Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông tại trung tâm kĩ thuật tổng hợp hướng nghiệp tỉnh Bắc Giang - Pdf 24


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM BÙI XUÂN DƢƠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
HƢỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG TẠI TRUNG TÂM KĨ THUẬT TỔNG HỢP
- HƢỚNG NGHIỆP TỈNH BẮC GIANG

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ii
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban giám hiệu,
các thầy cô giáo trong Hội đồng khoa học, Hội đồng đào tạo sau đại học
Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã giảng dạy và quan tâm
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập.
Xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Sở và các phòng ban của
Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bắc Ninh, lãnh đạo Trung tâm KTTH-HN tỉnh,
các trung tâm Giáo dục thường xuyên, ban giám hiệu, giáo viên, các em học
sinh và phụ huynh HS ở các trường trung học phổ thông thành phố Bắc Ninh,
huyện Quế Võ, huyện Tiên Du, huyện Lương Tài đã tạo điều kiện thuận lợi,
giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Phùng Thị Hằng,
người Thầy đã tận tình trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình triển
khai và hoàn thành đề tài.
Mặc dù đã rất cố gắng, song luận văn không tránh khỏi những hạn chế
nhất định. Kính mong được sự góp ý của các thầy, cô giáo và các bạn.
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2013
Tác giả

Bùi Xuân Dƣơng


7.3. Phương pháp xử lý số liệu thống kê 6
8. Cấu trúc luận văn 6
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƢỚNG
NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƢỚNG
NGHIỆP CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG TẠI TRUNG TÂM KỸ
THUẬT TỔNG HỢP - HƢỚNG NGHIỆP CẤP TỈNH 7
1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1. Hoạt động GDHN và TVHN ở Việt Nam 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

iv
1.1.2. Hoạt động GDHN và TVHN ở một số nước 8
1.2. Một số khái niệm cơ bản 13
1.2.1. Quản lý 13
1.2.2. Quản lý giáo dục 15
1.2.3. Giáo dục hướng nghiệp 15
1.2.4. Quản lí hoạt động giáo dục hướng nghiệp 18
1.3. Một số vấn đề cơ bản về HĐGDHN và quản lý hoạt động giáo dục hướng
nghiệp cho HS THPT tại Trung tâm HTTH - Hướng nghiệp 18
1.3.1. Hướng nghiệp và tư vấn hướng nghiệp cho học sinh THPT 18
1.3.2. Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho HS THPT tại trung tâm kỹ
thuật tổng hợp - hướng nghiệp 34
1.3.3. Định huớng GDHN và TVHN 38
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 46
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
HƢỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TẠI TRUNG TÂM KỸ THUẬT TỔNG HỢP- HƢỚNG NGHIỆP
TỈNH BẮC NINH 47
2.1. Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội và sự nghiệp giáo dục - đào tạo của

3.1.3. Phải đảm bảo tính thực tiễn 88
3.1.4. Đảm bảo tính khoa học 88
3.1.5. Phải đảm bảo tính khả thi 88
3.2. Đề xuất các biện pháp quản lý HĐGDHN cho HS THPT 89
3.2.1. Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh về hoạt động
GDHN và TVHN 89
3.2.2. Bồi dưỡng năng lực chuyên môn cho đội ngũ GV làm công tác GDHN 92
3.2.3. Đổi mới nội dung và hình thức GDHN 100
3.2.4. Tăng cường công tác Tư vấn Hướng nghiệp cho học sinh THPT 105
3.2.5. Tăng cường xã hội hóa hoạt động GDHN 107
3.2.6. Tăng cường trách nhiệm quản lý của Giám đốc Trung tâm về GDHN 111
3.2.7. Tăng cường cơ sở vật chất, kinh phí cho hoạt động GDHN 113
3.3. Kết quả thăm dò ý kiến về các biện pháp 115
3.3.1. Mục đích 115
3.3.2. Nội dung 116
3.4. Kết luận 119
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 120
1. Kết luận 120
2. Khuyến nghị 121
2.1. Đối với Chính phủ và Bộ Giáo dục - Đào tạo 121
2.2. Đối với UBND tỉnh và Sở Giáo dục - Đào tạo Bắc Ninh 122
2.3. Đối với Trung tâm KTTH - HN tỉnh Bắc Ninh 123
TÀI LIỆU THAM KHẢO 124

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

iv
DANH MỤC TỪ LUẬN VĂN

GV

Trung học cơ sở
THCN
Trung học chuyên nghiệp
THPT
Trung học phổ thông
TTKTTH-HN
Trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp
TV
Tư vấn
TVN
Tư vấn nghề
TVHN
Tư vấn hướng nghiệp

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

v
DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Bảng thống kê giáo dục PT tỉnh Bắc Ninh (năm học 2012-2013) 48
Bảng 2.2. Đội ngũ cán bộ quản lí trong khách thể nghiên cứu 50
Bảng 2.3. Khách thể học sinh được khảo sát 52
Bảng 2.4. Nhậ n thứ c củ a họ c sinh về nghề nghiệp 55
Bảng 2.5. Bảng tổng hợp nhận thức về nghề của học sinh 58
Bảng 2.6. Dự báo cung - cầu lao động Việt Nam 2015 60
Bảng 2.7. Trình độ chuyên môn của GV dạy GDHN ở tỉnh Bắc Ninh 63
Bảng 2.8. Trình độ đào tạo của GV dạy GDHN tại Trung tâm KTTH - HN tỉnh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sẽ thật không sai khi nói rằng, đã đến lúc chúng ta không thể giàu lên
mãi bằng than đá, bằng dầu mỏ, mà chúng ta phải làm giàu bằng năng lực trí
tuệ, bàn tay, khối óc của con người Việt Nam. Bước chân qua ngưỡng cửa
WTO, là bước chân vào một thế giới “đang dần được căng phẳng”, chúng ta
đang dần trở thành những “công dân toàn cầu” theo đúng nghĩa của nó. Vậy
chúng ta đã làm gì để định hướng và phát triển nguồn nhân lực của mình?
Chúng ta đã quan tâm đến hoạt động hướng nghiệp và tư vấn hướng nghiệp cho
nguồn nhân lực tiềm năng ấy đến đâu?
Hướng nghiệp và Tư vấn hướng nghiệp là định hướng phát triển con
người trong nghề nghiệp để con người đó có khả năng phát triển bản thân một
cách tốt nhất, đóng góp toàn diện nhất cho gia đình, xã hội. Trên thế giới, để
hướng đến một nền kinh tế tri thức, một xã hội tri thức vào năm 2010, châu Âu
đã đề ra những mục tiêu Lisbon 2000, theo đó Hướng nghiệp và Tư vấn hướng
nghiệp được đặt lên hàng đầu trong chính sách giáo dục của mình.
Để có những công dân toàn cầu tốt nhất, Singapore - quốc gia trong khu vực
với hơn 40 năm lịch sử, cũng là 40 năm của 3 giai đoạn phát triển của lịch sử
hướng nghiệp và Tư vấn hướng nghiệp của quốc gia này- đã hướng đến phát
triển con người một cách toàn diện mọi khả năng của công dân ngay từ trên ghế
nhà trường tiểu học, để công dân của họ có thể đi bất cứ nơi đâu mà tài năng
của họ được phát triển trong kỷ nguyên của toàn cầu hóa này. Mục tiêu đó
không phải có được trong ngày một ngày hai, mà họ đã phải trải qua một quá
trình phát triển, từ thử nghiệm đến rút kinh nghiệm rất nhiều lần.
Ở Việt Nam, hoạt động Hướng nghiệp và Tư vấn hướng nghiệp
không phải không có, nhưng chưa thực sự đi vào chiều sâu và chưa thực sự
hữu ích cho những ai cần đến nó. Điều này chủ yếu xuất phát từ nguyên

của tỉnh chưa đáp ứng cho tiến trình Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá. Nhiều lao
động chưa qua đào tạo, còn thiếu trầm trọng lao động có chuyên môn kỹ thuật

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3
trình độ cao. Trong khi đó, học sinh phổ thông ở Bắc Ninh hầu như không quan
tâm đến nhu cầu lao động của địa phương. Vì vậy, việc tư vấn để định hướng
nghề nghiệp cho học sinh phổ thông phù hợp với nhu cầu lao động của toàn xã
hội và của địa phương là việc làm rất cần thiết.
Tại tỉnh Bắc Ninh nói chung và Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp- Hướng
nghiệp tỉnh nói riêng việc tổ chức hoạt động Giáo dục Hướng nghiệp và tư vấn
hướng nghiệp cho học sinh THPT đã được thực hiện từ năm 2005 và kết quả
bước đầu đáng được ghi nhận, song số lượng học sinh được tư vấn chưa đáng
kể, chất lượng tổ chức hoạt động Giáo dục Hướng nghiệp và tư vấn hướng
nghiệp còn nhiều hạn chế, chưa phát huy được vai trò trong việc phân luồng
học sinh để đào tạo, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cho tỉnh. Có
nguyên nhân khách quan do đây là lĩnh vực mới, phức tạp, song cũng có
nguyên nhân chủ quan thuộc về công tác quản lý, trong đó các cơ quan quản lý
nhà nước về giáo dục ở tỉnh chưa thực sự quan tâm đầy đủ về vấn đề này, nên
chưa thực sự quan tâm chỉ đạo. Việc tổ chức hoạt động Giáo dục Hướng nghiệp
và tư vấn hướng nghiệp thực hiện chưa đồng bộ trên địa bàn toàn tỉnh. Trung
tâm KTTH - HN tỉnh mới thực hiện được ở giai đoạn Hướng nghiệp và tư vấn
sơ bộ, cơ sở vật chất, trang thiết bị còn thiếu, kinh phí hoạt động hạn hẹp; chất
lượng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, giáo viên làm công
tác Hướng nghiệp- TVHN còn yếu kém, đội ngũ cán bộ quản lý của Trung tâm
mới được luân chuyển về nên thiếu kinh nghiệm quản lý hoạt động Giáo dục
Hướng nghiệp và tư vấn hướng nghiệp.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Quản lý hoạt
động Giáo dục Hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông tại Trung

5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về HĐGDHN và quản lý Hoạt động Giáo dục
hướng nghiệp cho học sinh THPT
5.2. Đánh giá thực trạng về HĐGDHN và quản lý Hoạt động Giáo dục
hướng nghiệp cho học sinh THPT tại Trung tâm KTTH-HN tỉnh Bắc Ninh
5.3. Đề xuất các biện pháp quản lý HĐGDHN tại Trung tâm KTTH- HN tỉnh Bắc Ninh
5.4. Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

5
6. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung khảo sát và đánh giá thực trạng về công tác quản lý
hoạt động Giáo dục Hướng nghiệp, đặc biệt là công tác tư vấn hướng nghiệp
cho học sinh THPT tại Trung tâm KTTH-HN tỉnh Bắc Ninh từ năm 2005 đến
nay, từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý HĐGDHN, góp phần nâng cao chất
lượng GDHN và TVHN của Trung tâm KTTH- HN tỉnh Bắc Ninh giai đoạn
2013-2018.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các phương pháp: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát
hóa để nghiên cứu các tài liệu lý luận, các văn kiện của Đảng, các văn bản
pháp luật của Nhà nước, sách báo, báo cáo khoa học trong và ngoài nước có
liên quan đến vấn đề nghiên cứu, từ đó xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây
dựng cơ sở thực tiễn của đề tài. Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
có các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Phương pháp quan sát: Người nghiên cứu tiếp cận và xem xét tổ chức
HĐGDHN và quản lí HĐGDHN tai Trung tâm KTTH- HN. Mục đích chính
của việc sử dụng phương pháp này là tìm hiểu thực trạng chất lượng GDHN

nghiệp cấp tỉnh.
- Chương 2: Thực trạng quản lý HĐGDHN cho học sinh trung học phổ
thông tại Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp- Hướng nghiệp tỉnh Bắc Ninh.
- Chương 3: Biện pháp quản lý nhằm đẩy mạnh HĐGDHN cho học sinh
trung học phổ thông tại Trung tâm KTTH - Hướng nghiệp tỉnh Bắc Ninh.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

7
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƢỚNG NGHIỆP
VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƢỚNG NGHIỆP CHO
HỌC SINH PHỔ THÔNG TẠI TRUNG TÂM KỸ THUẬT
TỔNG HỢP - HƢỚNG NGHIỆP CẤP TỈNH

1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Hoạt động GDHN và TVHN ở Việt Nam
Ở Việt Nam do nhu cầu xã hội, nhu cầu dạy nghề phổ thông trong nhà
trường, hoạt động giáo dục hướng nghiệp và tư vấn nghề đã được đưa vào
trong nhà trường phổ thông từ những thập niên 70.
Tháng 3/ 1991, trước yêu cầu của thực tiễn Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra
quyết định thành lập trung tâm Lao động- Hướng nghiệp trực thuộc Bộ Giáo
dục và Đào tạo. Chỉ sau một thời gian hoạt động, trung tâm Lao động- Hướng
nghiệp đã tiến hành công tác tư vấn nghề cho rất nhiều học sinh phổ thông và
đã biên soạn, xuất bản được tập tài liệu “tư vấn nghề cho học sinh phổ thông”.
Một số công trình nghiên cứu của các tác giả khác cũng đã đề cập đến vấn
đề hướng nghiệp, dạy nghề, tư vấn nghề cho học sinh như công trình của tác giả
Đặng Danh Ánh “Tư vấn nghề và phân luồng học sinh sau trung học ”; Đồng tác
giả Nguyễn Văn Hộ- Nguyễn Thị Thanh Huyền “Hoạt động giáo dục Hướng
nghiệp và giảng dạy kỹ thuật trong trường THPT”_2006; tác giả Nguyễn Như

ra trường hay những người lãnh đạo các doanh nghiệp đến nói chuyện về kinh
nghiệm bản thân hay hoạt động ở doanh nghiệp của họ. Lớp 12 nhà trường tổ
chức cho HS đi tham quan để định hướng cho tương lai.
Hồng Kông: Giáo dục hướng nghiệp đã trở thành một bộ phận của giáo dục
từ năm 1932. Chính phủ đã xác định 8 lĩnh vực học tập quan trọng cho tất cả các
sinh viên với phần Thiết kế và công nghệ, chiếm tỷ trọng lớn trong lĩnh vực

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

9
Technology Education Key Learning Area. Ở Hồng Kông tư vấn hướng nghiệp
còn có tên gọi là " Phụ đạo nghề".
Hệ thống giáo dục trung học của các nước trong khu vực Châu Á-Thái
Bình Dương đang được cải tổ, trong đó bao gồm cả mục tiêu vì Hướng nghiệp
nghề nghiệp:
+ Phát triển những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết để phát triển
từng cá nhân phù hợp với các tiềm năng của họ để trở thành người lao động
trong xã hội.
+ Phát triển các kiến thức và hiểu biết về thế giới lao động.
Ngoài các nội dung giáo dục bắt buộc trong chương trình dạy học, đa số
các nước đều có môn tự chọn tạo điều kiện thuận lợi cho HS phát triển các xu
hướng học lên (Academic) hoặc học một nghề phù hợp với nhu cầu xã hội và
điều kiện cụ thể của HS.
1.1.2.2. Hoạt động GDHN và TVHN ở Mỹ
Nước Mỹ có phòng tư vấn nghề đầu tiên trên thế giới do FParsons thành
lập vào năm 1908 ở Boston. Nhiệm vụ của phòng này là tư vấn cho thanh niên
có nhu cầu tìm kiếm công ăn việc làm và giúp cho họ chọn được những nghề
phù hợp với năng lực, sở trường của mình. Hiện nay, ở Mỹ đã kết hợp chặt chẽ
việc tư vấn nghề với chương trình công nghệ và dạy nghề, họ cũng đã đưa
môn" Hướng dẫn chọn nghề"( Career Guidance) vào giảng dạy trong trường

học sinh thì " sự thành đạt nắm vững nghề đã chọn là giá trị cao nhất".
1.1.2.4. Hoạt động GDHN và TVHN ở Đức
Theo truyền thống, hệ thống trường phổ thông Đức quán triệt nguyên tắc
hướng nghiệp để chuẩn bị cho học sinh đi vào trường đào tạo nghề tuỳ theo
trình độ học tập của mỗi em. Công tác TVHN cho HS tại Đức được bắt đầu sơ
bộ ngay khi học sinh học xong tiểu học(lớp 5), được thực hiện bởi GV chủ
nhiệm phân loại. Việc phân loại này căn cứ vào trình độ, khả năng, kết quả học
tập của HS ở Tiểu học, không chịu bất cứ áp lực nào từ phía cha mẹ HS và cha
mẹ HS ở Đức vui lòng tuân theo. Nhưng việc phân loại sẽ được phúc tra và đưa
ra quyết định chính xác vào sau lớp 9. Tới lớp 10, ngay từ học kỳ I, giáo viên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

11
chủ nhiệm liên hệ với nhiều cơ sở hướng nghiệp, với những trường dạy nghề để
bố trí học sinh đến đó tìm hiểu nghề nghiệp mình muốn học.
Tại trường Hauptschule, HS học hết lớp 9 sẽ đi học trung cấp nghề để đi
làm hoặc có thể học lên các lớp trình độ vào ĐH, CĐ chuyên nghiệp; Sau đó vào
học trường ĐH chuyên ngành. HS theo học trường Realschule sau khi học xong
10 năm sẽ theo học các trường trung học dạy nghề để đi làm, sau đó được theo
học các lớp trình độ chuyên ngành để vào trường ĐH chuyên ngành. HS theo học
trường Gesamtschule từ lớp 5 đến lớp 10, HS thi cuối năm lớp 9 có chứng chỉ tốt
nghiệp như Hauptschule, HS học hết lớp 10 thì có chứng chỉ như Realschule được
chuyển lên trung học bậc II như những lớp cuối của Gymnasium.
Sau khi học xong trung học, khoảng 70% HS ở Đức theo học trong các
trường dạy nghề. Có khoảng 1,65 triệu người đang được đào tạo về một trong
356 nghề được dạy ở Đức. Việc đào tạo nghề kéo dài từ hai đến ba năm rưỡi
tuỳ theo từng nghề. HS học nghề chủ yếu được đào tạo trong một "hệ thống
kép". Hệ thống kép khác với việc dạy nghề thuần tuý ở chỗ: Phần lớn việc học
tập không phải ở trường học mà ở các cơ sở sản xuất. Các trường dạy nghề hỗ

năm sau ( tương đương với lớp 8, lớp 9 ở Việt Nam).Trong hệ quan sát, HS
trong khi học từng môn, quan sát các ngành học đó xem mình thiên về môn
nào. Nhà trường, phụ huynh cũng thế. Sang hệ định hướng, những quan sát
thăm dò này sẽ được củng cố. HS 2 lớp 7 và 8 được hướng đến những lộ trình
khám phá: Khám phá thế giới tự nhiên và thân thể con người, khám phá nghệ
thuật và nhân văn, khám phá các ngôn ngữ và các nền văn minh, khám phá dẫn
nhập đến sự sáng tạo và kỹ thuật. HS chọn 2 trong lộ trình khám phá trên.
Các nhà cố vấn làm cho HS hiều rằng thực tế cuộc sống chứng tỏ rằng
ĐH không phải là cùng đích, mà là nghề gì và tay nghề đến đâu.
Như vậy, việc điểm qua tình hình giáo dục của một số nước trên thế giới
cho ta thấy việc tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho HS phổ thông là một xu thế
tất yếu của thời đại . Tổ chức UNESCO đã có quan điểm:
"Việc lựa chọn con đường riêng biệt của giáo dục nghề hay giáo dục phổ
thông cần phải dựa trên những đánh giá thận trọng về điểm mạnh và điểm yếu
của học sinh. Nói cách khác, hướng nghiệp đòi hỏi sự đánh giá dựa trên việc
kết hợp những tiêu chí về giáo dục và dự báo về nhân cách tương lai. Nhà

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

13
trường phải có khả năng vẽ nên một bức tranh rõ nét nhất về khả năng của mỗi
học sinh. Vì vậy, cần phải có những nhà tư vấn hướng nghiệp chuyên môn để
giúp học sinh lựa chọn khoá học thích hợp (có tính đến nhu cầu của thị trường
lao động), dự báo những khó khăn trong học tập và giúp giải quyết những vấn
đề xã hội khi cần thiết."
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Quản lý
Đã có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý:
Theo quan niệm truyền thống: Quản lý là quá trình tác động có ý thức
của chủ thể vào một bộ máy (đối tượng quản lý) bằng cách vạch ra mục tiêu cho

khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống đó mà chủ yếu là vào những con
người nhằm đạt được hiệu quả tối ưu đã đề ra”.
Như vậy có thể khái quát lại: Quản lý một hệ thống là một khoa học, là một
nghệ thuật đồng thờ i quản lý còn là một nghề (nghề quản lý). Muốn điều hành các
hoạt động của một tổ chức có kết quả một cách chắc chắn thì trước tiên các nhà
quản lý phải được đào tạo nghề nghiệp (kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm) một
cách chu đáo để phát hiện, nhận thức một cách chuẩn xác và đầy đủ các quy luật
khách quan xuất hiện trong quá trình hoạt động. Đồng thời có phương pháp, nghệ
thuật thích hợp nhằm tuân thủ đúng các đòi hỏi của các quy luật đó.
Từ những điểm chung trên ta có thể hiểu:
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối
tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ
thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường.
Sơ đồ 1.1. Logic của khái niệm quản lý MỤC TIÊU MÔI

TRƢỜNG
“Hướng nghiệp là hệ thống những biện pháp dựa trên cơ sở tâm lý học, sinh
lý học, y học và nhiều khoa học khác để giúp đỡ học sinh chọn nghề phù hợp với
nhu cầu xã hội, đồng thời thoả mãn tối đa nguyện vọng, thích hợp với những năng
lực, sở trường và tâm sinh lý cá nhân, nhằm mục đích phân bố hợp lý và sử dụng có
hiệu quả lực lượng lao động dự trữ có sẵn của đất nước”[46;11].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

16
Hướng nghiệp bao gồm 3 giai đoạn có liên quan chặt chẽ với nhau: Định
hướng nghề - Tư vấn nghề - Tuyển chọn nghề. Giáo dục phổ thông đóng vai trò
quan trọng trong 2 khâu đầu: Định hướng nghề và tư vấn nghề cho học sinh
(xem sơ đồ 1.2).
Sơ đồ1.2 : Tam giác hướng nghiệp
Định hƣớng nghề
(GD& tuyên truyền)

Các yêu cầu của nghề Thị trường lao động

Tƣ vấn nghề Đặc điểm nhân cách Tuyển chọn nghề - Hướng nghiệp cho học sinh phổ thông:
Hướng nghiệp cho học sinh phổ thông (HSPT) là một hoạt động giáo dục
trong nhà trường phổ thông nhằm giúp cho học sinh có những hiểu biết thông
thường về nghề nghiệp để có thể định hướng phát triển, lựa chọn nghề phù hợp với
hứng thú cá nhân, năng lực bản thân và nhu cầu xã hội. Trên cơ sở đó, các em tiếp
tục học tập, rèn luyện để có thể phát triển trong hoạt động nghề nghiệp tương lai.
Hướng nghiệp cho HSPT góp phần vào việc phân luồng HSPT bậc trung
học, là bước khởi đầu quan trọng của quá trình phát triển nguồn nhân lực xã hội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status