trò chơi: là môi trường không được tổ chức quy cũ như giờ
lên lớp, mang tính chất tự do hơn. Những yếu tố đáng chú ý nhất trong môi
án, phỏng vấn, quan sát, nhật kí, viết bài luận, thi vấn đáp, kiểm tra. Những đánh
giá có thể do GV hoặc giữa HS với nhau thực hiện.
1.2.5. Vai trò của HS trong PBL
Trong các lớp học PBL, các dự án thường được thực hiện bởi các nhóm
nhỏ HS trong lớp, đôi khi cả lớp và đôi khi bởi cá nhân một HS. Mục tiêu chính
của dự án là để tìm câu trả lời về chủ đề do GV, HS hoặc GV cùng HS đặt ra. Khi
HS nhận được bài tập hoặc những thông tin chi tiết về dự án của mình, HS quyết
định cách tiếp cận vấn đề và các hoạt động cần phải tiến hành để giải quyết vấn
đề. Chính HS là người thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau, rồi tổng hợp,
phân tích, và tích lũy kiến thức từ quá trình làm việc của các em. Bằng cách này,
mỗi bài học đều thật sự hấp dẫn đối với HS vì vấn đề mà họ đang giải quyết là
vấn đề có thật trong đời sống, việc giải quyết vấn đề đòi hỏi những kỹ năng của
“người lớn” như sự cộng tác và diễn giải. HS cũng là “người trình bày” kiến thức
mới mà họ đã tích lũy thông qua dự án và được đánh giá dựa trên những gì đã thu
thập được, tính khúc chiết và hợp lý trong cách thức trình bày của các em.
PBL tạo ra nhiều cơ hội học tập liên ngành. HS áp dụng và kết hợp nội
dung các lĩnh vực, chủ đề khác nhau vào những thời điểm xác thực trong quá
trình học tập thay vì trong một môi trường tách biệt và nhân tạo. Hầu hết những
vấn đề của thế giới hiện thực đều mang tính cố hữu, liên ngành. Điều đó cho thấy
giá trị của cách dạy giải quyết vấn đề trong bối cảnh liên ngành và cung cấp cho
HS những công cụ hỗ trợ liên ngành để giải quyết vấn đề.
Hoạt động dự án cũng làm thay đổi vai trò của HS. Có nhiều HS có thể
không quen thể hiện vai trò năng động trong lớp học nhưng trong các dự án, HS
được đưa ra nhiều quyết định, được cộng tác làm việc, được đưa ra sáng kiến,
được trình bày trước đám đông, và trong nhiều trường hợp, HS được thiết lập
24
kiến thức riêng cho bản thân. Mặc dù lúc đầu có thể là thách thức lớn nhưng hầu
hết HS đều nhận thấy công việc dự án này rất có ý nghĩa, có liên quan thực tế đến
25