BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THỊ BÍCH THỦY
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH
NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ QUA DẠY HỌC PHẦN
“CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC” CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC
CÔNG DÂN LỚP 10 TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
(Qua khảo sát tại trường Phổ thông Dân tộc Nội trú tỉnh Bình Thuận)
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn chính trị
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Lương Bằng
Tp. Hồ Chí Minh - năm 2012
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi gửi lời cảm ơn:
Trường đại học Vinh, khoa sau đại học, khoa Giáo dục chính trị đã tạo
điều kiện cho tôi có cơ hội học tập.
Các giảng viên đã tận tình giảng dạy. Đặc biệt là PGS. TS Nguyễn Lương
Bằng đã trực tiếp hướng dẫn khoa học, tận tình chỉ bảo, định hướng, giúp đỡ tôi
trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Ban Giám Hiệu và quý thầy cô trường PT. DTNT tỉnh Bình Thuận, đặc
biệt là thầy cô Tổ bộ môn Sử - Địa - GDCD đã hỗ trợ, giúp đỡ, tạo điều kiện,
Giáo dục công dân
ĐC
Đối chứng
GDĐĐ
Giáo dục đạo đức
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
PT
Phổ thông
THPT
Trung học phổ thông
TN
Thực nghiệm
trường phổ thông Dân tộc nội trú tỉnh Bình Thuận ............................................ 69
3.2. Một số giải pháp cơ bản nhằm giáo dục đạo đức cho học sinh người dân tộc
thiểu số qua dạy học phần “Công dân với đạo đức” chương trình giáo dục công
dân lớp 10 tại trường Phổ thông Dân tộc nội trú tỉnh Bình Thuận ..................... 80
C. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ....................................................... 106
D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................. 109
E. PHẦN PHỤ LỤC ........................................................................................ 112
1
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, chúng ta đã giành
được những thắng lợi oanh liệt và đầy tự hào. Sau hai mươi lăm năm đổi mới,
nước ta bước vào giai đoạn hội nhập. Bên cạnh việc phát triển nền kinh tế, bảo
vệ đất nước là một trong những nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Sự quan tâm của
Đảng, nhà nước đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS cũng góp phần
đắc lực vào nhiệm vụ xây dựng vào bảo vệ Tổ Quốc.
Những năm gần đây, đời sống của vùng đồng bào DTTS ngày càng được
nhà nước quan tâm qua chương trình 135 - chương trình phát triển kinh tế, xã
hội các xã đặc biệt khó khăn, vùng DTTS và miền núi nhằm tạo sự chuyển biến
nhanh về sản xuất, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng
sản xuất gắn với thị trường; cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho
đồng bào DTTS một cách bền vững. Nhiều chương trình, dự án lớn được triển
khai thực hiện ở vùng đồng bào DTTS với mục tiêu đầu tư cho giáo dục và đào
tạo, y tế, giao thông, thủy lợi. Trong đó, công tác giáo dục ngày càng được chú
trọng. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành TW khóa IX đã khẳng định:
“Thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân
mục tiêu và không có động cơ học tập đúng đắn; vi phạm nội quy học tập, phá
hoại tài sản của nhà trường…Thực trạng vi phạm đạo đức của HS người DTTS
lớp 10 ở trường phổ thông Dân tộc Nội trú tỉnh Bình Thuận là điều đáng lo ngại.
Nếu không được khắc phục kịp thời, nhiệm vụ giáo dục dân tộc do Bộ giáo dục
và đào tạo đề ra trong giai đoạn 2008 - 2020 rất khó thực hiện được, gây ra sự
lãng phí trong sử dụng ngân sách nhà nước vào việc đầu tư cho giáo dục dân tộc
ở tỉnh Bình Thuận. Đây là sự cản trở rất lớn trong quá trình xây dựng nông thôn
mới, là nguyên nhân kéo dài thêm sự nghèo nàn, lạc hậu ở vùng đồng bào DTTS
của Tỉnh. Sự suy thoái đạo đức của HS người DTTS sẽ tạo điều kiện cho các thế
3
lực phản động thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ”, tiếp
tay cho kẻ xấu hủy hoại môi sinh nơi vùng xa xôi của Tổ Quốc.
GDĐĐ để HS người DTTS không ỷ lại vào chính sách của Đảng và Nhà
nước, có động cơ học tập đúng đắn, có lý tưởng sống đáp ứng yêu cầu, mục tiêu
mà Đảng, Nhà nước đã đặt ra là vấn đề quan trọng và hết sức cấp thiết.
Góp phần vào thực hiện công việc này, tác giả đã chọn vấn đề: Giáo dục
đạo đức cho học sinh người dân tộc thiểu số qua dạy học phần “Công dân với
đạo đức” chương trình giáo dục công dân lớp 10 trong giai đoạn hiện nay.
(Qua khảo sát tại trường phổ thông Dân tộc nội trú tỉnh Bình Thuận) làm đề
tài luận văn Thạc sĩ cho ngành Lý luận và phương pháp giảng dạy bộ môn chính
trị của mình.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Cho đến nay, vấn đề đạo đức, GDĐĐ và dân tộc thiểu số được nghiên cứu
khá sâu sắc. Liên quan đến nội dung của đề tài nghiên cứu, có thể chia thành
nhóm các vấn đề sau:
Thứ nhất: Nhóm vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh trong giai đoạn hiện
nay.
PGS. TS. Nguyễn Lương Bằng với bài viết “Tiêu chí giáo dục và đào tạo
chính trị quốc gia Hà Nội phát hành năm 2005.
“Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc
nước ta hiện nay” của tác giả Lô Quốc Toản được Nhà xuất bản chính trị quốc
gia Hà Nội phát hành năm 2010.
*Tạp chí, báo
Tác giả Lê Như Hoa với vấn đề “Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam thế kỷ
XX”, Tạp chí Văn hóa Thông tin, năm 2002.
“Thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm phát triển toàn
diện, bền vững vùng dân tộc thiểu số” của Chủ tịch hội đồng dân tộc Quốc hội
5
K’ Sor Phước được đăng trên tạp chí cộng sản số 797, tháng 3 năm 2009. Bài
viết khẳng định vai trò quan trọng của khối đại đoàn kết dân tộc trong quá trình
phát triển của các DTTS, nhằm đẩy lùi nguy cơ tụt hậu.
Bài viết của Phó chủ nhiệm Ủy ban dân tộc Sơn Phước Hoan “Thực hiện
một số chính sách xã hội ở vùng dân tộc thiểu số trong hội nhập và phát triển”
được đăng trên Tạp chí Cộng sản số 805, tháng 11 năm 2009.
Bài viết của Vân Hạnh: “Internet với học sinh dân tộc nội trú tỉnh Bình
Thuận” được đăng trên báo Bình Thuận năm 2010.
Chiến lược phát triển giáo dục được đề ra ở các trường dân tộc nội trú với
mục tiêu xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học có bài viết: “Chiến
lược phát triển giáo dục trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Lâm Đồng, giai
đoạn 2010- 2015” của tác giả Võ Tấn Hụê.
* Các bài luận văn
Trịnh Quang Cảnh đã chọn vấn đề “Trí thức người dân tộc thiểu số ở Việt
Nam trong công cuộc đổi mới” (chủ yếu ở vùng dân tộc thiểu số phía Bắc), làm
luận án tiến sĩ năm 2002.
Năm 2011, Vũ Minh Thanh đã chọn vấn đề: “Vấn đề phát triển giáo dục ở
đồng bào dân tộc thiểu số” làm đề tài Thạc sĩ của mình. Luận văn đã đưa ra
“Công dân với đạo đức” chương trình GDCD lớp 10.
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm GDĐĐ cho HS người
DTTS qua dạy học phần “Công dân với đạo đức” chương trình GDCD lớp 10.
4. ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN
CỨU
4.1. Đối tượng nghiên cứu
HS người DTTS lớp 10 trường PT. DTNT tỉnh Bình Thuận
Chương trình GDCD lớp 10 phần “Công dân với đạo đức”
7
4.2. Khách thể nghiên cứu
Việc giáo dục đạo đức cho HS người DTTS lớp 10.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
Trường phổ thông Dân tộc nội trú tỉnh Bình Thuận
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1. Nghiên cứu lý luận
Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu là chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh về GDĐĐ cho thanh
niên.
Phương pháp lôgíc - lịch sử, phân tích, tổng hợp các nguồn tài liệu để xây
dựng cơ sở lí luận có liên quan đến đề tài.
Nghiên cứu tiêu chí xếp loại đánh giá hạnh kiểm của HS THPT
Nghiên cứu một số bài học phần “Công dân với đạo đức” trong chương
trình GDCD lớp 10.
5.2. Nghiên cứu thực tiễn
Thống kê chất lượng rèn luyện đạo đức của HS lớp 10 trường PT. DTNT
tỉnh Bình Thuận.
Thống kê kết quả về nhận thức của GDĐĐ qua dạy học phần “Công dân
với đạo đức” ở trường PT. DTNT tỉnh Bình Thuận.
của luận văn gồm 3 chương, 7 tiết.
9
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRƯỜNG
PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TỈNH BÌNH THUẬN
1.1. Cơ sở lý luận của giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ
thông trường phổ thông Dân tộc nội trú tỉnh Bình Thuận
1.1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1.1. Khái niệm đạo đức
Ngay từ khi mới ra đời, con người đã gắn mình với cộng đồng, xã hội như
một điều tất yếu để tồn tại, lao động và phát triển. Giữa những cá nhân ấy hình
thành mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết với nhau. Đó là mối quan hệ giữa cá nhân
với cá nhân, giữa cá nhân với xã hội. Để dung hòa lợi ích bản thân mình với lợi
ích của tập thể, mỗi cá nhân phải tuân theo những “lề thói”, những “tập tục”. Lề
thói, tập tục được hiểu là đạo đức.
Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng Latinh là mos (moris) - lề thói (moralis
nghĩa là có liên quan đến lề thói, đạo nghĩa). Đạo đức còn đồng nghĩa với “luân
lý” có nguồn gốc từ tiếng Hylạp là ethicos - lề thói, tập tục.
Ở phương Đông, đạo đức được đề cập trong xã hội Trung Quốc thời cổ đại.
Trong đó, quan niệm về “đạo” và “đức” được biểu hiện khá rõ nét trong đời
sống xã hội. Đạo là con đường, đường đi, đường sống của con người. Đức là
đức tính, tính cách của mỗi người. Đạo đức theo quan niệm của người Trung
Quốc cổ đại là những yêu cầu, nguyên tắc mà mỗi cá nhân phải tuân theo cho
phù hợp với yêu cầu, lợi ích của xã hội.
Ở phương Tây, đạo đức được đề cập đến trong triết học của Xôcrat (469399 TCN). Ông xem trí tuệ như đạo đức của con người. Còn Arixtôt quan niệm
rằng người có đạo đức, có đức hạnh là người biết định hướng để làm việc. Đạo
đức được xem như là phẩm hạnh, hướng con người đến sự tự do.
người với con người, giữa cá nhân và xã hội” [16; 12].
11
Trong từng giai đoạn của lịch sử, quan niệm về đạo đức vận động, biến đổi,
phát triển cùng với sự biến đổi của những nấc thang chuẩn mực xã hội theo
hướng ngày càng phát triển nhưng không hề tách rời và bỏ quên những giá trị
truyền thống dân tộc. Qua đó, đạo đức được hiểu là một hình thái ý thức xã hội,
là hệ thống các quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội mà nhờ đó, con người tự
giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng,
xã hội trong quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với xã hội.
1.1.1.2. Khái niệm giáo dục đạo đức
Giáo dục “là sự truyền thụ kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài
người nhằm hình thành và phát triển nhân cách con người” [15; 5]. Đó là hoạt
động có ý thức, có mục đích của chủ thể nhằm điều chỉnh, định hướng, tác động
đến quá trình hình thành nhân cách của đối tượng giáo dục.
Con người không thể tự hoàn thiện và phát triển nhân cách, có hành vi ứng
xử tự nguyện, tự giác phù hợp với chuẩn mực đạo đức khi không có quá trình
giáo dục. GDĐĐ là quá trình tác động có mục đích, nội dung và phương pháp
khoa học nhằm giúp con người hình thành và phát triển nhân cách, hướng hành
vi ứng xử theo đúng chuẩn mực xã hội.
Giáo dục đạo đức là “quá trình chuyển văn hóa đạo đức xã hội thành văn
hóa đạo đức cá nhân. Đó là quá trình chuyển những tri thức, những kinh nghiệm,
những chuẩn mực và lý tưởng đạo đức xã hội thành những phẩm chất đạo đức cá
nhân, làm phát triển ý thức cũng như năng lực đánh giá và thực hiện hành vi đạo
đức, năng lực tham gia vào các quan hệ đạo đức” [33; 164].
“Giáo dục đạo đức là lĩnh vực kỳ diệu bậc nhất của xây dựng tâm hồn và tư
tưởng cho con người” [1; 61]. Nhân cách con người được hình thành, hoàn thiện
trong quá trình giáo dục. Hệ thống kinh nghiệm xã hội, chuẩn mực, đánh giá đạo
đức đã được hình thành trong lịch sử cộng đồng biến thành kinh nghiệm của cá
xã hội. Ngược lại, ý thức đạo đức không hình thành được hệ thống các nguyên
13
tắc, chuẩn mực xã hội, con người không thể thực hiện hành vi đạo đức và tự
điều chỉnh bản thân. Khi đó, hành vi của con người mang tính ích kỷ, tính đố kỵ,
hẹp hòi, vụ lợi và là nơi nảy sinh những điều ác.
Giáo dục đạo đức phải tác động cả chiều rộng lẫn chiều sâu, đồng bộ đến
lý tưởng, chuẩn mực, tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen đạo đức cũng như
khả năng đánh giá hành vi đạo đức giúp tri thức đạo đức sâu sắc và bền vững.
Bao gồm:
Thứ nhất, giáo dục ý thức đạo đức là quá trình giáo dục tri thức đạo đức
Tri thức đạo đức “là sự phản ánh đời sống đạo đức của xã hội và con
người” [33; 167]; là sự hiểu biết về hệ thống những quy tắc, chuẩn mực, hành vi
phù hợp với những quan hệ đạo đức đã và đang tồn tại. Đây là nhân tố cơ bản,
cốt lõi trong quá trình hình thành nhân cách, chỉ đạo hành vi đạo đức.
Giáo dục tri thức đạo đức là giáo dục cách ứng xử cho phù hợp với các
chuẩn mực đạo đức đã quy định. Đây là giáo dục ở mức độ “thông thường” [33;
34], giáo dục “những giá trị đạo đức đơn lẻ được hình thành trực tiếp trong đời
sống hằng ngày” [33; 34]. “Chẳng hạn như những nguyên tắc trong đối nhân xử
thế như: “Trên kính dưới nhường”, “Đói cho sạch, rách cho thơm”…[33; 34]
Giáo dục ý thức “đạo đức ở trình độ lý luận” [33; 35] là giáo dục một cách
có hệ thống những nguyên tắc đạo đức XHCN trong mối quan hệ với truyền
thống đạo đức dân tộc trên cơ sở những phạm trù cơ bản của đạo đức học. Tri
thức đạo đức lý luận khái quát đạo đức xã hội ở trình độ sâu sắc, bao quát hơn.
Tri thức đạo đức từ trình độ thông thường được nâng lên trình độ lý luận
biểu hiện bằng sự phát triển của ý thức cá nhân, đáp ứng yêu cầu đạo đức của xã
hội thông qua quá trình giáo dục. Quá trình ấy phải được tiến hành từng bước,
từng giai đoạn, phù hợp với từng độ tuổi và năng lực nhận thức của cá nhân.
Thứ hai, giáo dục ý thức đạo đức là giáo dục tình cảm đạo đức
hiện hành vi đạo đức. “Ngày nay, hoài bão, ước mơ, niềm tin không thiên về
tính sử thi mà thiên về tính nhân văn… Tuy nhiên không phải vì thế mà người ta
không lựa chọn những giá trị chung như hòa bình, tự do, công lý, lao động cần
15
cù, xây dựng đất nước” [42; 221]. Lý tưởng đạo đức là sự lựa chọn các giá trị
đạo đức, giữ gìn các giá trị truyền thống của dân tộc, khát khao vươn lên chinh
phục những gì tốt đẹp nhất trong cuộc sống.
GDĐĐ không thể tách rời giáo dục lý tưởng đạo đức. Lý tưởng đạo đức
giúp tình cảm đạo đức không chệch hướng, tác động mãnh liệt đến tri thức đạo
đức chỉ đạo hành vi đạo đức của cá nhân, phù hợp với lý tưởng của dân tộc. Đó
là sự hòa quyện tinh tế, là dòng chảy hài hòa nhưng mãnh liệt trong mỗi cá nhân.
Thứ tư, giáo dục hành vi và thói quen đạo đức
Ý thức khi được phát triển thành năng lực thực hiện hành vi đạo đức, nó
giúp con người tự soi rọi mình trong hành vi đạo đức.
Giáo dục hành vi đạo đức thành thói quen đạo đức, như phản xạ có điều
kiện trong ứng xử. “Thói quen đạo đức là những hành vi đạo đức ổn định của
con người” [14; 167]. Hành vi đạo đức được thực hiện một cách tự giác, tự
nguyện, thường xuyên và liên tục. Xét ở góc độ khác, nó còn là nhu cầu của con
người mà khi không thực hiện nó, con người cảm thấy khó chịu và cắn rứt lương
tâm. Macarencô khẳng định: “Dù anh có xây được bao nhiêu quan niệm đúng
đắn về điều phải làm, tôi có quyền nói với anh rằng, anh chẳng giáo dục được gì
hết nếu anh không giáo dục thói quen cho các em” (Trích lại [14;167]).
Hành vi của con người được thực hiện dưới sự tác động, chi phối của ý thức
đạo đức. Hành vi đạo đức được thể hiện một cách tích cực tác động trở lại ý thức
đạo đức, làm cho ý thức đạo đức xã hội chuyển hóa thành ý thức đạo đức cá
nhân. Quá trình giáo dục trở thành quá trình tự giáo dục khi nhận thức về tri
thức đạo đức được kiểm nghiệm qua thực tiễn hành vi đạo đức. Hành vi đạo đức
của cá nhân ngày càng hoàn thiện trở thành “văn hóa đạo đức” [1; 57].
Vì thế, GDĐĐ với chức năng làm rõ giá trị thiện - ác như một sự định hướng
cho nhận thức và hành động, mang lại nhân sinh quan cho con người để phân
biệt thiện, ác; phân biệt điều hay, lẽ phải với sự sai trái làm cơ sở cho quá trình
giáo dục. GDĐĐ qua việc làm rõ các giá trị thiện - ác là khâu đầu tiên nhưng
17
xuyên suốt trong suốt quá trình giáo dục. Nó cung cấp những tri thức cơ bản của
quá trình nhận thức hệ thống các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức, được ví như
xương sống cho sự hoàn thiện nhân cách.
“Giữa các thời đại lịch sử khác nhau cũng có những điểm tương đồng về
thiện,…nghĩa là sự đem lại lợi ích và hạnh phúc cho mọi người” [16; 124]. Quan
niệm về thiện - ác cũng có sự thay đổi, nhưng giữa thời đại trước với thời đại
sau, nó luôn có sự tương đồng mà tâm điểm là lợi ích chung của xã hội, được
xác định từ lợi ích chung của quảng đại quần chúng nhân dân.
Làm rõ các giá trị thiện - ác nhằm khích lệ, tuyên dương những việc làm
tốt; lên án, ngăn ngừa những hành động sai trái. Đặc trưng của GDĐĐ không
phải là sự trừng phạt, xử lý những hành vi sai phạm khi con người đã nhúng tay
vào điều ác. Giá trị của cái thiện ở chỗ nó luôn soi sáng để dẫn đường cho con
người, chinh phục những người có hành vi không lương thiện. GDĐĐ giúp con
người nắm vững giá trị của cái thiện, lựa chọn nó trong mỗi hành vi ứng xử của
mình với người khác và với cộng đồng.
1.1.2. Quan niệm đạo đức và giáo dục đạo đức của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
Kế thừa tính khoa học và khắc phục những hạn chế các quan niệm trước đó,
quan niệm về đạo đức và GDĐĐ của triết học Mác - Lênin đi từ sự luận giải về
bản chất con người.
Lao động là tiền đề đầu tiên làm cho các cá nhân gắn kết lại với nhau. Như
một sự tất yếu khách quan, mối quan hệ giữa những con người được hình thành.
Đó là quan hệ xã hội. Vì vậy, con người không phải là con người chung chung,
phi hiện thực mà là con người trong hiện thực, gắn liền với những điều kiện sinh
cách tích cực chế độ tư hữu - sự tự tha hóa ấy của con người…; do đó với tính
cách là việc con người hoàn toàn quay trở lại chính mình với tính cách là con
19
người xã hội, nghĩa là có tính chất người - sự quay trở lại này diễn ra một cách
có ý thức và có giữ lại tất cả sự phong phú của sự phát triển trước đó” [6; 287].
V.I.Lênin khẳng định: “Đạo đức đó là những gì góp phần phá hủy xã hội cũ
của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh
giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới của những người cộng sản… là đạo
đức phục vụ cuộc đấu tranh ấy, là đạo đức nhằm đoàn kết những người lao động
chống mọi sự bóc lột” [19; 369]. Hành vi đạo đức được thể hiện như nhiệm vụ
của mỗi cá nhân, góp phần vào công cuộc chống lại sự bóc lột. Đạo đức cộng
sản gắn liền với lợi ích của giai cấp vô sản. Cuộc đấu tranh của giai cấp ấy vì sự
phát triển của con người. “Cuộc đấu tranh giai cấp còn tiếp tục…Và đạo đức
cộng sản của chúng ta cũng phải phục tùng nhiệm vụ này” [19; 369].
V.I.Lênin chú trọng vào giáo dục lý tưởng, lập trường của giai cấp vô sản,
giáo dục niềm tin, giáo dục tinh thần lao động, đoàn kết, giáo dục tri thức để
thanh niên trở thành những người thấm nhuần đạo đức cộng sản, biến mục tiêu
của xã hội thành hiện thực vì “Đạo đức giúp xã hội loài người tiến lên cao hơn,
thoát khỏi ách bóc lột lao động” [19; 371]. “Giáo dục thanh niên cộng sản không
phải là nói cho họ nghe những bài diễn văn êm dịu hay là những phép tắc đạo
đức. Không phải cái đó là giáo dục. Khi người ta thấy được cha mẹ mình sống
dưới ách của bọn địa chủ và bọn tư bản thế nào, khi chính người ta chịu chung
nỗi đau khổ với những người mở đầu cuộc chiến đấu chống bọn bóc lột…,- thì
khi đó, người ta tự rèn luyện mình trong hoàn cảnh này để trở thành những
người cộng sản. Cơ sở của đạo đức cộng sản là cuộc đấu tranh để củng cố và
hoàn thành công cuộc xây dựng chủ nghĩa cộng sản. Đó cũng là cơ sở của việc
rèn luyện, học tập và giáo dục cộng sản… Chúng ta không tin vào việc rèn
luyện, giáo dục và học tập nếu những việc đó chỉ đóng khung trong nhà trường
hành chủ nghĩa tập thể, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau,... nghiêm khắc chống chủ
nghĩa cá nhân như tự tư, tự lợi, tự kiêu, tự mãn” [28; 99].