Một số giải pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học cơ sở ở quận 12, thành phố hồ chí minh - Pdf 32

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRỊNH HỮU ĐỨC

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
Ở QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN
THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Nghệ An, 2012


2

MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Theo Luật Giáo dục 2005, mục tiêu của Giáo dục Trung học cơ sở (THCS) là
“Nhằm giúp HS củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học
vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và Hướng
nghiệp (HN) để tiếp tục học Trung học phổ thông (THPT), trung cấp, học nghề
hoặc đi vào cuộc sống lao động” [15; 7]. Nội dung giáo dục phổ thông cũng nêu rõ
“Giáo dục THCS phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở tiểu học, bảo
đảm cho HS có những hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt, toán, lịch sử dân
tộc; kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại
ngữ; có những hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và HN” [15;8].

còn thiếu. Công tác phối hợp với các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất, các cơ sở
GD&ĐT trên địa bàn để đẩy mạnh hoạt động GDHN cho HS còn hạn chế. Công tác
dạy nghề phổ thông (DNPT) ở trường THCS chỉ được xem là một hình thức cộng
điểm khuyến khích, chưa đáp ứng được mục tiêu giúp HS tìm hiểu nghề, làm quen
với một số kỹ năng lao động nghề nghiệp.
Để giải quyết vấn đề khoa học nêu trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Một số giải
pháp quản lý hoạt động GDHN cho HS THCS ở quận 12 thành phố Hồ Chí Minh”,
nội dung nghiên cứu của đề tài nhằm giúp HS có định hướng nghề nghiệp đúng đắn,
chọn được hướng đi phù hợp với nhu cầu của bản thân và nhu cầu xã hội.

2.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn đề xuất một số giải pháp quản lý
hoạt động GDHN cho HS THCS ở quận 12, thành phố Hồ Chí Minh.

3.KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
3.1.Khách thể nghiên cứu.
Vấn đề quản lý hoạt động GDHN cho HS THCS.
3.2.Đối tượng nghiên cứu:


4
Một số giải pháp quản lý hoạt động GDHN cho HS THCS ở quận 12, thành
phố Hồ Chí Minh.

4.GIẢ THUYẾT KHOA HỌC:
Có thể nâng cao hiệu quả của hoạt động GDHN cho HS THCS ở quận 12
thành phố Hồ Chí Minh, nếu đề xuất và thực hiện được các giải pháp quản lý có
tính khoa học và tính khả thi cao.

5.NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

Hồ Chí Minh, nhằm đạt được mục tiêu hướng dẫn HS chọn nghề, chọn trường phù
hợp.
Nội dung của luận văn là những kiến thức quản lý hoạt động GDHN có cơ sở
khoa học để các nhà QLGD , để chính quyền địa phương vận dụng vào việc lãnh
đạo và quản lý hoạt động GDHN và phân luồng HS đạt được hiệu quả cao, góp
phần làm thay đổi nhận thức, quan điểm chỉ đạo trong việc GDHN nói riêng và giáo
dục HS nói chung đúng với mục tiêu giáo dục HS toàn diện.

9.CẤU TRÚC LUẬN VĂN:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, mục lục nghiên cứu, danh mục tài
liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài.
Chương 2: Thức trạng quản lý hoạt động GDHN cho HS THCS ở quận 12
thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3: Một số giải pháp quản lý hoạt động GDHN cho HS THCS ở quận
12, thành phố Hồ Chí Minh.


6

Chương 1
Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
1.1.1.Các nghiên cứu về GDHN ở nước ngoài.
Hoạt động GDHN ở một số nước có nền giáo dục tiến tiến trên thế giới và khu
vực rất được coi trọng, ở Đan mạch định hướng về GD&ĐT, đào tạo về nghề
nghiệp và thị trường lao động là chủ đề bắt buộc trong giáo dục phổ thông ở Đan
mạch nhưng không là môn học riêng mà được tích hợp với môn Tiếng Đan mạch
hay Giáo dục công dân. Mục đích nhằm giúp HS phát triển năng lực chuyên môn,
xã hội và cá nhân; đưa ra những lựa chọn nghề nghiệp đúng đắn và thực tế; hiểu

tác bồi dưỡng đội ngũ GV làm công tác HN, việc bồi dưỡng kiến thức chuyên môn,
nghiệp vụ về TVHN cho đội ngũ luôn được chính quyền và nhà trường quan tâm;
đánh giá GV theo chuẩn nghề nghiệp rất cụ thể và có chương trình bồi dưỡng phát
triển GV trên cơ sở đánh giá hàng năm. Chính quyền rất quan tâm đến việc đầu tư,
trang bị cơ sở vật chất phục vụ GDHN; các cơ sở GDHN được trang bị đầy đủ máy
móc, thiết bị cho HS học tập, thực tập thực hành; đánh giá chất lượng HS học HN
vừa bằng lý thuyết vừa bằng chất lượng sản phẩm thực hành trên xưởng. Phát huy
khả năng từng HS qua việc xây dựng chương trình GDHN rất linh hoạt và rất liên
thông với GDNN, nhà trường chú ý phát triển thể chất, cá nhân và xã hội cho HS.
Đối với trường Trung học việc định hướng nghề nghiệp rất rõ ràng, phân luồng sau
lớp 12 khoảng 30% vào đại học, 40% vào Cao đẳng nghề, 20% đi làm, tỉ lệ HS học
để thi lấy chứng chỉ nghề VCAL rất cao [18].
1.1.2.Các nghiên cứu về GDHN ở trong nước.
Quyết định 126/CP ngày 19/3/1981 của Chính phủ về công tác HN trong
trường phổ thông và sử dụng hợp lý HS các cấp phổ thông cơ sở và phổ thông trung
học tốt nghiệp ra trường, đã tạo ra hành lang cơ sở pháp lý cho sự phát triển của
công tác HN và GDHN cho HS phổ thông. Các trường phổ thông phải tích cực tiến
hành việc HN cho HS nhằm chuẩn bị mọi mặt cho HS sẵn sàng đi vào lao động sản
xuất sau khi ra trường, quyết định nêu rõ “Công tác HN trong nhà trường phổ thông


8
nhằm mục đích bồi dưỡng, hướng dẫn việc chọn nghề của HS cho phù hợp với yêu
cầu phát triển của xã hội đồng thời phù hợp với năng khiếu cá nhân”. Chính quyền
các cấp, các ngành kinh tế, văn hóa từ Trung ương đến cơ sở có nhiệm vụ trực tiếp
giúp đỡ các trường phổ thông trong việc đào tạo, sử dụng hợp lý và tiếp tục bồi
dưỡng HS phổ thông sau khi ra trường; sử dụng cơ sở vật chất, cán bộ nghiệp vụ
của mình để giúp đỡ các trường phổ thông trong việc bồi dưỡng lao động kỹ thuật
và HN cho HS; giúp ngành giáo dục phổ thông dạy lao động kỹ thuật và HN cho
HS trên cơ sở bảo đảm hiệu quả kinh tế của cơ sở sản xuất [13].

nội dung hoạt động của công tác HN trong nhà trường phổ thông, phối hợp với các
cơ quan trực thuộc bộ và các ngành cùng thực hiện công tác HN. Các Ban giáo dục
huyện, quận, Sở, Ty Giáo dục thành lập Ban công tác HN có chức năng tham mưu
cho cấp lãnh đạo về nội dung kế hoạch HN, phối hợp với địa phương trong việc
phân công sử dụng hợp lý HS ra trường. Mỗi trường thành lập Ban HN gồm các
tiểu ban HN, chức năng của Ban HN là tham mưu cho Hiệu trưởng về nội dung, kế
hoạch HN và phối hợp với địa phương trong việc sử dụng HS ra trường. Bộ Giáo
dục đề ra những bước đi cần phải làm trong năm 1981 - 1982 tuyên truyền rộng rãi
ý nghĩa, mục đích của công tác HN trong nhà trường phổ thông; kết hợp với các
ngành kinh tế và văn hoá xã hội có kế hoạch thực hiện quyết định của Hội đồng
Chính phủ và mở hội nghị hướng dẫn. Mỗi địa phương chọn một số trường làm thí
điểm để thực hiện công tác HN và có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng GV dạy môn kỹ
thuật phổ thông, chuẩn bị cơ sở để HS tham gia lao động sản xuất. Hè năm 1981 1982, Bộ tiến hành bồi dưỡng sâu về lý luận và kinh nghiệm cụ thể cho cán bộ GV
trong toàn ngành. Trong kế hoạch 5 năm 1981 - 1985, Bộ Giáo dục đã nghiên cứu
lý luận, nội dung phương hướng và biên soạn tài liệu hướng dẫn công tác giáo dục
kỹ thuật tổng hợp và HN trong nhà trường phổ thông [26].
Ngày 18/03/1991, trước yêu cầu thực tiễn, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ra quyết
định số 663/TTCB về việc thành lập Trung tâm Lao động HN trực thuộc Bộ trên cơ
sở Trung tâm nghiên cứu giáo dục lao động, kỹ thuật tổng hợp HN, dạy nghề thuộc
viện khoa học giáo dục Việt nam. Trung tâm có nhiệm vụ giúp Bộ trưởng chỉ đạo
hoạt động lao động HN toàn ngành. Từ khi Trung tâm Lao động HN được thành lập
cho đến 17/02/2009 Trung tâm tổ chức lại thành Trung tâm Hỗ trợ đào tạo và Cung


10
ứng nhân lực trực thuộc Bộ GD&ĐT theo quyết định số 955/QĐ-BGDĐT, đã quan
tâm vấn đề chỉ đạo và bồi dưỡng nghiệp vụ GDHN nói chung và TVHN nói riêng
cho đội ngũ GV làm công tác GDHN trên toàn quốc.
Ngày 23/07/2003, Bộ GD&ĐT ra chỉ thị số 33/2003/CT-BGDĐT về việc tăng
cường GDHN cho HS phổ thông trong đó nhấn mạnh quan điểm “GDHN là một bộ

DNPT nhằm chuẩn bị cho HS một số kỹ năng lao động về những lĩnh vực nghề
phổ biến, cần thiết, phù hợp với lứa tuổi HS và là hoạt động mang tính GDHN cho
HS phổ thông.
1.2.Các khái niệm cơ bản của đề tài.
1.2.1.Hướng nghiệp và Giáo dục hướng nghiệp.
1.2.1.1.Hướng nghiệp:
Hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp tâm lí- sư phạm và y học giúp cho thế
hệ trẻ chọn nghề có tính đến nhu cầu của xã hội và năng lực của bản thân (Theo
quan điểm TLH SP) [28].
“Hướng nghiệp là một quá trình liên tục giúp đỡ mọi người suốt cả cuộc đời để
họ thực hiện được dự án cá nhân cũng như nghề nghiệp của mình bằng cách xác
định những mong muốn và năng lực của mình thông qua thông tin và tư vấn về thực
tế thế giới công việc, sự phát triển của nghề nghiệp, thị trường lao động, thực tiễn
kinh tế và nhu cầu trong đào tạo” (theo Sách trắng về GD&ĐT ở châu Âu) [21; 57].
“Hướng nghiệp là một quá trình, không chỉ diễn ra ở một thời điểm của cuộc
đời mà diễn ra trong suốt đời người. Mục đích của nó không chỉ giúp con người lựa
chọn nghề nghiệp phù hợp mà còn hỗ trợ con người vượt qua khó khăn, thích ứng
với hoàn cảnh của một xã hội phát triển và có nhiều thay đổi, phát huy được tối đa
năng lực của mình để đạt được thành công trong nghề nghiệp, xây dựng được cuộc
sống tốt đẹp cho bản thân”[21; 57]
Theo UNESCO, HN là một quá trình cung cấp cho người học những thông tin
về bản thân, về thị trường lao động và định hướng cho người học có các quyết định
đúng đối với sự lựa chọn nghề nghiệp [28].


12
Theo Đặng Danh Ánh “Hướng nghiệp là một hoạt động của nhiều cơ quan
khác nhau nhằm giúp cho con người chọn nghề phù hợp với nhu cầu của xã hội,
nguyện vọng, sở trường của cá nhân [28].
Tóm lại HN là một hệ thống biện pháp tác động của gia đình, nhà trường và xã

NGHỀ
ĐỊNH HƯỚNG
NGHỀ
Năng lực
cá nhân

Yêu cầu
của nghề

Sự phù
hợp

Hình 1. Mô hình Giáo dục hướng nghiệp
“GDHN là một bộ phận của nội dung giáo dục phổ thông toàn diện đã được
xác định trong Luật Giáo dục. Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 và chủ
trương đổi mới chương trình giáo dục phổ thông hiện nay cũng nhấn mạnh đến yêu
cầu tăng cường GDHN nhằm góp phần tích cực và có hiệu quả vào việc phân luồng
HS, chuẩn bị cho HS đi vào cuộc sống lao động hoặc được tiếp tục đào tạo phù hợp
với năng lực bản thân và nhu cầu của xã hội” [3].
1.2.2.Quản lý và quản lý hoạt động giáo dục HN.
1.2.2.1.Quản lý:


14
Quản lý là chức năng của những hệ thống có tổ chức với những bản chất khác
nhau (kỹ thuật, sinh vật, xã hội), nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì
chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình, mục đích hoạt động [24].
Quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội. Quản lý gồm
những công việc chỉ huy và tạo điều kiện cho những người khác thực hiện công
việc và đạt được mục đích của nhóm [24].

dục HS toàn diện ở trường phổ thông.
Quản lý hoạt động GDHN là một trong các nội dung của quản lý các hoạt
động giáo dục HS ở trường học, là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp
quy luật của chủ thể quản lý đến hoạt động GDHN để đạt mục đích GDHN cho HS
ở trường phổ thông.

Quản lý
hoạt động
giáo dục
đạo đức

Quản lý
hoạt động
giáo dục
thẩm mỹ

Quản lý các
hoạt động
giáo dục

Quản lý
hoạt động
giáo dục
hướng nghiệp

Hình 3. Quản lý các hoạt động giáo dục HS

Quản lý
hoạt động
giáo dục



17
Chiến lược phát triển giáo dục 2009-2020 và chủ trương đổi mới chương trình
giáo dục phổ thông hiện nay nhấn mạnh GD&ĐT có sứ mạng đào tạo con người
Việt nam phát triển toàn diện, góp phần tạo nên một thế hệ người lao động có tri
thức, có đạo đức, có bản lĩnh trung thực, có tư duy phê phán, sáng tạo, có kỹ năng
sống, kỹ năng giải quyết vấn đề và kỹ năng nghề nghiệp để làm việc hiệu quả trong
môi trường toàn cầu hóa vừa hợp tác vừa cạnh tranh. Đối với giáo dục trung học thì
HS phải được trang bị học vấn cơ bản, kỹ năng sống, những hiểu biết ban đầu về
công nghệ và nghề phổ thông. Tăng cường GDHN còn nhằm góp phần tích cực và
có hiệu quả vào việc phân luồng HS sau THCS và liên thông giữa các cấp học và
trình độ đào tạo, để đến năm 2020 có khoảng 30% HS tốt nghiệp THCS vào GDNN
và có thể tiếp tục học ở các trình độ cao hơn, 30% HS tốt nghiệp THPT vào GDNN
[2].

Bản lĩnh
trung thực
Kỹ năng
nghề
nghiệp

Con người Việt nam
phát triển toàn diện

Tri thức

Kỹ năng
giải quyết
vấn đề

thức đúng đắn với nghề nghiệp; cho HS làm quen với một số nghề phổ biến trong
xã hội và các nghề truyền thống của địa phương; tìm hiểu năng khiếu, khuynh
hướng nghề nghiệp của từng HS để khuyến khích, hướng dẫn và bồi dưỡng khả
năng nghề nghiệp thích hợp nhất; động viên HS đi vào những nghề, những nơi mà
xã hội đang cần [3].
Hoạt động GDHN trong trường THCS là nhằm hướng dẫn để HS nắm chắc
những nguyên tắc chọn nghề có cơ sở khoa học, có hứng thú với nghề, có năng lực
làm nghề mà bản thân yêu thích, biết được hướng phát triển của nghề để quyết định
sự lựa chọn; giúp HS lý giải được những câu hỏi khi chọn nghề; định hướng để HS
chọn nghề phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội, đồng thời phù hợp với thể lực
và năng khiếu của cá nhân; ngoài ra còn giúp cho HS thấy rằng sự phù hợp nghề có
thể tạo ra nếu con người biết nổ lực rèn luyện để đạt tới sự phù hợp nghề, góp phần
vào việc tạo ra động cơ phấn đấu học tập của HS [10].


19
1.3.3.Nội dung của giáo dục hướng nghiệp ở trường THCS.
Triển khai thực hiện hoạt động GDHN ở các trường THCS, THPT và Trung
tâm Kỹ thuật tổng hợp HN (TTKTTH-HN) theo tài liệu hướng dẫn của Bộ
GD&ĐT, giúp HS đặc biệt là HS cuối cấp tìm hiểu thế giới nghề nghiệp, thị trường
lao động và đánh giá năng lực bản thân, hướng dẫn HS lựa chọn nghề nghiệp hoặc
lựa chọn trường học, ngành học phù hợp với năng lực cá nhân và yêu cầu của xã
hội. Trong khi còn học trong trường phổ thông, mỗi HS phải chuẩn bị cho mình sự
sẵn sàng về tâm lý đi vào lao động nghề nghiệp, thông qua tìm hiểu một số nghề mà
mình yêu thích, nắm chắc yêu cầu mà nghề đó đặt ra trước người lao động; học thật
tốt các môn học có liên quan đến việc học nghề với thái độ hứng thú; rèn luyện một
số kỹ năng, kỹ xảo lao động mà nghề đó yêu cầu, một số phẩm chất mà người lao
động trong nghề cần phải có; tìm hiểu nhu cầu nhân lực của nghề và điều kiện các
trường học đào tạo nghề đó [3].
1.3.4.Các hình thức của Giáo dục hướng nghiệp ở trường THCS.


sinh hoạtkỹ
thuật
hướng nghiệp

Hoạt động
ngoại khóa,
tham quan
HN, hội thảo,
triển lãm.

Hình 5. Các hình thức GDHN cho HS ở trường THCS


20
1.4.Một số vấn đề về quản lý hoạt động Giáo dục HN ở trường THCS.
1.4.1.Sự cần thiết phải tăng cường quản lý hoạt động Giáo dục HN ở trường
THCS.
Thực hiện mục tiêu và nội dung của giáo dục phổ thông ngoài việc củng cố,
phát triển, hoàn thiện học vấn cơ sở và phổ thông, thì cần phải có những kiến thức
hiểu biết cơ bản và thông thường về kỹ thuật và HN, Bộ GD&ĐT ra chỉ thị số
33/2003/CT-BGDĐT ngày 23/07/2003 về việc tăng cường GDHN cho HS phổ
thông; trong đó nêu rõ vai trò, vị trí của hoạt động GDHN; nâng cao hơn nữa nhận
thức về ý nghĩa, mục đích, nội dung và những biện pháp thực hiện hoạt động
GDHN cho HS phổ thông.
Tổ chức hoạt động GDHN, thông tin kịp thời về sự phát triển khoa học, kỹ
thuật, công nghệ, kinh tế xã hội của các nước trên thế giới và trong khu vực, xu
hướng phát triển của các ngành nghề trong tương lai, nơi đào tạo các ngành nghề, từ
đó giúp cho HS định hướng tìm hiểu ngành nghề, cơ sở đào tạo phù hợp với sở
thích, năng lực, điều kiện cá nhân và gia đình, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh

(3). Nghiêm túc triển khai thực hiện sinh hoạt HN ở các trường THCS, THPT
và TTKTTH-HN theo tài liệu hướng dẫn của Bộ GD&ĐT, giúp HS, đặc biệt là HS
cuối cấp, tìm hiểu thế giới nghề nghiệp, thị trường lao động và đánh giá năng lực
bản thân, hướng dẫn HS lựa chọn nghề nghiệp hoặc lựa chọn trường học, ngành học
phù hợp với năng lực cá nhân và yêu cầu của xã hội.
(4). Nâng cao chất lượng và mở rộng việc DNPT để giúp HS tìm hiểu nghề,
làm quen với một số kỹ năng lao động nghề nghiệp. Những trường THCS và THPT
tổ chức học 2 buổi/ngày phải dành thời gian theo quy định cho HS để học nghề phổ
thông tại TTKTTH-HN hoặc tại trường. Sở GD&ĐT chú ý chỉ đạo các TTKTTHHN mở thêm nghề phổ thông mới cho HS lựa chọn, tránh tập trung vào một số ít
nghề, đồng thời có kế hoạch kiểm tra, thanh tra việc DNPT và tổ chức thi nghề
nghiêm túc.


22
(5). Xây dựng và củng cố các TTKTTH-HN, có kế hoạch bổ sung đội ngũ GV
và cơ sở vật chất, hoàn thành tốt nhiệm vụ HN, DNPT và có đủ điều kiện thực hiện
nội dung giáo dục nghề phổ thông trong chương trình THCS và THPT mới. Đổi
mới hình thức và nội dung hoạt động để nâng cao hơn nữa chất lượng HN, DNPT:
kết hợp nội dung HN vào các buổi DNPT, mở thêm nhiều nghề phổ thông, tổ chức
hoạt động TVHN cho HS tại các TTKTTH-HN hoặc tại trường phổ thông.
(6). Xã hội hóa GDHN, các trường học và TTKTTH-HN báo cáo và đề xuất
với cấp ủy đảng và chính quyền địa phương kế hoạch khuyến khích các tổ chức xã
hội, các doanh nghiệp, các cá nhân có điều kiện hỗ trợ hoặc tham gia trực tiếp vào
GDHN cho HS.
Hình 6.Chỉ
thị 33/2003/CT-BGD-ĐT
6.
về tăng cường giáo dục HN cho HS phổ thông

Xã hội hóa

cáctổdoanh
tìm
hiểu
nghề,
dẫn HS,
làm
nghiệp,
các
cáHiệu
nghề
hoạtchọn
GDHN
cho HS cuối cấp THCS, công
tácquen
quảnvới
lý hoạt động
GDHN
của
nhân hỗ trợ,
một số kỹ năng
phù hợp.
trưởng đối với GV, công tác kiểm tra đánh
giá hoạt
động GDHNtham
của HS.
lao động
nghề
gia Tất cả
GDHN
chomôn và

thay
đổisinh
nhận thức của đội ngũ CBQL và GV về ý
thức
củng cố các
hoạt HN ở các
đắn
với
nghề
TTKTTHH,
nghĩa, mục đích, nội dung và trường
những biện
pháp thực hiện GDHN cho HS ở trường
THCS,
nghiệp; cho
hoàn thành
THPT,
THCS. HS làm quen
tốt nhiệm
TTKTTHHN.
với một số
vụ HN,
1.4.3.2.Tổ
chứcbiến
hoạt động giáo dục nghề phổ thông
cho HS ở trường THCS
nghề phổ
DNPT.
phải có táctrong
dụngXH

học sinh toàn diện cả về tri thức, đạo đức, thể chất, thẩm mỹ và hướng nghiệp.
GDHN là một hoạt động có tính chất thường xuyên, phức tạp, luôn gắn liền thực
tiễn do đó phải được tiến hành từ khi HS bước vào bậc học THCS cho đến khi tốt
nghiệp trung học phổ thông.
Những quyết định của Chính phủ, những thông tư, chỉ thị và hướng dẫn của
Bộ GD&ĐT là cơ sở pháp lý cho các trường THCS cần phải tăng cường các hoạt


24
động GDHN cho HS để giúp HS vừa hoàn thiện kiến thức cơ sở mà còn được bồi
dưỡng những hiểu biết cơ bản và thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp.
Hệ thống các khái niệm cơ bản của đề tài, một số vấn đề về hoạt động GDHN
cho HS ở trường THCS đã làm rõ được vị trí, vai trò, nhiệm vụ, nội dung, hình
thức, ý nghĩa của việc quản lý hoạt động GDHN cho HS ở trường THCS. Là cán bộ
QLGD của nhà trường thì cần phải nắm vững được các yếu tố ảnh hưởng đến việc
quản lý tổ chức hoạt động GDHN cho HS ở trường THCS, để từ đó có cơ sở lập kế
hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra hoạt động GDHN ở trường đạt được mục tiêu.

Chương 2
Thực trạng quản lý hoạt động Giáo dục hướng nghiệp
cho học sinh THCS ở quận 12, thành phố Hồ Chí Minh

2.1.Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và tình hình triển khai hoạt
động Giáo dục HN cho HS THCS ở quận 12, thành phố Hồ Chí Minh.
2.1.1.Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ở quận 12, thành phố Hồ
Chí Minh:
Quận 12 là một quận vùng ven được tách ra từ huyện Hóc môn (tháng 4/1997),
với hệ thống trường gồm có 10 trường THCS, 3 trường THPT công lập, 3 trường
THPT dân lập, tư thục, 3 trường Trung cấp nghề, 1 trung tâm Giáo dục thường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status