1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN LÊ KHƯƠNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP
KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
Chuyên ngành Quản lý Giáo dục
Mã số: 60.14.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Trọng Văn
Vinh, 2010
2
3
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban Giám Hiệu, Khoa đào tạo Sau Đại
học Trường Đại học Vinh; Ban giám hiệu, Phòng Khảo thí & KĐCLGD
Trường Đại học Sài Gòn đã tạo mọi điều kiện cũng như giúp đỡ tác giả trong
suốt thời gian học tập, triển khai nghiên cứu đề tài cũng như hoàn thành luận
văn.
Tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sấu sắc đối với thầy giáo hướng
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
11
1.1. Tổng quan về chất lượng
11
1.2. Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
13
1.3. Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo trường Đại học
20
1.4. Công tác Kiểm định chất lượng GD của một số nước và Việt Nam
38
Chương 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
52
2.1. Vài nét về trường Đại học Sài Gòn
52
2.2. Một số thành tựu
101
TÀI LIỆU THAM KHẢO
107
PHỤ LỤC
109
5
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt
CB
CBCC
CBCNV
CBGD
CBGV
CBQL
CBVC
CĐ
CLGD
CNH
CSVC
ĐBCL
ĐGN
Đảm bảo chất lượng
Đánh giá ngoài
Đại học
Đại học Sài Gòn
Giáo dục
Giáo dục Đại học
Giáo dục và Đào tạo
Giáo sư
Giảng viên
Hiện đại hoá
Học sinh sinh viên
Hợp tác quốc tế
Kiểm định chất lượng
Kiểm định chất lượng Giáo dục
Khoa học
khoa học và công nghệ
Khảo thí và Kiểm định chất lượng Giáo dục
Kí túc xá
6
Viết tắt
KT-XH
NCKH
NCS
PGS
PTTH
QLGD
Tông, nơi được xem là trường ĐH đầu tiên của Việt Nam. Trong suốt thời kỳ
lịch sử này, các giá trị văn hoá dân tộc đã để lại nền tảng cơ bản cho việc phát
triển GDĐH ở Việt Nam và GDĐH Việt Nam tiếp tục được cũng cố và phát
triển trên nền tảng những giá trị văn hoá, khoa học của dân tộc và thời đại. Xu
hướng này đã được hội nghị quốc tế về GDĐH của Unessco tại Pari năm
1998 tuyến bố rõ ràng: “Sứ mạng cốt lõi của hệ thống GDĐH là đóng góp vào
việc phát triển và tiến bộ bền vững của toàn xã hội”. Nghị quyết 14/2005/NQCP ngày 02/11/2005 của nước ta về đổi mới căn bản và toàn diện GDĐH Việt
Nam giai đoạn 2006 – 2020 cũng đặt ra yêu cầu: “Hiện đại hoá hệ thống GD
ĐH trên cơ sở kế thừa những thành quả GD&ĐT của đất nước, phát huy bản
sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa nhân loại, nhanh chóng tiếp cận xu thế phát triển
GDĐH tiên tiến trên thế giới.” [13, tr 43]
Trong quá trình phát triển của đời sống xã hội và khoa học kỹ thuật của
quốc gia, vai trò vị trí của GDĐH nói chung và các trường ĐH nói riêng ngày
càng trở nên quan trọng. Các trường ĐH không chỉ có vai trò chủ chốt trong
lĩnh vực đào tạo nhân lực KH&CN trình độ cao mà thực sự đã và đang trở
thành các trung tâm nghiên cứu lớn về sản xuất tri thức mới và phát triển,
chuyển giao công nghệ hiện đại góp phần phát triển bền vững. Ở nhiều nước
phát triển như Mỹ, Anh, Úc … hệ thống GD trở thành một ngành dịch vụ tri
thức cao cấp góp phần đáng kể vào thu nhập GDP của quốc gia thông qua các
hoạt động dịch vụ đào tạo và khoa học kỹ thuật. Nhiều nước trong khu vực
8
ASEAN như Thái Lan, Malaixia, Philippin đã và đang thực hiện đổi mới, cải
cách GDĐH theo hướng phát triển đa đạng hoá, chuẩn hoá, hình thành hệ
thống bảo đảm chất lượng ĐH với nhiều tiêu chí và chuẩn mực đánh giá chất
lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, dịch vụ phát
triển cộng đồng.
Trong bối cảnh sôi động của các xu hướng phát triển của đời sống xã
nguồn nhân lực cho đất nước phát triển nhanh và bề vững”. Chiến lược GD
Việt Nam 2001 – 2010 khẳng định yêu cầu các cơ quan quản lý về nhà nước
về GD cần “tập trung làm tốt 3 nhiệm vụ chủ yếu: xây dựng chiến lược, quy
hoạch và phát triển kế hoạch GD; xây dựng cơ chế chính sách và quy chế
quản lý nội dung và chất lượng đào tạo; tổ chức kiểm tra và thanh tra. Đặc
biệt chú trọng công tác thanh tra GD và ĐBCL GD thông qua việc tổ chức và
chỉ đạo hệ thống kiểm định chất lượng”.
Cùng với quá trình phát triển về quy mô và đa dạng hoá các loại hình
GD, chất lượng GD và quản lý chất lượng GD đã và đang là mối quan tâm
của toàn xã hội và đặt ra nhiều vấn đề cần nghiên cứu giải quyết không chỉ ở
phạm vi nhà trường, cơ sở đào tạo là nơi trực tiếp tạo ra và chịu trách nhiệm
về chất lượng đào tạo mà còn trong phạm vi cả nước liên quan đến vai trò và
chức năng cũng như nội dung, phương pháp, cơ chế quản lý nhà nước về chất
lượng GD của các cơ quan quản lý nhà nước về GD ở trung ương và địa
phương.
GDĐH Việt Nam trong những năm qua tuy có sự chuyển biến tích cực
nhưng vẫn còn những bất cập về chất lượng giảng dạy cũng như chất lượng
của sinh viên hiện nay vẫn chưa tương xứng với sự phát triển của xã hội. Từ
những năm 90, GD Việt Nam chuyển từ GD tinh hoa sang GD đại chúng và
từ đó kéo theo sự bùng nổ về GDĐH khi có quá nhiều trường ĐH, cao đẳng
được thành lập mà chất lượng không thể kiểm soát được hết.
10
GDĐH hiện nay là dành cho số đông, vì thế mà chất lượng chưa được
cải thiện đúng mức. Vậy ngành GD đào tạo phải làm sao để đáp ứng nhu cầu
ngày càng lớn đặt ra cho tất cả chúng ta. Một trong những bước đi quan trọng
trong vấn đề này là Chính phủ đã giao cho ngành GD đào tạo thành lập một
cơ quan chức năng để “ĐBCL” cho quá trình đào tạo của mình.
4. Giả thuyết khoa học:
Trong xu thế hội nhập và phát triển, Trường Đại học Sài Gòn đã dược
nâng cấp từ trường Cao Đẳng Sư Phạm Tp. HCM là một trường chuyên
ngành đào tạo giáo viên sư phạm cho thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình nâng
cấp từ một trường sư phạm thành một trường ĐH đa ngành vẫn còn tồn tại
một vài vấn đề trong công tác quản lý đào tạo cũng như quá trình thực hiện
công tác kiểm định chất lượng. Nếu có một số biện pháp quản lý để nâng cao
chất lượng kiểm định đào tạo sẽ làm cho chất lượng kiểm định đào tạo ngày
càng hoàn thiện hơn.
5. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5.1. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài, chúng tôi xác định cần
phải hướng vào giải quyết các nhiệm vụ chính sau
5.1.1. Nghiên cứu về cơ sở lý luận của đề tài
5.1.2. Đánh giá một số thành tựu, tồn tại về thực trạng của công tác
KĐCL ở trường ĐHSG
5.1.3. Đề xuất các giải pháp để nâng cao việc kiểm định chất lượng đào
tạo ở trường Đại học Sài Gòn
5.2. Phạm vi
Tại Trường Đại học Sài Gòn
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
12
- Thu thập và nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài như: các
văn bản của nhà nước, Bộ GD – đào tạo, các tạp chí, sách báo, các tài liệu và
các công trình nghiên cứu khoa học.
- Từ những thu thập trên sẽ khái quát hoá và đưa ra quan điểm của cá
định (trường, chương trình, tất cả các cấp học hay chỉ GD ĐH,…), về tính
phụ thuộc hay độc lập với Nhà nước (độc lập hoàn toàn với Nhà nước, độc
lập trong việc đưa ra các quyết định chuyên môn nhưng vẫn nhận kinh phí của
Nhà nước hay phụ thuộc hoàn toàn vào Nhà nước),... Ở Hoa Kỳ, tất cả các tổ
chức kiểm định chất lượng GD đều không thuộc Nhà nước. Tuy nhiên, hầu
hết các tổ chức kiểm định chất lượng GD của các nước khác đi vào hoạt động
trong 20 năm gần đây đều do Nhà nước thành lập (Thái Lan, Mông Cổ,
Australia, Ấn Độ, Malaysia, Indonesia), nhưng sau đó trở thành các tổ chức
kiểm định độc lập (Australia, Ấn Độ, Malaysia, Indonesia,…), nhưng vẫn
được nhận kinh phí hỗ trợ của Nhà nước (Australia, Ấn Độ, Indonesia). Hoa
Kỳ có 6 tổ chức kiểm định vùng, nhưng hầu như các nước khác, nhất là các
nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, có xu hướng chỉ có một tổ
chức quốc gia kiểm định chất lượng GD (ví dụ : Thái Lan, Indonesia, Cămpu-chia). Một số nước khác như Nhật Bản, Phillippines, Malaysia có 2 tổ
chức kiểm định chất lượng GD, một trong số đó đã được thành lập khá nhiều
năm trước. Nhưng gần đây, Malaysia đã sáp nhập hai tổ chức lại thành một tổ
14
chức mới. Một số nước có những tổ chức kiểm định của các hiệp hội, tổ chức
chuyên môn hoạt động bên cạnh các tổ chức quốc gia kiểm định chất lượng
GD nhưng với quy mô nhỏ (ví dụ : Thái Lan).
Hoạt động kiểm định chất lượng GD của các nước khá khác nhau. Một
số nước chỉ kiểm định trường, một số nước khác chỉ kiểm định chương trình,
nhưng cũng có những nước đồng thời sử dụng cả kiểm định trường và kiểm
định chương trình. Hoạt động của các tổ chức kiểm định chất lượng GD cũng
tương tự. Đặc biệt, có tổ chức kiểm định chất lượng GD không trực tiếp kiểm
định các cơ sở GD mà chỉ đi kiểm định các tổ chức kiểm định chất lượng GD
khác (ví dụ: Hội đồng kiểm định GDĐH - CHEA, Hoa Kỳ) và cấp phép hoạt
động cho các tổ chức kiểm định chất lượng GD khác (ví dụ : Bộ GD Hoa Kỳ US Department of Education hay Hội đồng kiểm định chất lượng GD của
Việc quản lý chất lượng GD ở Việt Nam còn rất nhiều điều gay cấn cụ
thể như chất lượng GD Việt Nam còn thấp so với yêu cầu thực tiễn, thiếu một
hệ thống chỉ số thực hiện và chuẩn mực chất lượng để so sánh ngang tầm với
các nước trong khu vực như Hồng Kông, Thái Lan, Philippines, Indonesia …
Bộ máy, cơ chế và cán bộ chưa thay đổi phù hợp với phương thức quản lý
mới … Mặc dù chúng ta đã và đang từng bước xây dựng hệ thống ĐBCL ở
từng trường, từng cấp nhưng việc chúng ta đánh giá xem hệ thống ĐBCLGD
có ý nghĩa như thế nào dường như chưa được nghiên cứu đến. Ngoài những
tác động của công tác kiểm định chất lượng ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo
của nhà trường như hiện nay nó cần có những giải pháp gì để nâng cao chất
lượng kiểm định đào tạo. Với đề tài “Một số giải pháp kiểm định chất lượng
đào tạo ở trường Đại học Sài Gòn” tác giả sẽ đưa ra một số giải pháp để làm
sáng tỏ vấn đề nêu trên.
1.2. Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
1.2.1. Đại học
16
Là một bậc học chuyển tiếp của bậc phổ thông trung học dành cho
những học sinh có khả năng và nguyện vọng học tập tiếp lên trên, là bậc học
có học vấn chuyên nghiệp bậc cao gồm học vấn khoa học cơ bản, khoa học cơ
sở, khoa học và lí thuyết kĩ thuật chuyên ngành, kinh nghiệm và kĩ năng hoạt
động nghề nghiệp diện rộng, hoạt động nghiên cứu khoa học - công nghệ, tổ
chức - quản lí công tác chuyên môn, phương pháp và kĩ năng tự học tập, nâng
cao nghiệp vụ.
1.2.2. Trường Đại học
Trường đại học là một tổ chức cung cấp nền GD cao và là nơi nghiên
cứu, cấp bằng học thuật cho rất nhiều các lĩnh vực ngành nghề. Các trường
ĐH cung cấp cho chương trình GD cho sinh viên và chương trình GD sau ĐH
các yêu cầu của một tập hợp các đặc tính vốn có”. Trong đó yêu cầu được
hiểu là các nhu cầu hay mong đợi đã được công bố, ngầm hiểu hay bắt buộc.
- Chất lượng là “Tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo
cho thực thể (đối tượng) đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc
nhu cầu tiềm ẩn (TCVN – ISO 8402)
- Chất lượng được thể hiện ở các khía cạnh (theo Harvey & Green,
1993) đó là:
+ Sự xuất chúng, tuyệt vời, ưu tú, xuất sắc.
+ Sự hoàn hảo.
+ Sự phù hợp, thích hợp.
+ Sự thể hiện giá trị.
+ Sự biến đổi về chất. [ 13, tr. 427]
1.2.4.2. Một số đặc điểm của chất lượng
- Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu.
- Chất lượng luôn luôn biến động theo nhu cầu, theo thời gian và điều
kiện sử dụng.
- Chất lượng được đặt ra phù hợp với các tiêu chuẩn đã quy định.
1.2.5. Quan niệm về chất lượng và chất lượng đào tạo
18
1.2.5.1. Một số khái niệm liên quan đến chất lượng
* Kiểm soát chất lượng (Quality Control)
Kiểm soát chất lượng là quan điểm cổ nhất về quản lý chất lượng . Kiểm
soát chất lượng tập trung vào việc theo dõi lại các lỗi trong quá khứ. Kiểm
soát chất lượng trong môi trường sản xuất là “một phương thức cần thiết
cho việc thanh tra và loại bỏ, những sản phẩm có khiếm khuyết (mặc dù có
một số phương pháp thống kê của lý thuyết này có thể được sử dụng nhằm
* Thanh tra chất lượng (Quality Inspection)
Thanh tra chất lượng là việc làm của một nhóm người do các cơ quan
hữu quan cử tới xem xét một cách kĩ lưỡng quá trình ĐBCL và kiểm tra chất
lượng thực hiện hợp lý, đúng kế hoạch hay không. Thanh tra chất lượng
không quan tâm tới sứ mạng và mục tiêu của đối tượng đang xét. [ 6, tr. 38]
* Kiểm định chất lượng (Quality Accreditation)
Kiểm định chất lượng (Accreditation, thông thường được dịch là công
nhận chất lượng) là hoạt động của cơ quan có thẩm quyền (gọi là tổ chức
KĐCL) nhằm công nhận hay thừa nhận chính thức một trường ĐH có đủ năng
lực để tiến hành các hoạt động GD theo chuẩn mực kiểm định đã chấp nhận.
Kiểm định được xác định là “một quá trình xem xét chất lượng từ bên
ngoài, được GDĐH sử dụng để khảo sát đánh giá các cơ sở GD cao đẳng và ĐH
và các ngành đào tạo ĐH nhằm đảm bảo và cải tiến chất lượng" (CHEA, 2003).
Kiểm định chất lượng là “một quá trình ĐGN nhằm đưa ra một quyết định
công nhận một cơ sở GDĐH hay một ngành đào tạo của cơ sở GDĐH đáp ứng
các chuẩn mực qui định” (SEAMEO, 2003).
Chuẩn mực kiểm định do từng tổ chức KĐCL công bố. Tùy vào trình
độ quản lý của mỗi quốc gia dẫn đến nhiều chuẩn mực kiểm định khác
nhau. Như vậy, trên thực tế không tồn tại một chuẩn mực kiểm định chung
nhất. Đây là cơ sở để tiến hành đánh giá và công nhận đối với một trường
ĐH có nhu cầu đăng ký KĐCL.
20
Kiểm định có thể được áp dụng cho một trường ĐH, hoặc chỉ cho
một chương trình đào tạo của một môn học. Kiểm định đảm bảo với cộng
đồng cũng như với các tổ chức hữu quan rằng một trường ĐH (hay một
chương trình một môn học nào đó) có những mục tiêu đào tạo được xác
định rõ ràng và phù hợp; có được những điều kiện để đạt được những mục
người. Do vậy không thể dùng một phép đo đơn giản để đánh giá và đo lường
chất lượng trong GDĐH. Trong GDĐH người ta thường dùng một bộ thước
đo bao gồm các tiêu chí và chỉ số ứng với các lĩnh vực trong quá trình đào
tạo, nghiên cứu khoa học và dịch vụ cộng đồng của các trường ĐH. Bộ thước
đo này có thể dùng để đánh giá đo lường các điều kiện ĐBCL, có thể đánh giá
đo lường bản thân chất lượng đào tạo của một trường ĐH. Các chỉ số đó có
thể là chỉ số định lượng, tức là đánh giá và đo được bằng điểm số. Cũng có
thể có các chỉ số định tính, tức là đánh giá bằng nhận xét chủ quan của người
đánh giá.
Việc đánh giá, đo lường chất lượng có thể được tiến hành bởi chính cán
bộ giảng dạy, sinh viên của trường nhằm mục đích TĐG các điều kiện ĐBCL
đào tạo cũng như đánh giá bản thân chất lượng đào tạo của trường mình. Việc
này cũng có thể được tiến hành từ bên ngoài do các cơ quan hữu quan thực
hiện với các mục đích khác nhau (khen – chê, xếp hạng, khuyến khích tài
chính, kiểm định công nhận .v.v…) [ 6, tr. 42]
* Chính sách chất lượng và kế hoạch chất lượng
Điều quan trọng đối với một nền GDĐH cũng như của một trường ĐH
là phải có một chủ trương rõ ràng về chất lượng. Chính sách chất lượng là
một tuyên ngôn về sự cam kết của mình đảm bảo sẽ cung cấp một nền GDĐH
có chất lượng. Chủ trương đó phải được thể hiện bằng các phương châm cụ
thể.
Chất lượng không tự nhiên xuất hiện, mà phải có kế hoạch chiến lược
cho nó. Chất lượng phải là vấn đề quan trọng nhất trong chiến lược phát triển
22
của mỗi trường và phải được tiếp cận thông qua một quá trình kế hoạch hóa
chặt chẽ. Kế hoạch chiến lược là một trong những vấn đề lớn nhất của Quản
lý chất lượng tổng thể. Không có một định hướng dài hạn và rõ ràng thì nhà
dung, kế hoạch GD, tiêu chuẩn GV, quy chế thi cử và hệ thống văn bằng”
(Điều 36). Chiến lược GD Việt Nam 2001 – 2010 (QĐ 201/2001/QĐ-TTg
ngày 28/12/2001 của Thủ tướng chính phủ) cũng đã xác định yêu cầu đổi mới
quản lý GD, mở rộng quy mô trên cơ sở ĐBCL và hiệu quả GD.
Luật GD năm 2005 cũng đã quy định rõ các nội dung quản lý nhà nước
về GD như sau:
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính
sách phát triển GD.
- Ban hành tổ chức và thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về
GD; ban hành điều lệ nhà trường; ban hành quy định về tổ chức hoạt động
của các cơ sở GD khác.
- Quy định mục tiêu, chương trình, nội dung GD; tiêu chuẩn nhà giáo;
tiêu chuẩn CSVC và thiết bị trường học, việc biên soạn, xuất bản, in và phát
hành sách giáo khoa, giáo trình, quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ.
- Tổ chức quản lý việc ĐBCL GD và KĐCLGD.
- Thực hiện công tác thống kê, thông tin về tổ chức và hoạt động GD.
- Tổ chức bộ máy quản lý GD
- Tổ chức chỉ đạo, bồi dưỡng, quản lý nhà giáo và cán bộ quản lý GD.
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển GD.
- Tổ chức, quản lý công tác NCKH, công nghệ trong ngành GD
- Tổ chức, quản lý công tác quan hệ quốc tế về GD.
- Quy định việc tặng các danh hiệu vinh dự cho những người có nhiều
công lao đối với sự nghiệp GD.
24
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về GD; giải quyết khiếu
nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về GD.
Các quy định của Hiến pháp và Pháp luật tuy không nói rõ các yêu cầu
và sau đó được giới thiệu vào lĩnh vực GDĐH (Russo, 1995). Tư tưởng chủ
đạo của các chuẩn ISO có vẻ rất đơn giản: nói những gì bạn làm, làm những
gì bạn nói, ghi lại những gì bạn đã làm, kiểm tra lại kết quả và hành động khi
có sự khác biệt (Russo, 1995; Woodhouse, 1999). Có thể thấy là nếu như quá
trình chất lượng của một công ty được tiến hành trôi chảy thì nó sẽ cho ra
được những sản phẩm có chất lượng.
Không giống như kiểm soát chất lượng, ISO không phải là một hệ
thống có tính thanh tra mà ISO đòi hỏi bằng chứng nhận. ISO được viết cho
các lĩnh vực sản xuất và được làm ra cho các tổ chức kinh doanh các sản
phẩm nhất định. Do đó, các tiêu chí cần phải chính xác và nghiêm ngặt
(Russo, 1995). Trong GD, nhằm có được các tiêu chí thích hợp với tổ chức
cần phải có các thay đổi phù hợp, vì câu hỏi có thể đặt ra là: sản phẩm trong
GD là gì? Có nhiều tranh luận rằng sản phẩm của GD là những người tốt
nghiệp, không hoàn toàn nằm trong dây chuyền sản xuất, và người học như
những bình rỗng sẽ được lấp đầy với sự thông thái của người dạy và trong quá
trình đến trường – quá trình nhận được sự GD và rèn luyện kỹ năng. Một ý
kiến khác cho rằng người tốt nghiệp đóng ba vai trò trong quá trình GD: như
khách hàng, như người diễn viên trong quá trình sự GD diễn ra và như một
phần của sản phẩm.
Giải thưởng chất lượng quốc gia Malcolm Baldrige (The Malcolm
Baldrige National Quality Award – MBNQA) là một ví dụ về một phiên bản
của ISO trong GD (Russo, 1995). Các tiêu chí GD của Giải thưởng Malcolm
Baldrige cho việc Thực hiện xuất sắc (Malcolm Baldrige Education Criteria
for Performance Excellence – MBECPE) có bốn mục đích nhằm : Giúp cho
việc cải tiến việc thực hiện công việc, thực hành và khả năng của một tổ chức;