Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM NGUYỄN THẾ DŨNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN TAM DƢƠNG -TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Tác giả
Nguyễn Thế Dũng
ii
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục pháp
luật cho học sinh ở các trường THPT huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc”, đến
nay đề tài đã đƣợc hoàn thành. Với tình cảm chân thành, tác giả xin cảm ơn Hội
đồng khoa học, quý thầy cô giáo khoa Quản lý giáo dục, khoa tâm lý giáo dục,
khoa Đào tạo sau Đại học trƣờng ĐH Sƣ phạm Thái Nguyên đã giúp đỡ, tạo điều
kiện cho tác giả trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu đề tài.
DÙNG TRONG LUẬN VĂN iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 4
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu 4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5. Giả thuyết khoa học 4
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu 5
7. Phƣơng pháp nghiên cứu 5
8. Đóng góp mới của đề tài 6
9. Kết cấu của luận văn 6
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÁP
LUẬT CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 7
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài 9
1.2.1. Giáo dục 9
1.2.2. Giáo dục pháp luật 10
1.2.3. Quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh 14
1.2.4. Biện pháp quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh 22
1.3. Giáo dục pháp luật cho học sinh THPT 22
1.3.1. Đặc điểm tâm lý của học sinh THPT 22
iv
1.3.2. Giáo dục pháp luật cho học sinh THPT 26
1.4. Quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh thpt 29
1.4.1. Quản lý giáo dục pháp luật theo các chức năng quản lý 29
1.4.2. Hiệu trƣởng trƣờng THPT trong việc quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh 30
1.4.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh THPT 31
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 36
3.1. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 75
3.1.1. Đảm bảo tính thực tiễn 75
3.1.2. Đảm bảo tính khả thi 76
3.1.3. Đảm bảo tính hiệu quả 76
3.1.4. Đảm bảo đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện học sinh 77
3.2. Các biện pháp quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trƣờng THPT
huyện Tam Dƣơng tỉnh Vĩnh Phúc 77
3.2.1. Lập kế hoạch giáo dục pháp luật cho học sinh theo chủ điểm phù hợp đối
tƣợng học sinh THPT 77
3.2.2. Bồi dƣỡng kỹ năng giáo dục pháp luật cho giáo viên giảng dạy môn Giáo
dục công dân, giáo viên chủ nhiệm, Bí thƣ đoàn 80
3.2.3. Xây dựng tập thể học sinh tự quản tốt, chú trọng giáo dục học sinh
cá biệt 83
3.2.4. Chỉ đạo thực hiện giáo dục pháp luật cho học sinh thông qua các môn học 86
3.2.5. Đa dạng hóa các hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại khóa, hoạt
động tập thể theo các chủ điểm giáo dục pháp luật 89
3.2.6. Tổ chức học sinh tham gia các cuộc thi tìm hiểu về pháp luật do các cấp,
các ngành phát động 91
3.2.7. Tổ chức phối hợp chặt chẽ giữa nhà trƣờng, gia đình và xã hội 93
3.3. Mối liên hệ giữa các biện pháp 98
3.4. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý 98
3.4.1. Đối tƣợng để tiến hành khảo nghiệm 98
vi
3.4.2. Kết quả khảo nghiệm của các biện pháp 98
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3 103
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 104
1. Kết luận 104
2. Khuyến nghị 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
Giáo viên chủ nhiệm
CSVC
Cơ sở vật chất
HS
Học sinh
THPT
Trung học phổ thông
VPPL
Vi phạm pháp luật
TB
Trung bình
TTCN
Tiểu thủ công nghiệp
TTHS
Tập thể học sinh
XH
Xã hội
XHHGD
Xã hội hóa giáo dục
GDPL
Giáo dục pháp luật
UBND
Ủy ban nhân dân
NTM
Nông thôn mới
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
dạy các môn học 69
Bảng 2.21. Nguyên nhân ảnh hƣởng đến hiệu quả quản lý GDPL cho học
sinh THPT 70
Bảng 3.1. Đánh giá về mức độ cần thiết của các biện pháp GDPL cho học
sinh THPT 99
Bảng 3.2. Đánh giá về mức độ khả thi của các biện pháp GDPL cho học
sinh THPT 100
Bảng 3.3. Đánh giá về mức độ phù hợp giữa mức độ cần thiết với mức độ
khả thi của các biện pháp trong GDPL cho học sinh THPT 101 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thế kỷ XXI là thế kỷ của tri thức, của khoa học- công nghệ. Sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc đặt ra yêu cầu to lớn cho giáo dục và
đào tạo. Để đáp ứng yêu cầu đó, tất yếu phải nâng cao chất lƣợng giáo dục và
đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học. Vì thế vấn đề nâng cao chất lƣợng giáo
dục và đào tạo trở thành vấn đề bức thiết hiện nay.
Mục tiêu của Giáo dục Việt Nam đƣợc ghi rõ trong điều 2- Luật giáo dục 2005:
“Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện
có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý
tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách,
phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc”.
Tính chất, nguyên lý giáo dục- “ Triết lý của giáo dục Việt Nam” đƣợc
khẳng định trong Điều 3- Luật Giáo dục 2005:
“1. Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân
dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí
của Bác Hồ”. Nhƣ vậy trong các mặt giáo dục ở nhà trƣờng, giáo dục đạo đức
có ý nghĩa quan trọng, đƣợc coi là nền tảng, gốc rễ cho các mặt giáo dục khác:
Trí, Thể, Mĩ, Lao động; là khâu then chốt trong quá trình giáo dục nhân cách
học sinh.
Hiện nay, nƣớc ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế, nền kinh tế thị
trƣờng đang hằng ngày tác động đến mỗi con ngƣời Việt Nam, đặc biệt là thế
hệ trẻ nƣớc ta. Bên cạnh những mặt tích cực còn có những mặt tiêu cực của
thời kì mở cửa đã ảnh hƣởng không nhỏ đến giới học sinh, sinh viên: “ Đặc biệt
đáng lo ngại là một bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái về đạo
đức, mờ nhạt về lý tưởng, chạy theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập
thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước” (Nghị quyết TW2-
3
Khóa VIII). Đặc biệt hiện nay, tình trạng xuống cấp về đạo đức, lối sống, ý
thức chấp hành pháp luật của học sinh đang có nguy cơ phổ biến trong xã hội.
Chính vì vậy, vấn đề giáo dục đạo đức nói chung, đặc biệt là giáo dục pháp luật
cho thế hệ trẻ hiện nay đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của Đảng, Nhà
nƣớc và nhân dân ta. Thông báo Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung
ƣơng Đảng khóa XI có đoạn viết: “Tập trung nghiên cứu, tiếp tục làm sáng tỏ
một số vấn đề về lý luận- thực tiễn của công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Lãnh đạo, chỉ đạo công tác giáo
dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, nhất là đối với thế hệ trẻ và trong nhà
trường, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và hội nhập quốc tế”. Điều đó đã
đặt ra cho ngành giáo dục phổ thông những cơ hội và thách thức mới. Chính vì
vậy, Bộ giáo dục và đào tạo đã ra Chỉ thị Tăng cƣờng công tác phổ biến giáo
dục pháp luật đáp ứng xây dựng nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội
nhập quốc tế.
Trƣờng THPT Tam Dƣơng II đƣợc thành lập từ ngày 22 tháng 04 năm
2006, trƣờng đóng trên địa bàn thuộc một xã thuần nông, học sinh phần lớn là
con em vùng nông thôn, đời sống kinh tế gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí
4.4. Khảo nghiệm về tính khả thi và cần thiết của các biện pháp đề xuất.
5. Giả thuyết khoa học
Trong những năm qua, biện pháp quản lý hoạt động giáo dục pháp luật
cho học sinh ở các trƣờng THPT huyện Tam Dƣơng, tỉnh Vĩnh Phúc đã có
nhiều cải tiến song vẫn còn những bất cập. Do đó, hiệu quả giáo dục pháp luật
cho học sinh chƣa cao. Nếu xác định đƣợc các biện pháp quản lý hoạt động
giáo dục pháp luật cho học sinh nhƣ đã xác định trong đề tài thì sẽ nâng cao
hiệu quả giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trƣờng THPT huyện Tam
Dƣơng, tỉnh Vĩnh Phúc.
5
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Địa bàn nghiên cứu: tại ba trƣờng THPT huyện Tam Dƣơng tỉnh Vĩnh
Phúc là THPT Tam Dƣơng; THPT Tam Dƣơng II; THPT Trần Hƣng Đạo.
- Khảo sát quản lý giáo dục pháp luật từ năm học 2011-2012 đến năm
học 2013-2014.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phƣơng pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các tài
liệu, văn kiện rút ra những luận điểm chỉ đạo trong quá trình nghiên cứu.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phƣơng pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục: tổng kết các kinh nghiệm
quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trƣờng THPT
- Phƣơng pháp điều tra bằng phiếu hỏi: nhằm thu thập các thông tin từ
đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ giáo viên và học sinh của các trƣờng THPT
huyện Tam Dƣơng, tỉnh Vĩnh Phúc về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục
pháp luật cho học sinh các trƣờng THPT huyện Tam Dƣơng, tỉnh Vĩnh Phúc
- Phƣơng pháp quan sát: nhằm thu thập các thông tin về thực trạng quản
lý giáo dục pháp luật cho học sinh các trƣờng THPT huyện Tam Dƣơng tỉnh
Vĩnh Phúc
7
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÁP
LUẬT CHO HỌC SINH CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, con ngƣời sử dụng nhiều loại quy
phạm khác nhau nhƣ: quy phạm đạo đức, quy phạm pháp luật, quy phạm tôn
giáo, tín ngƣỡng, quy phạm thẩm mỹ,… Trong đó quy phạm pháp luật đóng
một vai trò đặc biệt quan trọng.
Theo học thuyết Mác- Lênin, pháp luật chỉ phát sinh, tồn tại và phát triển
trong xã hội có giai cấp. Nhờ nắm trong tay quyền lực nhà nƣớc, giai cấp nắm
quyền đã thông qua nhà nƣớc để thể hiện ý chí của giai cấp mình một cách tập
trung, thống nhất và hợp pháp thành ý chí nhà nƣớc. Ý chí đó đƣợc thể hiện cụ
thể hóa trong các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền
ban hành và đƣợc bảo đảm cho pháp luật đƣợc thực hiện. Mục đích của pháp
luật trƣớc hết là để điều chỉnh các quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã
hội nhằm hƣớng các quan hệ xã hội phát triển theo một trật tự phù hợp với ý
chí của giai cấp cầm quyền.
Khi nhà nƣớc quản lý xã hội bằng pháp luật, trật tự của một xã hội đƣợc
xây dựng dựa trên pháp luật thì trong xã hội đó mỗi công dân phải đƣợc trang
bị đầy đủ những kiến thức pháp luật cần thiết để suy nghĩ và hành động theo
pháp luật.
Giáo dục là con đƣờng chính và nhanh nhất để mang tri thức đến cho
con ngƣời, cung cấp cho họ sự hiểu biết về các lĩnh vực: tự nhiên, xã hội,
khoa học kỹ thuật… để họ phát triển toàn diện, thích ứng với mọi lĩnh vực
trong cuộc sống, chuẩn bị cho hành trang bƣớc vào đời để mỗi ngƣời có thể
làm việc trong các ngành nghề của xã hội, giúp họ nuôi sống bản thân, góp
phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Tri thức pháp luật muốn truyền tải đến mọi
Vấn đề giáo dục phổ thông nói chung và giáo dục pháp luật trong nhà
trƣờng phổ thông nói riêng, đến nay đã có một số tác giả nghiên cứu dƣới dạng
9
giáo trình, sách nghiên cứu, sách tham khảo hoặc một số luận văn Thạc sỹ. Một
số công trình có giá trị sử dụng cao nhƣ: Giáo trình “Lý luận Nhà nƣớc và Pháp
luật” do PGS.TS Lê Minh Tâm chủ biên, xuất bản năm 2000; cuốn “Bàn về
giáo dục pháp luật” của PGS.TS Trần Ngọc Đƣờng và TS Dƣơng Thị Mai, xuất
bản năm 1995; cuốn “Xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật” của PGS.TS
Đào Trí Úc, xuất bản năm 1995.
Về vấn đề giáo dục pháp luật trong nhà trƣờng có cuốn “Giáo dục pháp
luật trong nhà trƣờng” của TS Nguyễn Đình Đặng Lục xuất bản năm 2000;
cuốn “Giáo dục pháp luật trong trƣờng phổ thông” luận văn thạc sỹ của Ngô
Thị Thu Hà năm 1997; “Công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật của nƣớc ta-
Thực trạng và giải pháp” luận văn thạc sỹ của Hồ Quốc Dũng năm 1997; “Giáo
dục pháp luật thông qua hoạt động báo chí” luận văn thạc sỹ của Nguyễn Hùng
năm 2003; “Vai trò của pháp luật trong hình thành nhân cách” của TS Nguyễn
Đình Đặng Lục, xuất bản năm 2005.
Nhìn chung các tác giả đã tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận, sự
cần thiết phải quan tâm đến vấn đề giáo dục pháp luật cho công dân nói chung,
cho học sinh nói riêng; còn công tác quản lý hoạt động giáo dục pháp luật trong
nhà trƣờng thì chƣa đƣợc đề cập đến. Do đó, chúng tôi tập trung nghiên cứu
biện pháp quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh các trƣờng THPT
trên địa bàn huyện Tam Dƣơng tỉnh Vĩnh Phúc nhằm đổi mới, bổ sung, hoàn
thiện các nội dung giáo dục pháp luật cho học sinh THPT, phù hợp với điều
kiện hiện nay của đất nƣớc và xu thế hội nhập Quốc tế.
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Giáo dục
Giáo dục đƣợc hiểu theo nghĩa rộng nhất là giáo dục xã hội, đƣợc coi là
lĩnh vực hoạt động của xã hội nhằm truyền đạt những kinh nghiệm xã hội, lịch
có giai cấp, pháp luật chính là yếu tố điều chỉnh giai cấp về các quan hệ xã hội,
nhằm hƣớng các quan hệ xã hội phát triển theo một mục tiêu, một trật tự phù
11
hợp với ý chí của giai cấp nắm quyền, bảo vệ và củng cố địa vị của giai cấp
thống trị trong xã hội. Bên cạnh tính giai cấp pháp luật còn mang tính xã hội và
có giá trị xã hội to lớn. Bởi vậy, các quy phạm pháp luật là kết quả của sự chọn
lọc tự nhiên trong xã hội. Xã hội thông qua Nhà nƣớc ghi nhận những cách xử
sự hợp lý, khách quan phù hợp với lợi ích của số đông trong xã hội và đƣợc
Nhà nƣớc thể chế hóa thành những quy phạm pháp luật.
Giá trị xã hội của pháp luật thể hiện ở chỗ một quy phạm pháp luật
vừa là thƣớc đo của hành vi con ngƣời, vừa là công cụ kiểm nghiệm các quá
trình, các hiện tƣợng xã hội, là công cụ để nhận thức xã hội và điều chỉnh
các quan hệ xã hội.
Nhƣ vậy, pháp luật là một hiện tƣợng vừa mang tính giai cấp lại vừa thể
hiện tính xã hội. Hai thuộc tính này có mối quan hệ mật thiết với nhau. Xét
theo quan điểm hệ thống, không có pháp luật chỉ thể hiện duy nhất tính giai
cấp, ngƣợc lại cũng không có pháp luật chỉ thể hiện tính xã hội.
Từ những nhận xét trên, có thể hiểu pháp luật là hệ thống các quy tắc xử
sự do Nhà nƣớc ban hành hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí
của giai cấp nắm quyền lãnh đạo và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội
nhằm tạo ra trật tự và ổn định trong xã hội.
Pháp luật nhà nƣớc XHCN Việt Nam là hệ thống các quy phạm do nhà
nƣớc Việt Nam, đại diện cho quyền lực của giai cấp công nhân liên minh với
giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức đặt ra thể hiện ý chí, nguyện vọng và lợi
ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, có tính chất bắt buộc chung
đối với toàn xã hội, nhằm điểu chỉnh các quan hệ trong quá trình xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
1.2.2.2. Giáo dục pháp luật
Khái niệm GDPL cho đến nay vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau.
nhiều chủ thể (nhà trƣờng, các tổ chức Đảng, chính quyền, cơ quan, đoàn
thể…) nhằm hình thành ở khách thể những yếu tố chủ quan, trƣớc hết là tri
13
thức hiểu biết, tƣ tƣởng, thái độ, tình cảm về pháp luật. Đó chính là thiên chức
của giáo dục tiến bộ.
GDPL là hình thức cụ thể, là cái riêng, cái đặc thù và cũng là cái chung,
cái phổ biến trong mối quan hệ với giáo dục. Cụ thể là:
GDPL nhằm hình thành tri thức, tình cảm pháp luật ở mỗi cá nhân, hình
thành thói quen xử sự, nếp sống phù hợp với quy định của pháp luật, từ đó tự
giác tuân thủ pháp luật, có thái độ, hành vi đúng đắn, tích cực trong việc sử
dụng pháp luật. Nhƣ vậy, mục đích của GDPL là hình thành môi trƣờng chủ
quan thuận lợi, phù hợp từ đó chủ thể định hƣớng hành vi xã hội của mình
theo những chuẩn mực mà pháp luật quy định, góp phần tích cực tăng cƣờng
hiệu lực, hiệu quả của pháp luật. Mục đích này mang cả ý nghĩa lý luận và
thực tiễn.
Mặt khác GDPL cũng có nội dung riêng. Đó là sự tác động có tính
định hƣớng để chuyển tải nội dung pháp luật (nguyên tắc, giá trị, quy phạm
pháp luật). Những nội dung này phản ánh trong nó về các hiện tƣợng Nhà
nƣớc và các hiện tƣợng xã hội nhƣ: quan hệ xã hội, trách nhiệm xã hội đƣợc
thể hiện thông qua hình thức pháp lý. Nhƣng khi giáo dục về trách nhiệm
của con ngƣời trong xã hội thì đạo đức đề cập bằng phƣơng diện đạo lý, còn
pháp luật thì đề cập bằng nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý dƣới dạng những
hành vi bắt buộc.
Xét trên các vấn đề chủ thể, khách thể, đối tƣợng, hình thức và phƣơng
pháp giáo dục thì GDPL cũng có những nét riêng. Chủ thể GDPL trƣớc hết
phải có những tri thức cần thiết về pháp luật và đời sống pháp luật; phải hiểu
đƣợc nhân thân, hoàn cảnh, môi trƣờng sống của đối tƣợng; phải biết cách
truyền tải kiến thức pháp luật đến đối tƣợng; phải là hình mẫu trong việc tuân
thủ theo pháp luật. Đặc biệt, chủ thể giáo dục phải có khả năng minh họa những
những công việc cá nhân và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh từ sự
vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, khác với sự vận động của các bộ phận
riêng lẻ của nó. Một ngƣời chơi vỹ cầm riêng lẻ tự điều khiển mình. Còn dàn
nhạc thì cần ngƣời chỉ huy”. [20, tr.342]