TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT
KHÓA LUẬN
TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đề tài:
LỰA CHỌN MỘT SỐ BÀI TẬP PHÁT TRIỂN
SỨC MẠNH BỘT PHÁT ĐỂ NÂNG CAO THÀNH
TÍCH MÔN NHẢY CAO KIỂU NẰM NGHIÊNG
CHO NAM HỌC SINH TRƯỜNG THPT YÊN
THÀNH 2 – YÊN THÀNH – NGHỆ AN
Giáo viên hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
Lớp
: ThS. Châu Hồng Thắng
: Trần Thị Thìn
: 48 Giáo dục thể chất
VINH – 2011
Khoá luận tốt nghiệp
Trần Thị Thìn
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới Th.s Châu Hồng Thắng là
người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Bảng 2
Bảng 3
Tên bảng
Bảng kết quả phỏng vấn hệ thống các bài tập bổ trợ
Bảng kế hoạch tập luyện
Bảng kết quả phỏng vấn các test kiểm tra đánh giá
Bảng 4
(n = 20)
Bảng kết quả kiểm tra chạy xuất phát cao 30m NĐC,
Bảng 5
NTN
Bảng kết quả kiểm tra thành tích bật cao tại chỗ NĐC,
Bảng 6
Bảng 7
Bảng 8
NTN
Bảng kết quả chạy xuất phát cao 30m (n = 20)
Bảng kết quả bật cao tại chỗ (n = 20)
Bảng so sánh thành tích nhảy cao kiểu nằm nghiêng
sau thực nghiệm (n = 20)
Khoá luận tốt nghiệp
Khoá luận tốt nghiệp
38
Trần Thị Thìn
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GD: Giáo dục
GDTC: Giáo dục thể chất
NXB: Nhà xuất bản
NĐC: Nhóm đối chứng
NTN: Nhóm thực nghiệm
TDTT: Thể dục thể thao
THPT: Trung học phổ thông
Khoá luận tốt nghiệp
Trần Thị Thìn
ĐẶT VẤN ĐỀ
GDTC là một trong những mục tiêu GD toàn diện của Đảng và nhà
nước ta và nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân. GDTC được hiểu là “
quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, hoàn thiện về thể
chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc và kéo dài tuổi thọ của con
người”.
GDTC cũng như các loại hình giáo dục khác là quá trình sư phạm
với đầy đủ đặc điểm của nó, có vai trò chủ đạo của nhà sư phạm, tổ chức
trọng giúp cho học sinh có thêm tinh thần sảng khoái sau những giờ học
văn hoá căng thẳng. TDTT còn giúp cho chúng ta phát triển tốt các tố chất
nhanh, mạnh, bền, khéo léo để tiến tới một sức khỏe tốt đáp ứng yêu cầu
của cuộc sống.
Trong hệ thống các môn TDTT thì Điền kinh là một trong những
môn được nhiều người quan tâm và ưa thích, phổ biến trong các trường học
và nó là một môn cơ bản dễ học, dễ phổ biến cho tất cả học sinh, sinh viên
tham gia tập luyện. Tập luyện điền kinh không chỉ có tác dụng nâng cao
sức khỏe mà còn là phương tiện để phát triển các tố chất thể lực giúp con
người phát triển toàn diện.
Bộ môn điền kinh bao gồm nhiều môn trong đó nhảy cao là một môn
được tập luyện và thi đấu rộng rãi. Nhảy cao trong GDTC là một trong
những hoạt động cơ bản nhằm phát triển các tố chất thể lực tăng cường sức
khỏe cho học sinh, đặc biệt là “sức mạnh bột phát” sự phát triển linh hoạt
khéo léo và trở thành một môn thể thao.
Trong các kỹ thuật, nhảy cao là nội dung thường được các vận động
viên có trình độ cao lựa chọn để thi đấu. Đây là kỹ thuật phức tạp, hoạt
động không mang tính chu kỳ, đòi hỏi người tập phải nắm vững những tư
duy động tác một cách nhịp nhàng, thuần thục.
Khoá luận tốt nghiệp
Trần Thị Thìn
Như chúng ta đã biết thành tích của các môn phụ thuộc vào sức
mạnh bột phát, tuy nhiên trong quá trình học tập nội dung nhảy cao kiểu
nằm nghiêng đạt kết quả chưa cao. Một mặt do đội ngũ giáo viên chưa có
phương pháp giảng dạy phù hợp, các bài tập có khối lượng và cường độ
vận dụng chưa phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, chưa phù
Khoá luận tốt nghiệp
Trần Thị Thìn
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Những quan điểm và khái niệm về sức mạnh bột phát
Sức mạnh là khả năng con người khắc phục lực cản bên ngoài hoặc
chống lại lực cản đó nhờ sự nổ lực cơ bắp.
Cơ bắp có thể phát huy sức mạnh trong các trường hợp sau đây:
- Không thay đổi độ dài của cơ (chế độ tĩnh lực)
- Giảm độ dài của cơ (chế độ khắc phục)
- Tăng độ dài của cơ (chế độ nhượng bộ)
Chế độ khắc phục và chế độ nhượng bộ hợp thành chế độ động lực.
Nếu con người thực hiện một loạt động tác nào đó với nổ lực cơ bắp tối
đa để làm chuyển động những vật thể có khối lượng khác nhau thì lực sinh
ra cũng khác nhau.
Lúc đầu tăng các khối lượng vật thể thì lực phát huy cũng tăng lên
nhưng tới một giới hạn nhát định, tăng khối lượng vật thể lại không thấy
lực cơ bắp tăng thêm. Khi khối lượng vật thể quá lớn thì lực mà con người
tác động vào nó không còn phụ thuộc vào khối lượng vật thể nữa mà chỉ
phụ thuộc vào sức lực của con người.
Người ta đo tốc độ và lực cơ học khi thấy những quả tạ có trọng lượng
khác nhau và nhận thấy rằng giữa lực và tốc độ có tương quan tỷ lệ nghịch
với nhau: tốc độ càng cao thì lực càng nhỏ và ngược lại. Trong trường hợp
quả tạ nặng tới mức không thể đẩy xa được nữa thì lực lớn nhất,ngược lại
trong động tác tay không tốc độ tay sẽ lớn nhất. Sự phụ thuộc giữa các chỉ
số lực và tốc độ trong các động tác với trọng lượng các vật thể khác nhau.
Bằng thực nghiệm và phân tích khoa học,người ta đã đi đến một số kết
luận có ý nghĩa cơ bản trong phân loại sức mạnh:
T
MAX
MAX
Trong đó: I – là chỉ số sức mạnh tốc độ
Fmax – là lực tối đa phát huy trong động tác
Tmax – là thời gian đạt được chỉ số lực tối đa
Để so sánh sức mạnh của những người có trọng lượng khác nhau,
người ta thường sử dụng khái niệm sức mạnh tương đối, tức là sức mạnh
của 1kg trọng lượng cơ thể.
Khoá luận tốt nghiệp
Trần Thị Thìn
Sức mạnh tương đối = Sức mạnh tuyệt đối / Trọng lượng cơ thể
Sức mạnh tuyệt đối có thể đo bằng lực kế hoặc tọng lượng tạ tối đa mà
vận động viên khắc phục được.
Ở những người có trình độ tương đương nhưng trọng lượng cơ thể
khác nhau thì sức mạnh tuyệt đối tăng hơn theo trọng lượng, còn sức mạnh
tương đối lại giảm đi.
1.2 Những yếu tố chi phối sức mạnh bột phát
Sức mạnh tích cực tối đa (còn gọi là sức mạnh tuyệt đối) của cơ chịu
ảnh hưởng của hai nhóm yếu tố chính là:
- Các yếu tố trong cơ ở ngoại vi
Nhóm này gồm có:
+ Điều kiện cơ học của sự co cơ
+ Chiều dài ban đầu của cơ
yếu do tăng thể tích cơ tương tức là bộ máy không co bóp của sợi cơ. Sự
phì đại này phát sinh do hàm lượng các chất dự trữ năng lượng trong sợi cơ
như glycogen, cp, myoglobin tăng lên; số lượng mao mạch tăng lên cũng
làm sự phì đại cơ kiểu này. Phì đại cơ tương là một loại phì đại cơ thương
gặp trong tập luyện sức bền, nó ít ảnh hưởng đến sức mạnh của cơ.
Đặc điểm cấu tạo của các loại sợi cơ chứa trong cơ là tỷ lệ các loại sợi
chậm (nhóm I) và nhanh (nhóm II-A, II-B) chứa trong cơ. Các sợi nhanh,
nhất là sợi nhóm II - B có khả năng phát lực lớn hơn các loại sợi chậm. Vì
vậy, cơ có tỷ lệ sợi nhanh càng cao thì có sức mạnh càng lớn. Tập luyện
sức mạnh cũng như các hình thức tập luyện sức mạnh khác có thể làm thay
đổi được tỷ lệ các loại sợi trong cơ. Tập luyện sức mạnh có thể làm tăng tỷ
lệ sợi cơ nhanh gluco phân nhóm II-B, giảm tỷ lệ sợi cơ nhanh oxy hóa
nhóm II-A và làm tăng sự phì đại của các sợi cơ nhanh.
- Các yếu tố thần kinh trung ương: điều khiển sự co cơ và phối hợp giữa
các sợi cơ và cơ trước tiên là khả năng chức năng của các nơron thần kinh
vận động, tức là mức độ phát xung động với tần số cao. Sức mạnh tối đa
Khoá luận tốt nghiệp
Trần Thị Thìn
phụ thuộc vào số lượng đơn vị vận động tham gia vào hoạt động. Vì vậy để
phát lực lớn, hệ thần kinh phải gây hưng phấn ở rất nhiều nơron vận động.
Sự hưng phấn đó không phải quá lan rộng để không gây hưng phấn ở các
cơ đối kháng, tức là phải tạo ra sự phối hợp tương ứng giữa các nhóm cơ,
tạo điều kiện do cơ chủ yếu phát huy hết sức mạnh. Trong quá trình tập
luyện sức mạnh các yếu tố thần kinh trung ương được hoàn chỉnh dần, nhất
là khả năng điều khiển sự phối hợp giữa các nhóm cơ thần kinh trung ương.
Các yếu tố này làm tăng cường sức mạnh chủ yếu tối đa đáng kể.
như sau:
- Cải tiến, sáng tạo nhiều loại công cụ và phương tiện để sử dụng các bài
tập sức mạnh bột phát
Các cuộc thi chính thức khởi nguồn lịch sử môn nhảy cao lần đầu tiên
có từ 100 năm trước. Việc tập luyện nhảy cao về trước nhảy cao trên hố cát
và đường chạy đà bằng đất, nện hoặc xỉ than, các kỹ thuật còn nghèo nàn,
công cụ và phương tiện phục vụ cho tập luyện còn hạn chế. Do vậy, các
hình thức của các bài tập phát triển sức mạnh bột phát cũng đơn điệu,
nghèo nàn. Từ thập niên 80 của thế kỷ XX nhờ có sự ra đời của nệm mút,
đường chảy nhựa tổng hợp và các máy móc thành lập khác nhau làm cho
các bài tập đa dạng phong phú hơn.
- Tận dụng các phương tiện về ánh sáng, âm thanh tăng hiệu quả huấn
luyện sức mạnh bột phát
Hiện nay các nhà khoa học đã phát hiện thấy mối quan hệ giữa các
giác quan (thính giác, xúc giác, thị giác, khứu giác, vị giác) đều có tác
động quan trọng tới việc nắm bắt kỹ năng, kỹ xảo và phát triển các tố
chất vận động. Vì vậy, ngoài việc dùng các giáo cụ trực quan hoặc ngôn
ngữ, nhiều chuyên gia thể thao đã dùng ánh sáng, âm thanh, tiếng động
để tác động vào tâm lý cũng như quá trình hưng phấn của người tập,
giúp cho việc tập luyện đạt hiệu quả cao.
- Tận dụng các phương tiện về ánh sáng, âm thanh tăng hiệu quả
huấn luyện sức mạnh bột phát.
Khoá luận tốt nghiệp
Trần Thị Thìn
- Xu thế mô hình hóa cảm giác để dẫn dắt và chương trình hóa tác
động
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu:
- 40 nam học sinh Trường THPT Yên Thành 2 –Yên Thành –Nghệ
An.
2.2. Phương pháp nghiên cứu:
2.2.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Phương pháp này chúng tôi đã sử dụng trong quá trình nghiên cứu
nhằm mục đích thu thập thông tin qua đọc, phân tích và tổng hợp các tài
liệu có liên quan để đưa ra các kết luận quan trọng phục vụ cho hướng
nghiên cứu và giải quyết vấn đề một cách khoa học.
2.2.2. Phương pháp quan sát sư phạm
Chúng tôi sử dụng phương pháp này với mục đích thu thập những
thông tin, các chỉ số, những sự kiện diễn ra trên cơ thể người tập dưới
tác động của bài tập. Từ đó đưa ra những biện pháp giáo dục mới phù
hợp với đối tượng tập luyện để đạt được kết quả cao nhất.
2.2.3. Phương pháp phỏng vấn tọa đàm
Phương pháp này được sử dụng nhằm thu thập những khái niệm,
thông tin cần thiết sát thực với thực tiễn tập luyện thông qua trao đổi,
phỏng vấn, toạ đàm trực tiếp hoặc gián tiếp giữa các nhà nghiên cứu với
các cá nhân, các thầy cô có kinh nghiệm về các vấn đề nghiên cứu qua
đó có thêm kinh nghiệm và lựa chọn các bài tập phát triển sức mạnh bột
phát để nâng cao thành tích cho học sinh.
2.2.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp này được tiến hành theo phương pháp thực nghiệm so
sánh song song. Trong quá trình nghiên cứu chia thành 2 nhóm, mỗi
nhóm 20 học sinh cùng lứa tuổi, giới tính, địa cư sinh sống, cùng thời
Khoá luận tốt nghiệp
hướng về phía trước, thân người thẳng tự nhiên, hai tay đưa với lên cao
hết cỡ.
Khoá luận tốt nghiệp
Trần Thị Thìn
+ Cách thực hiện: Nhanh chóng duỗi nhanh các khớp hông, gối, cổ
chân tác dụng xuống đất một lực lớn, nhanh chóng bật đưa cơ thể lên
khỏi mặt đất, đùi lên cao. Khi cơ thể ở điểm cao nhất với tay chạm vào
vật chuẩn quy định để đánh giá kết quả.
+ Cách đánh giá: Thành tích được tính từ điểm với khi chuẩn bị đến
điểm với khi nhảy của cơ thể. Đơn vị (cm) mỗi người bật hai lần lấy
thành tích cao nhất.
2.2.6. Phương pháp toán học thống kê
Chúng tôi đã sử dụng phương pháp này để đánh giá chính xác các số
liệu có liên quan. Từ đó kiểm chứng lại để đưa ra các kết luận và tăng
thêm độ tin cậy cho quá trình nghiên cứu.
Để xử lí kết quả nghiên cứu chúng tôi đã sử dụng các công thức toán
học thông kê sau:
- Công thức tính:
X =
1 n
∑ (n
∑ xi − x
n −1
- Công thức tính hệ số biến sai:
So sánh hai số trung bình:
T=
)
2
(n < 30)
CV = δ x 100%
X
X −X
δ +δ
n n
A
2
B
2
A
B
Khoá luận tốt nghiệp
i
2
B
Trần Thị Thìn
Dựa vào giá trị của T quan sát để tìm trong bảng T ngưỡng xác suất P
ứng với độ tự do.
Nếu |T| tìm ra > T (bảng) thì sự khác biệt có ý nghĩa ở ngưỡng P < 5%.
Nếu |T| tìm ra < T (bảng) thì sự khác biệt có ý nghĩa ở ngưỡng P = 5%.
2.3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.3.1. Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu tại trường Đại học Vinh và Trường THPT Yên Thành 2
–Yên Thành –Nghệ An.
2.3.2. Thời gian nghiên cứu
Các giai đoạn nghiên cứu
Từ ngày 15/11 đến ngày 10 /05 qua 4 giai đoạn:
- Giai đoạn: Từ ngày 15/11/2010 đến ngày 05/01/201: Lựa chọn đề
tài, lập đề cương, kế hoạch nghiên cứu, dự toán kinh phí.
- Giai đọan 2: Từ ngày 05/01/2011 đến ngày 21/02/201: Phân tích cơ
sở lý luận và thực tiễn, xác định hướng nghiên cứu.
- Giai đoạn 3: Từ ngày 21/02/2011 đến ngày 15/04/2011: Thu thập
thông tin, tính toán xử lý số liệu, phân tích dữ liệu thu được, viết luận
văn.
- Giai đoạn 4: Từ ngày 15/04/2011 đến ngày 10/05/2011
- Trong các chế độ nhượng bộ khả năng sinh lực của cơ là lớn nhất,
đôi khi gấp hai lần lực phát huy trong điều kiện tĩnh.
- Trong động tác nhanh trị số lực giảm dần theo tốc độ.
- Khả năng sinh lực trong động tác nhanh tuyệt đối và khả năng sinh
lực trong động tác tĩnh tối đa không tương quan với nhau.
Khoá luận tốt nghiệp
Trần Thị Thìn
Trên cơ sở đó người ta phân loại sức mạnh bằng các loại sức mạnh
sau:
+ Sức mạnh đơn thuần (khả năng sinh lực trong động tác chậm hay
tĩnh)
+ Sức mạnh tốc độ (khả năng sinh lực trong động tác nhanh)
Sức mạnh tốc độ là khả năng khắc phục lực cản bên ngoài bằng sự
căng cơ tối đa trong khoảng thời gian ngắn nhất. Sức mạnh bột phát là một
thành phần của sức mạnh tốc độ.
Sức mạnh bột phát là khả năng con người phát huy một lực lớn trong
khoảng thời gian ngắn nhất.
Trong giảng dạy và huấn luyện TDTT cần chú ý đến cơ chế cải thiện
sức mạnh. Có thể tiến hành các bài tập động lực xen kẽ các bài tập tĩnh lực
nhằm kết hợp cả hai hình thức co cơ đẳng trường và co cơ đẳng trương.
Các tố chất thể lực có mối quan hệ mật thiết và bổ trợ lẫn nhau, vì vậy
khi huấn luyện để phát triển tố chất sức mạnh cũng cần phải quan tâm tới
phát triển các tố chất khác (sức nhanh, sức bền, sự khéo léo). Do đó để
huấn luyện đạt được kết quả cao cần có sự kết hợp hài hòa giữa các yếu tố
trên cùng với việc thực hiện kỹ thuật động tác. Thông thường để cải thiện
sức mạnh người ta thường sử dụng phương pháp lặp lại với vật có trọng tải
một dạng của sức mạnh trong đó có sự phát lực lớn và nhanh.
Sức mạnh mà cơ phát ra phụ thuộc vào:
- Số lượng đơn vị vận động (sợi cơ) tham gia vào căng cơ
- Chế độ co của đơn vị vận động (sợi cơ) đó
- Chiều dài ban đầu của sợi cơ trước lúc co
Khi số lượng sợi cơ là tối đa, các sợi cơ đều co theo chế độ co cứng
và chiều dài ban đầu của sợi cơ là chiều dài tối ưu thì cơ sẽ co với lực tối
đa. Lực đó gọi là sức mạnh tối đa, nó thường đạt được trong co cơ tĩnh sức mạnh tối đa của một cơ phụ thuộc vào số lượng sợi cơ và tiết diện
ngang (độ đày) của sợi cơ. Sức mạnh tối đa tính trên tiết diện ngang của cơ
gọi là sức mạnh tương đối. Bình thường sức mạnh đó bằng 0,5 – 1 kg/cm2.
Khoá luận tốt nghiệp
Trần Thị Thìn
Các yếu tố ảnh hưởng đến sức mạnh: Sức mạnh tích cực tối đa (sức
mạnh tuyệt đối) của cơ chịu ảnh hưởng của hai nhóm yếu tố chính là:
- Các yếu tố trong cơ ở ngoại vi gồm có:
+ Điều kiện cơ học của sự co cơ
+ Chiều dài ban đầu của cơ
+ Độ dày (tiết diện ngang) của cơ
+ Đặc điểm cấu tạo của các loại sợi cơ chứa trong cơ
- Các yếu tố thần kinh trung ương điều khiển sự co cơ và phối hợp
giữa các sợi cơ và cơ.
Điều kiện cơ học của sự co cơ và chiều dài ban đầu của cơ trước lúc
co là các yếu tố kỹ năng của hoạt động sức mạnh. Hoàn thiện kỹ thuật động
tác chính là tạo ra điều kiện cơ học và chiều dài ban đầu tối ưu cho sự co cơ.
Do sức mạnh của cơ phụ thuộc vào tiết diện ngang (độ dày) nên khi
tiết diện ngang tăng lên thì sức mạnh cũng tăng lên.
thiểu. Các hoạt động sức mạnh – tốc độ VĐV cần phải gắng sức ở mức tối
đa. Ngoài ra, hoạt động loại này đòi hỏi cơ phải có tính linh hoạt và phối
hợp rất cao trong một thời gian ngắn, vì vậy còn gọi là sức manh bột phát.
Nhìn chung hoạt động sức mạnh – tốc độ tác động đến trạng thái chức
năng cơ thể tương đối yếu hơn. Trong các bài tập sức mạnh tốc độ, hệ máu
của VĐV hầu như không có gì biến đổi rõ rệt. Trong các môn nhảy, tần số
nhịp tim có thể lên tới 140 – 150 lần/phút. Đặc biệt quan trọng nhất là nhịp
tim của VĐV sau khi kết thúc các bài tập sức mạnh tốc độ. Huyết áp của
VĐV tăng lên tuy không cao lắm, nhất là huyết áp tối đa (150 – 160 mm hệ
thống). Tần số hô hấp tăng lên không đáng kể sau khi kết thúc hoạt động,
thể tích oxy và hấp thụ oxy tăng lên ít nhiều. Các bài tập sức mạnh tốc độ
là các bài tập có công suất lớn được thực hiện trong một thời gian ngắn. Vì
vậy năng lượng được sử dụng chủ yếu là do phân giải ATP, CP dự trữ
trong cơ. Nhu cầu oxy không thỏa mãn trong quá trình hoạt động làm cho
cơ nợ oxy lên tới 95%. Song thời gian ngắn nên tổng lượng oxy không lớn
lắm. Nợ oxy vào khoảng 20 – 30 lít trong hoạt động kéo dài 1 phút. Chức
Khoá luận tốt nghiệp
Trần Thị Thìn