BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
____________
LÊ VĂN NHUNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CƠ CHẾ QUẢN LÝ CÁC
CƠ SỞ GIÁO DỤC CHUYÊN NGHIỆP CÔNG LẬP
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành
: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số
: 60. 14. 05
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. PHẠM MINH HÙNG
VINH, 2010
i
LỜI CÁM ƠN
Xin chân thành cám ơn
- PGS. TS. Phạm Minh Hùng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ cho tác giả có
điều kiện học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Tác giả cũng xin chân thành cám ơn:
CBQLGD
Cán bộ quản lý giáo dục
ĐH
Đại học
GD&ĐT
Giáo dục và Đào tạo
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
GDCN
Giáo dục chuyên nghiệp
GDNN
Giáo dục nghề nghiệp
KN
Trang
Bảng 3.1. Cơ cấu chuyên gia và kết quả thu hồi phiếu thăm dò lần 1
69
Bảng 3.2. Kết quả lần 1 về nhóm giải pháp cơ chế nhân sự
69
Bảng 3.3. Kết quả lần 1 về nhóm giải pháp cơ chế tài chính
70
Bảng 3.4. Kết quả lần 1 về nhóm giải pháp quan hệ quốc tế
71
Bảng 3.5. Cơ cấu chuyên gia và kết quả thu hồi phiếu thăm dò lần 2
71
Bảng 3.6. Kết quả lần 2 về nhóm giải pháp cơ chế nhân sự
72
Bảng 3.7. Kết quả lần 2 về nhóm giải pháp cơ chế tài chính
73
75
iv
MỤC LỤC
Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài:
01
2. Mục đích nghiên cứu
02
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
02
4. Giả thiết khoa học
03
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
03
6. Giới hạn đề tài
NGHIỆP
19
Kết luận chương 1
29
Chương 2
CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ĐỔI MỚI CƠ CHẾ QUẢN LÝ
CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC CHUYÊN NGHIỆP CÔNG LẬP
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
30
2.1. KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH TẾ VÀ HOẠT ĐỘNG GIÁO
DỤC CHUYÊN NGHIỆP CÔNG LẬP TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
v
30
2.2. NHU CẦU XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGUỒN NHÂN LỰC CỦA
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
33
2.3. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC CHUYÊN
NGHIỆP CÔNG LẬP TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Kết luận chương 3
76
Kết luận và kiến nghị
77
Kết luận
77
Kiến nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
79
PHỤ LỤC
86
vi
MỞ ĐẦU
4. Lý do chọn đề tài:
Việt Nam chúng ta đã là thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế
giới (World Trade Organization, WTO). Đây là thời cơ nhưng đồng thời cũng là
thách thức hết sức nghiệt ngã trong quá trình hội nhập. Thành phố Hồ Chí Minh
thực hiện 11/12 lĩnh vực của Hiệp định chung về dịch vụ thương mại (The
General Agreement on Trade in Services, GATS), trong đó có “dịch vụ giáo
dục”. Với chủ trương xã hội hóa hoạt động văn hóa, giáo dục của Đảng và Nhà
nước, hàng loạt các cơ sở đào tạo ngoài công lập từ trung cấp đến cao đẳng, đại
học ra đời và hoạt động có hiệu quả trong việc tham gia đào tạo đội ngũ kỹ
thuật viên, công nhân lành nghề cho thành phố. Tuy nhiên, bên cạnh các cơ sở
GDCN (bao gồm các trường TCCN, cao đẳng và đại học có đào tạo TCCN)
ngoài công lập, các cơ sở GDCN công lập của thành phố vẫn đóng vai trò hạt
nhân, được định hướng và đầu tư của thành phố trong việc thực hiện sứ mạng
đào tạo nguồn nhân lực. Việc đổi mới cơ chế quản lý các cơ sở GDCN công lập
của thành phố là yêu cầu khách quan trong quá trình hội nhập khu vực và thế
giới. Đó là lý do tác giả chọn đề tài “Một số giải pháp đổi mới cơ chế quản lý
các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp công lập tại thành phố Hồ Chí Minh”..
5. Mục đích nghiên cứu
Nhằm nâng cao hiệu quả quản lý các cơ sở GDCN công lập ở thành phố
Hồ Chí Minh.
6. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Vấn đề quản lý các cơ sở GDCN công lập ở thành phố Hồ Chí Minh.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Một số giải pháp đổi mới cơ chế quản lý các cơ sở GDCN công lập ở thành
phố Hồ Chí Minh.
viii
4. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được các giải pháp đổi mới cơ chế quản lý có cơ sở khoa
học và có tính khả thi thì có thể nâng cao hiệu quả quản lý các cơ sở GDCN
công lập ở thành phố Hồ Chí Minh.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
8.1. Về mặt lý luận
Luận văn đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về đổi mới cơ chế quản lý cỏc cơ
sở GDCN cụng lập; làm rõ những đặc trưng trong quản lý đổi mới cơ chế quản
lý cỏc cơ sở GDCN cụng lập.
8.2. Về mặt thực tiễn
Luận văn đã khảo sát tương đối toàn diện cơ chế quản lý cỏc cơ sở
GDCN cụng lập tại thành phố Hồ Chớ Minh, từ đó đề xuất các giải pháp có cơ
sở khoa học và có tính khả thi để nõng cao hiệu quả quản lý các cơ sở GDCN
cụng lập ở thành phố Hồ Chớ Minh.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục nghiên cứu, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài.
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của đề tài.
Chương 3: Một số giải pháp đổi mới cơ chế quản lý các cơ sở GDCN công
lập ở thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 1
CƠ SỞ Lí LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1. GDCN ở một số nước trên thế giới
1.1.1.1. GDCN ở Cộng hòa Pháp
x
Trong hệ thống giáo dục của Cộng hòa Pháp, GDCN được thể hiện qua
hình thức bậc Cao trung. Với bậc học này, người học được lựa chọn bậc Cao
trung phổ thông, Cao trung chuyên nghiệp hoặc Cao trung nghề. Hiện ở bậc
Cao trung phổ thông có 8 ban, Cao trung chuyên nghiệp có 22 ban và Cao trung
nghề có hàng trăm nghề khác nhau. Với bậc học này, theo chương III, Luật về
định hướng giáo dục 1989 [24], ngành giáo dục của Cộng hòa Pháp cam kết có
1. Thỏa mãn nhu cầu nhân lực với trình độ và kỹ năng bậc trung cho
những ngành kinh tế đang và mới phát triển.
2. Đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
3. Giảm sức ép đang gia tăng đối với giáo dục đại học thông qua việc
phân luồng một tỉ lệ HS hợp lý.
4. Nâng cao phẩm giá của người lao động và giảm thất nghiệp.
5. Phát triển tinh thần tự lực tự chủ và khả năng tạo việc làm.
Kết cấu chương trình gồm hai phần: chương trình cốt lõi (core
curriculum) và chương trình tự chọn. Chương trình cốt lõi gồm các môn ngôn
ngữ, khoa học cơ bản và giáo dục thể chất. Chương trình tự chọn có thể bao
gồm: nông nghiệp, kinh doanh, thương mại, chăm sóc sức khỏe, kinh tế gia
đình, âm nhạc, công nghệ … Điều đáng chú ý là tỉ lệ thời gian giữa chương
trình cốt lõi chỉ chiếm 30% so với 70% của chương trình tự chọn [25].
1.1.1.4. GDCN Thái Lan
GDCN tại Thái Lan nằm trong hệ thống giáo dục chính quy, do Vụ Giáo
dục Dạy nghề thuộc bộ Giáo dục phụ trách. Bậc học này có chức năng dạy nghề
cho HS tốt nghiệp phổ thông. Việc quản lý bậc học này tại Thái Lan được chia
thành 3 cấp: cấp trung ương (quốc gia); cấp khu vực (vùng) và cấp địa phương.
Cấp khu vực chia thành 3 cơ quan quản lý: cơ quan giáo dục vùng, cơ quan giáo
xii
dục tỉnh và cơ quan giáo dục huyện. Các trường thuộc lĩnh vực GDCN do cơ
quan giáo dục cấp tỉnh quản lý. HS tốt nghiệp các trường này chia thành 4 cấp
độ tùy theo thời gian học tập: lao động bán lành nghề, lao động lành nghề, mức
độ bán chuyên nghiệp và mức độ chuyên nghiệp [10].
1.1.1.5. GDCN ở Nhật Bản
Từ năm 1868 đến năm 1984, Nhật Bản đã tiến hành 3 lần cải cách giáo
dục, đặc biệt lần cải cách thứ 3 (1984) Nhật Bản đã xác định các mục tiêu giáo
thống chính sách mới bao gồm các yếu tố:
- Thu kinh phí đóng góp.
- Thu lợi nhuận từ GDCN đem lại.
- Đề cao chương trình dạy nghề theo nhu cầu thị trường.
- Nâng cao hiệu quả huấn luyện nghề nghiệp.
- Phát triển giáo dục theo hoàn cảnh địa phương.
- Đưa sự tham gia rộng rãi của cộng đồng vào vào việc quản lý giáo dục
và xây dựng kinh phí giáo dục (thực chất là xã hội hóa giáo dục) [27].
1.1.1.7. GDCN ở Hàn Quốc
Trong năm 1985, tại Hàn Quốc đã tiến hành cải cách giáo dục dưới sự
điều hành trực tiếp của Tổng thống Hàn Quốc, tập trung các nội dung sau:
1. Cải cách hệ thống trường học.
2. Cải cách hệ thống thi cử.
3. Các phương tiện dạy học trong nhà trường cần được hiện đại hóa và
cung cấp rộng rãi.
4. Nâng cao chất lượng đội ngũ GV.
5. Cập nhật nội dung và phương pháp dạy học.
6. Phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao.
7. Duy trì chương trình giáo dục đại học ở trình độ cao.
xiv
8. Giáo dục suốt đời sẽ được thể chế hoá nhằm đáp ứng các yêu cầu mới
của nền giáo dục.
9. Nhà trường cũng như các đơn vị hành chính địa phương được phân cấp
quản lý và điều hành.
10.Nâng mức đầu tư đáng kể cho giáo dục [27].
Với 10 nội dung trên, mục tiêu giáo dục Hàn Quốc vẫn là đào tạo nguồn
nhân lực phát triển toàn diện đáp ứng nhu cầu hiện đại hóa đất nước, và thực sự
với 30 trường THCN gồm các ngành công nghiệp, giao thông, bưu điện, sư
phạm, nông nghiệp, y tế…
Từ sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc năm 1954, với kế hoạch 5 năm lần
thứ nhất, hệ thống trường lớp THCN hình thành với tư cách là một bậc học độc
lập và phát triển nhanh chóng. GDCN trở thành một phân hệ khá hoàn chỉnh về
cơ sở đào tạo và ngành nghề đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân, có nhiều
nét tương đồng với mô hình THCN ở Liên xô cũ và các nước Đông Âu trước
đây. Ở Trung ương có 6 khối trường gồm Khối Công nghiệp, Khối Nông Lâm
Ngư nghiệp, Khối Kinh tế, Khối Sư phạm, Khối Y tế, Khối Văn hóa Nghệ
thuật. Ở địa phương, mỗi tỉnh thường có từ 3 đến 6 trường tùy theo quy mô dân
số.
* Giai đoạn từ năm 1954 đến 1975 ở miền Nam
Chính quyền Sài Gòn đã chú ý mở các trường lớp thuộc GDCN theo mô
hình phương Tây. Hệ thống này bao gồm các ngành chủ yếu về kỹ nghệ và dịch
vụ. Tổng cộng có 12 trường Kỹ thuật đệ nhị cấp và 20 trường Nông Lâm Súc.
Bên cạnh đó còn có hệ thống các trường đệ nhất cấp chủ yếu đào tạo nghề cùng
với 405 trường lớp tư nhân đào tạo cả THCN và đào tạo nghề. Hệ thống ngành
xvi
nghề đào tạo phát triển mạnh và rất phong phú gồm ngành Kinh tế gia đình
như: Nữ công gia chánh, Kế toán thương mai, Tiểu công nghệ, Mỹ nghệ và
Thời trang. Các ngành thuộc Kỹ nghệ như: Cơ khí ô tô – Diesel, Kỹ nghệ sắt,
Kỹ nghệ gỗ, Kỹ nghệ điện – điện tử, Công kỹ nghệ…
* Thời kỳ 1975 - 1985
Sau ngày thống nhất đất nước, mô hình GDCN ở miến Bắc gần như được
áp đặt vào miền Nam. Nhu cầu lao động kỹ thuật và cán bộ tăng nhanh, GDCN
trở nên cấp thiết. Từ 1975 – 1980, quy mô HS, số trường và GV đều tăng 1,5
đến 1,7 lần. Ngày 11/01/1979, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng
thể xã hội, liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ trách nhiệm và cuộc sống của mỗi
một con người.
Thực tế khái niệm quản lý được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực
khoa học, sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội. Do đối tượng quản lý rất đa
dạng, phong phú, phức tạp, tùy thuộc từng lĩnh vực hoạt động cụ thể và ở mỗi
giai đoạn phát triển xã hội khác nhau cũng có quan niệm khác nhau, nên định
nghĩa về quản lý cũng có sự khác nhau:
- Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam “ Quản lý là chức năng và hoạt động
của hệ thống có tổ chức thuộc các giới khác nhau (sinh học, kỹ thuật, xã hội),
bảo đảm giữ gìn một cơ cấu ổn định, duy trì sự hoạt động tối ưu và bảo đảm
thực hiện những chương trình và mục tiêu của hệ thống đó” [48; tr 580]
- Còn theo Mary Parker Follet, “quản lý là nghệ thuật khiến công việc được
thực hiện thông qua người khác” [ 9 ] .
- Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý là
tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến
xviii
khách thể quản lý ( người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức
đó vận hành và đạt được mục đích của mình” [7; tr 6 ].
- Theo Bách khoa toàn thư Liên Xô (cũ) : Quản lý là chức năng của hệ
thống có tổ chức với những bản chất khác nhau ( Kĩ thuật, sinh vật, xã hội) Nó
bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động.
- Định nghĩa kinh điển nhất : Quản lý là tác động có định hướng , có chủ
định của chủ thể quản lý ( người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản
lý) trong một số chức năng nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục
đích tổ chức.
- Theo quan điểm hệ thống: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định
hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả
mong muốn một cách hiệu quả nhất.
- Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch
hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm tổ chức, điều khiển và quản lý hoạt động
giáo dục của những người làm công tác giáo dục.
- “ Quản lý giáo dục là thực hiện các chức năng quản lý trong công tác
giáo dục, gồm: kế hoạch hóa; tổ chức; chỉ đạo; kiểm tra và đánh giá quá trình
giáo dục” [6].
Thực chất của quản lý giáo dục là quá trình tổ chức, điều chỉnh sự vận
hành của các yếu tố cơ bản sau đây:
- Đường lối, chiến lược phát triển giáo dục của đất nước;
xx
- Tập hợp những chủ thể và khách thể quản lý, bao gồm cán bộ quản lý
giáo dục, giáo viên và học sinh;
- Cơ sở vật chất ( đồ dùng, trang thiết bị dạy học, trường lớp...).
Nội dung quản lý là quản lý tất cả các yếu tố cấu thành quá trình giáo
dục, bao gồm: mục tiêu giáo dục; nội dung giáo dục; phương pháp giáo dục; tổ
chức giáo dục; người dạy, người học, trường sở và trang thiết bị; môi trường
giáo dục; các lực lượng giáo dục; kết quả giáo dục.
Bản chất của quản lý giáo dục là quản lý quá trình sư phạm, quá trình dạy
học diễn ra ở các cấp học, bậc học và tất cả các cơ sở giáo dục. Nơi thực hiện
quản lý quá trình sư phạm có hiệu quả nhất là nhà trường.
1.2.1.3. Cơ chế quản lý
i) Cơ chế
Theo từ điển Le Petit Larousse, cơ chế (mécanisme) là “cách thức hoạt
động của một tập hợp các yếu tố phụ thuộc vào nhau” [45].
Còn Từ điển tiếng Việt, cơ chế là “cách thức theo đó một quá trình thực
hiện” [46; tr.214].
Phạm trù cơ chế thường được sử dụng khi nói đến các quy định của cơ
quyết một vấn đề cụ thể” [46; tr.64].
Như vậy, khái niệm giải pháp tuy có những điểm chung với các khái niệm
trên nhưng nó cũng có điểm riêng. Điểm riêng cơ bản của thuật ngữ này là nhấn
mạnh đến phương pháp giải quyết một vấn đề, vì sự khắc phục khó khăn nhất
định. Trong một giải pháp có thể có nhiều biện pháp.
1.2.2.2. Giải pháp đổi mới cơ chế quản lý
Giải pháp đổi mới cơ chế quản lý là hệ thống các cách thức đổi mới cơ
chế quản lý, điều hành thể hiện qua các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà
xxii
nước hay các văn bản hành chính của các cơ quan quản lý nhà nước sao cho
mang lại kết quả cao nhất.
Từ đó, đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế quản lý thực chất là đưa ra các
cách thức đổi mới cơ chế quản lý.
1.3. KHÁI QUÁT VỀ GIÁO DỤC CHUYÊN NGHIỆP
1.3.1. Cơ sở giáo dục chuyên nghiệp
Năm 1993, Chính phủ ban hành Nghị định số 90/CP ngày 24/11/1993
quy định cơ cấu khung của hệ thống giáo dục quốc dân, hệ thống văn bằng
chứng chỉ về giáo dục và đào tạo của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam, trong đó quy định GDCN gồm có THCN, THN và đào tạo nghề. Theo
Luật Giáo dục năm 2005, GDCN thuộc lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp nằm
trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Trong đề tài này, khái niệm GDCN chỉ các trường TCCN (kể cả các
trường cao đẳng, đại học, học viện có đào tạo TCCN). Theo giới hạn của đề tài,
tác giả chỉ nghiên cứu các cơ sở GDCN công lập do Sở GD&ĐT thành phố Hồ
Chí Minh quản lý.
1.3.2. Nguyên tắc thiết lập hệ thống GDCN
Việc xây dựng hệ thống GDCN dựa vào các nguyên tắc sau đây:
trong và
ngoài nước
Nhiều
ngành nghề
đào tạo
Phương
pháp dạy
và học đa
dạng
Nhiều loại
hình
trường lớp
Hợp tác hài
hòa với sản
xuất và
doanh
nghiệp
1.3.3. Vị trí , vai trò của giáo dục chuyên nghiệp
Theo Từ điển Giáo dục học, Cơ sở GDCN thuộc lĩnh vực GDNN bậc trung
học, “dạy từ 3 đến 4 năm đối với người tốt nghiệp THCS, từ 1 đến 2 năm đối
với người tốt nghiệp THPT. Trường TCCN đào tạo kỹ thuật viên, nhân viên
nghiệp vụ có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp ở trình độ trung cấp” [47]. Theo
Nghị định số 90/CP ngày 24/11/1993 của Chính phủ, GDCN đào tạo trình độ
THCN có thời gian từ 3 đến 4 năm với đầu vào là THCS, ra trường HS có thể
được cấp bằng THCN hoặc THN. Trong thời gian từ năm 1993 đến năm 2001,
quy định chương trình giáo dục TCCN thể hiện mục tiêu giáo dục TCCN; quy
định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục TCCN,
phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với
xxv