Mở Đầu.
1. Lý do chọn đề tài:
Ngày nay, trong công cuộc đổi mới đất nớc, tiến hành công nghiệp hoá hiện
đại hoá, Đảng và Nhà Nớc ta đang phấn đấu xây dựng đất nớc ''dân giàu, nớc mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh''. Trong đó nhiệm vụ cơ bản là xây dựng một
nhà nớc thực sự của dân, do dân và vì dân với mục đích là ''mọi ngời ai cũng có cơm
ăn áo mặc, ai cũng đợc học hành''. Song một vấn đề hết sức quan trọng là chúng ta
xây dựng nó trên cơ sở đúc rút những kinh nghiệm, những bài học của quá trình xây
dựng nhà nớc trớc đó để làm cơ sở lý luận và thực tiễn cho công cuộc xây dựng đất nớc trong thời kỳ đổi mới ngày nay. Bởi nh có ngời đã từng nói ''chúng ta phải hỏi quá
khứ, bắt nó giải thích cho hiện tại và đoán định cho tơng lai'', hay nh Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã từng viết.
''Dân ta phải biết sử ta
Cho tờng gốc tích nớc nhà Việt Nam''
Điều đó có nghĩa là chúng ta phải tôn trọng quá khứ, giữ gìn những gì mà
chúng ta đã làm đợc trớc đó, để góp phần vào việc xây dựng, phát triển và hoàn thiện
đất nớc trong điều kiện lịch sử mới với muôn vàn khó khăn và thử thách hiện nay.
Một dấu hỏi lớn đặt ra cho chúng ta là vì sao trong năm đầu tiên của nền cộng
hoà, khi Cách mạng tháng Tám vừa mới thành công, chính quyền nhà nớc non trẻ vừa
mới ra đời nhng vẫn đứng vững trong suốt ba mơi năm chiến tranh giải phóng và đến
nay nó vẫn tiếp tục phát huy đợc vai trò của mình
Do vậy, với nội dung của đề tài ''Bớc đầu tìm hiểu về mô hình nhà nớc kiểu
mới ở Việt Nam năm đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám (02/09/1945-19/12/1946)'',
hy vọng nó sẽ là một nguồn tài liệu quan trọng cho việc nghiên cứu, học tập, giảng
dạy môn lịch sử trong giai đoạn lịch sử quan trọng này. Đồng thời nếu có điều kiện đi
sâu nghiên cứu, phát triển thì nó sẽ là nguồn tài liệu quan trọng cho việc nghiên cứu
về mô hình nhà nớc trong năm đầu tiên của nền cộng hoà để góp phần vào việc xây
dựng nhà nớc trong giai đoạn lịch sử hiện nay.
2. Lịch sử vấn đề
1
2
động và bản chất nhà nớc Việt Nam trong năm đầu tiên sau cách mạng tháng Tám
nhng còn sơ lợc, cha cụ thể và nặng về vai trò của chủ tịch Hồ Chí Minh.
2.7. Trong bài ''Nhìn lại quá trình xây dựng nhà nớc Việt Nam kiểu mới'' của
Cao Văn Lợng, đăng trên Tạp chí nghiên cứu lịch sử số 4 năm 2000, thì lại đề cập
một cách dàn trải và thiếu trọng tâm đối với giai đoạn lịch sử này.
Ngoài ra còn nhiều công trình ngiên cứu, nhiều bài viết khác có đề cập đến vấn
đề xây dựng nhà nớc trong thời kỳ 1945-1946, nhng tác giả không có điều kiện đi sâu
nghiên cứu hoặc không có điều kiện để trích dẫn. Nhng trên cơ cở đó qua việc tham
khảo, chọn lọc để phục vụ cho công trình nghiên cứu của mình.
3. Đối tợng, phạm vi nghiên cứu.
3.1. Đối tợng nghiên cứu: Là nghiên cứu về nhà nớc Việt Nam kiểu mới, đợc
phản ánh trên các mặt: Quá trình hình thành nhà nớc, sự ra đời và nội dung của
nhữngvăn bản pháp luật đầu tiên, hoạt động và bản chất của nhà nớc.
3.2. Phạm vi nghiên cứu là từ ngày 02/09/1945 sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh
đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà cho đến ngày
Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Lời kêu gọi kháng chiến ngày 19/12/1946.
4. Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu.
4.1. Nguồn tài liệu: Để phục vụ cho khoá luận tốt nghiệp này, tác giả dựa trên
nhiều nguồn tài liệu khác nhau nh sách, báo, tạp chí và các công trình khoa học mà
đề câp đến vấn đề xây dựng nhà nớc trong giai đoạn lịch sử này.
4.2. Phơng pháp nghiên cứu: ở đây tác giả dựa vào nhiều phơng pháp nghiên
cứu khác nhau nh tổng hợp, phân tích, logic, lịch sử, đối chiếu, so sánhv.v Trong
đó có hai phơng pháp chủ đạo là tổng hợp và phân tích.
5. Bố cục của khoá luận:
Ngoài mở đầu và kết luận,nội dung khoá luận đợc chia làm hai chơng.
Chơng 1: Quá trình lựa chọn mô hình nhà nớc ở Việt Nam (1858-1945).
(2/9/1945 - 19/12/1946)
2.1. Hoàn cảnh lịch sử dẫn đến sự ra đời của nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà
2.2. Nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà trớc những điều kiện lịch sử mới..
2.3. Quá trình xây dựng và củng cố chính quyền từ Trung ơng đến địa phơng
2.3.1. Xây dựng củng cố chính quyền Trung ơng
2.3.2. Xây dựng củng cố chính quyền địa phơng .
2.3.3. Phát triển hệ thống các cơ quan chuyên chính..
2.4. Xây dựng nhà nớc pháp quyền - hiến pháp đầu tiên
2.4.1. Những văn bản pháp luật đầu tiên .
2.4.2. Hiến pháp 1946 ..
2.5. Những hoạt động chủ yếu của Nhà nớc trong năm đầu tiên của nền cộng hoà
2.6. Bản chất Nhà nớc Việt Nam trong năm đầu của nền cộng hoà .
2.6.1. Một Nhà nớc của dân, do dân và vì dân
2.6.2. Một Nhà nớc do nhân dân lao động làm chủ dựa trên cơ
sở liên minh công - nông - trí thức và thu hút nhân tài
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
5
11
6
66
6
6
8
10
10
10
12
ở việt nam(1858-1945)
Đầu thế kỷ XIX, chế độ phong kiến triều Nguyễn đợc thiết lập, nhng ngay
lập tức nó bớc vào giai đoạn khủng hoảng về mọi mặt, khởi nghĩa nông dân liên
tiếp nổ ra, làm cho "cơn bệnh" khủng hoảng lại càng thêm trầm trọng, các quy
tắc Nho giáo bị đảo lộn. Đây cũng là thời điểm chủ nghĩa t bản ở châu Âu phát
triển mạnh mẽ, đang chuyển dần sang giai đoạn chủ nghĩa để quốc, nhu cầu về
thị trờng, nguồn nguyên liệu và nguồn nhân lực càng đặt ra cấp thiết hơn bao giờ
hết. Vì thế các nớc t bản phơng Tây ồ ạt tiến hành xâm lợc thuộc địa, mà khu vực
đợc họ chú ý nhất là châu á- nơi làm thoã mãn nhu cầu phát triển của chủ nghĩa
t bản. Trong khi đó các nớc châu á lại đang chìm trong''đêm trờng trung cổ'', nên
đây chính là điều kiện thuận lợi để các nớc t bản phơng Tây tiến hành chiến
tranh xâm lợc. Chính sự khủng hoảng nghiêm trọng của triều đình phong kiến
nhà Nguyễn cộng với vị trí địa lý đặc biệt và sự giàu có về tài nguyên thiên nhiên
mà đợc ví là"rừng vàng , biển bạc , đất phì nhiêu "đã kích thích sự xâm lợc của t
bản phơng Tây mà đi đầu là t bản Pháp . Năm 1858, thực dân Pháp đã tiến hành
nổ súng xâm lợc nớc ta, hòng biến nớc ta thành thuộc địa của chúng và qúa trình
xâm lợc này đã đợc hoàn tất vào năm 1884, với hoà ớc Pa-Tơ-Nốt mà triều đình
Huế đã ký với Pháp .
1.1 Con đờng cứu nớc phong kiến với mô hình nhà nớc quân chủ
chuyên chế (1858-1896).
1.1.1. Cuộc kháng chiến chống Pháp của vua tôi nhà Nguyễn (1858-1884)
Ngày 31-8-1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha đã kéo tới dàn trận tại
cửa biển Đà Nẵng, chính thức tiến hành chiến tranh xâm lợc nớc ta. Ngay lập
6
tức triều đình Huế đã điều lực lợng quân đội, do tớng Nguyễn Tri Phơng làm
tổng chỉ huy lo việc chống giặc tại mặt trận Quảng Nam. Tại đây quân xâm
lợc không thể tiến sâu vào đợc đất liền bởi quân đội nhà Nguyễn đã tìm mọi
bại. Sự thất bại đó cũng là một điều dễ hiểu và dễ thừa nhận vì một nhà nớc
phong kiến chuyên chế đang trong cơn "hấp hối" thì khó mà ''gợng'' dậy đợc,
nó lấy đâu ra sức mạnh để tự vệ. Điều này càng khẳng định rằng trong lúc các
nớc t bản châu Âu đang chuyển mình sang giai đoạn chủ nghia đế quốc, hay
một số nớc ở châu á nh Nhật Bản, Thái Lan đang tiến hành cải cách đất nớc,
nhằm mở đờng cho chủ nghĩa t bản phát triển thì chế độ phong kiến nhà
Nguyễn vẫn trì trệ bảo thủ trong chính sách đối nội, đối ngoại. Về chính sách
đối ngoại trong lúc ánh sáng văn minh phơng Tây đang xâm nhập mạnh mẽ
vào các nớc châu á thì nhà Nguyễn lại hoàn toàn cự tuyệt với nó, còn đối với
nhà Thanh thì lại tôn sùng một cách mù quáng. Bởi vậy sự tồn taị của mô hình
quân chủ chuyên chế là không phù hợp với thời đại, không đợc lòng dân thì
thất bại là tất yếu
1.1.2. Phong trào Cần Vơng- sự tìm lại chế độ phong kiến
chuyên chế (1885-1896)
Hai hoà ớc Hắc Măng (1883)và Pa-Tơ- Nốt (1884) đợc ký kết dới áp lực
quân sự của thực dân Pháp, đã đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của nhà nớc
phong kiến Việt Nam đôc lập và sự đầu hàng của nhà Nguyển trớc t bản Pháp
[28,63]. Tuy nhiên điều chúng ta dễ nhận thấy là tinh thần yêu nớc, tinh thần
dân tộc của nhân dân ta, đợc đúc kết qua hàng ngàn năm lịch sử , chống giặc
ngoại xâm thì không bao giờ mất đi mà nó vẫn âm ỉ cháy. Riêng trong nội bộ
triều đình Huế vẫn có một bộ phận những ngời yêu nớc, kiên quyết đánh giặc,
nhng do tình thế trớc mắt mà buộc phải ngồi im chờ thời cơ và sẵn sàng hành
động khi thời cơ đến, mà tiêu biểu cho số đó là Tôn Thất Thuyết. TônThất
Thuyết đã ra sức tập hợp lực lợng, sẵn sàng phế truất, trừ khử các ông vua, bon
quan lại và hoàng thân quốc thích có t tởng thân Pháp hoặc sợ Pháp. Nhng công
8
việc chuẩn bị của ông trong giai đoạn đầu bị thực dân Pháp phát hiện nên nhanh
Đầu thế kỷ XX, sự thức tỉnh của châu á cùng với phong trào dân chủ t
sản ở châu Âu đã ít nhiều ảnh hởng đến Việt Nam, làm xuất hiện những trào lu t tởng mới, làm nảy sinh các phong trào yêu nớc và cách mạng mà đại biểu
xuất sắc là Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Lơng Văn CanHọ tổ chức các
phong trào nh Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân. Bởi lúc này do
chính sách khai thác thuộc địa đã phần nào tác động đến toàn bộ nền kinh - tế
xã hội Việt Nam, dẫn đến sự chuyển biến mạnh mẽ trong t tởng của một số sỹ
phu yêu nớc. Mặt khác nó cũng làm cho các giai tầng trong xã hội Việt Nam
có những chuyển biến nhất định và xuất hiện một số giai cấp mới, mà tiêu
biểu là giai cấp t sản. Vừa mới ra đời, giai cấp t sản đã bớc ngay lên vũ đài
lịch sử tiến hành đấu tranh đòi lại nền độc lập cho dân tộc. Tất thảy họ đều
muốn cứu nớc, muốn đòi quyền lợi cho giai cấp mình nhng theo những con đờng cách mạng khác nhau dới t tởng t sản nhằm thiết lập một mô hình nhà nớc
hoàn toàn khác với mô hình nhà nớc phong kiến, đó là mô hình nhà nớc t bản
chủ nghĩa.
1.2.1. Sỹ phu phong kiến Việt Nam với con đơng cứu nớc t sản Nh
đã nói ở trên, tiêu biểu cho tầng lớp sỹ phu phong kiến t sản hoá Việt Nam đã
chịu những tác động mạnh mẽ từ bên ngoài và những chuyển biến trong nớc,
sau sự thất bại của phong trào Cần Vơng nên họ đã đi tìm con đờng cứu nớc
mới là con đờng cứu nớc t sản mà đại diện tiêu là Phan Bội Châu, Phan Châu
Trinh
1.2.1.1.Mô hình nhà nớc trong t tởng Phan Bội Châu
Phan Bội Châu sinh ngày 26 tháng 12 năm 1867, ở thôn Sa Nam, xã
Đồng Liệt, tổng Xuân Liễu, thuộc huyện Nam Đàn, Nghệ An - mảnh đất "địa
linh nhân kiệt". Sinh trởng trong một gia đình nhà nho giàu truyền thống yêu
nớc, ông đã từng đậu giải nguyên khoa thi hơng(1900) tại trờng thi Nghệ An.
Phan Bội Châu tham gia hoạt động yêu nớc từ rất sớm. Nhng trong giai đoạn
10
đầu Phan Bội Châu cha vợt qua đợc t tởng bạo động ở thời kỳ Cần Vơng, của
luật lệ của Nhật Bản và Châu Tử. Cơng lĩnh đa ra nh một nguyên lí của một
chế độ quân chủ lập hiến, chứ không phải là nền quân chủ chuyên chế kèm
theo một nghị viện bù nhìn [33,7]
Đến khi cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc thành công(1911), Phan Bội
Châu càng ngỡng mộ Tôn Trung Sơn, nên ông đã từ Thái Lan về Trung Quốc
hoạt động. Tai đây ông đã thành lập Việt Nam Quang Phục Hội(1912) sau khi
đã tuyên bố giải tán Duy Tân hội mà mục đích là đánh đuổi thực dân Pháp,
khôi phục lại nền độc lập cho nớc nhà và thành lập một chính thể mới, đó là
chính thể dân chủ cộng hoà và ông tuyên bố rằng" đầu óc quân chủ " đã xếp
vào một xó.
Nh vậy chúng ta thấy đợc rằng từ một con ngời đợc đào tạo trong môi
trờng Nho giáo, Phan Bội Châu đã thoát ra khỏi nó và đi tìm một t tởng mới
đó là t tởng dân chủ t sản với ý thức là sau khi hoàn thành mục đích đánh đuổi
thực dân Pháp, giành lại độc lập cho dân tộc sẽ thành lập một nớc theo mô
hình nhà nớc t bản chủ nghĩa cho dù nó là quân chủ hay dân chủ. Mặc dù sau
này khi tiếp xúc với t tởng vô sản, Phan Bội Châu đã có sự thay đổi về t tởng
của mình theo lập trờng vô sản, nhng trong t tởng của ông đã từng chứa đựng
t tởng dân chủ t sản.
1.2.1.2.- Phan Châu Trinh với mô hình nhà nớc t bản chủ nghĩa.
Phan Châu Trinh sinh năm 1872, ở làng Tây Lộc, huyện Tiên Phớc, phủ
Tam Kỳ, tỉnh Quãng Nam. Năm 1900, Phan Châu Trinh đỗ cử nhân, năm sau
đỗ phó bảng, ông đợc vào học trờng Hậu Bổ rồi ra làm quan với chức Thừa
biện bộ lễ. Tại triều đình ông đợc chứng kiến cảnh mục nát hủ bại của quan trờng nên sinh ra chán nản, có khi vài tháng không đến cơ quan [33,14]. Trong
khoảng thời gian đó, ông cũng đã đợc gặp gỡ và giao du với nhiều ngời có t tởng cải cách, canh tân nh Thân Trọng Huề, Đào Nguyên Phổ Đợc đọc các
sách "Tân th", "Tân văn" của Lơng Khải Siêu, Khang Hiểu Vi, t tởng dân
12
mạng để cứu nớc, cứu dân, dành độc lập rồi tiến lên xây dựng chế độ xã hội,
mà nó lại đợc tiến hành bằng con đờng cải cách, dựa vào thực dân Pháp làm
cho dân giàu, nớc mạnh rồi đứng lên dành quyền độc lập thông qua sự phát
triển mạnh mẽ về mọi mặt, đó quả là một điều không tởng.
1.2.2. Giai cấp t sản Việt Nam và quá trình cứu nớc trên lập
trờng t sản.
Giai cấp t sản Việt Nam ra đời sau giai cấp công nhân Việt Nam, trong
quá trình hình thành và phát triển của mình, giai cấp t sản Việt Nam luôn bị t sản
nớc ngoài cạnh tranh, chèn ép. Do hoàn cảnh lịch sử đó nên giai cấp t sản vừa
non yếu về kinh tế lại vừa bạc nhợc về chính trị [3,254]. Cũng trong quá trình
hình thành và phát triển đó, giai cấp t sản Việt Nam bị phân hoá thành hai bộ
phận là tầng lớp t sản mại bản - có quyền lợi kinh tế, chính trị gắn liền với thực
dân xâm lợc nên rất phản động, còn bộ phận thứ hai là tầng lớp t sản dân tộc tuy
non yếu về mọi mặt song ít nhiều họ cũng có tinh thần dân tộc. Trong quá trình
đấu tranh cách mạng thì tầng lớp t sản dân tộc cũng phân hoá thành 2 xu hớng là
xu hớng cách mạng quốc gia và xu hớng cải lơng t sản.
Xu hớng cải lơng t sản đã thành lập đợc một số tổ chức nh đảng Lập
Hiến, đảng Thanh Niên, đảng Thanh Niên Cao Vọng, đảng An Nam Độc Lập,
họ cũng đã tiến hành đợc một số hoạt động trong nớc nh:
Phong trào tẩy chay Hoa kiều, chấn hng nội hoá, bài trừ ngoại hoá (1919).
Phong trào chống độc quyền mua bán thóc gạo ở Nam Kỳ, chống độc
quyền cảng Sài Gòn (1923).
Đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu, để tang Phan Châu Trinh và đòi thả
Nguyễn An Ninh (1925 - 1926).
14
Song, những cuộc đấu tranh theo xu hớng cải lơng chủ yếu đấu tranh
đòi quyền lợi về kinh tế mà ít đếm xỉa đến quyền lợi về chính trị nên khi bọn
Giàu thì chính các phong trào cách mạng này đã ''tạo nên một vờn ơm màu mỡ
cho khuynh hớng cách mạng vô sản nảy mầm và bén rễ''
1.3. Con đờng cứu nớc theo khuynh hớng vô sản và sự hình
thành mô hình nhà nớc xã hội chủ nghĩa (1930 - 1945)
1.3.1. Sự lựa chọn con đờng cách mạng vô sản.
Trớc sự bất lực của con đờng cách mạng theo khuynh hớng t sản, dân
tộc ta, nhân dân ta đã hoàn toàn tự nguyện lựa chọn con đờng cách mạng vô
sản cho chính sự phát triển của lịch sử dân tộc. Sở dĩ nói dân tộc ta, nhân dân
ta là ngời lựa chọn con đờng cách mạng vô sản là vì con đờng đợc lựa chọn là
cho lịch sử dân tộc và phải đợc chính chủ thể của nó lựa chọn. Vậy quá trình
lựa chọn đợc bắt đầu từ khi nào? Đợc khẳng định từ lúc nào và trong bối cảnh
nh thế nào? Chúng ta biết rằng cuộc chiến tranh thế giới thứ I kết thúc, mâu
thuẫn giữa các nớc đế quốc phát triển đến độ sâu sắc, các nớc t bản đế quốc dù
thắng hay thua, trong chiến tranh đều bị suy yếu. Đây chính là điều kiện thuận
lợi cho cách mạng vô sản nổ ra và dành thắng lợi. Do đó, trong cuộc chiến
tranh này cuộc cách mạng vô sản đầu tiên thắng lợi ở nớc Nga. Nhà nớc công
nông đầu tiên trên thế giới đợc thành lập, mở ra một kỷ nguyên mới, một thời
đại mới trong lịch sử. Đồng thời năm 1919, Lênin còn sáng lập nên một tổ
chức mang tính chất quốc tế của giai cấp vô sản, đó là Quốc tế cộng sản, nó đã
đi vào lịch sử với tên gọi Quốc tế thứ ba. Tổ chức này chủ trơng ủng hộ cách
mạng thuộc địa, gắn cách mạng thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc
và trực tiếp chỉ đạo các cuộc cách mạng ở thuộc địa. Đặc biệt trong giai đoạn
lịch sử này các Đảng cộng sản ở các nớc phơng Đông thuộc địa và các nớc
châu Âu nh Đảng cộng sản Pháp, Đảng cộng sản Trung Quốc - là hai Đảng có
ảnh hởng trực tiếp tới tình hình Việt Nam. Mặt khác, sau chiến tranh thế giới,
để bù lại những thiệt hại mà cuộc chiến này gây ra, t bản Pháp không ngừng
16
mô hình nhà nớc sẽ đợc xây dựng là nhà nớc xã hội chủ nghĩa.
1.3.2. Xô Viết Nghệ Tĩnh - Mô hình đầu tiên về Nhà nớc kiểu
mới ở Việt Nam.
Sự kiện Đảng cộng sản Việt Nam ra đời vào đầu năm 1930 đã đánh dấu sự
lựa chọn dứt khoát con đờng cách mạng vô san của lịch sử dân tộc ta. Ngay trong
Hội nghị thành lập Đảng, Hội nghị đã thông qua Chính cơng vắn tắt, Sách lợc vắn
tắt, điều lệ Đảng. Cơng lĩnh đầu tiên này của Đảng đã xác định: Nhiệm vụ của
cách mạng Việt Nam là chủ trơng làm cách mạng t sản dân quyền, đánh đổ đế
quốc Pháp và bọn phong kiến làm cho nớc Việt Nam hoàn toàn độc lập, tiến lên
chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản [25,171]. Nhiệm vụ cụ thể của cuộc cách
mạng đó là về xã hội thì dân chúng đợc tự do, nam nữ bình quyền, phổ thông giáo
dục theo công nông hoá. Về chính trị: Đánh đổ đế quốc Pháp và bọn phong kiến
làm cho nớc Việt Nam hoàn toàn độc lập, dựng ra chính phủ Công - Nông - Binh,
tổ chức ra quân đội Công - Nông. Về kinh tế: Thì thủ tiêu hết các thứ quốc trái,
thâu hết sản nghiệp lớn của t bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho chính phủ
công - nông - binh, thâu hết ruộng đất của bọn đế quốc chủ nghĩa làm của công và
chia cho dân cày nghèo, bỏ su thuế cho dân cày nghèo, mở mang công nghiệp và
nông nghiệp, thi hành luật làm 8 giờ [33,46]. Tiếp đến trong Hội nghị Trung ơng
Đảng tháng 10 năm 1930 do đồng chí Trần Phú chủ trì cũng đã xác định: Nhiệm
vụ của cách mạng Việt Nam là tiến hành làm cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân, thiết lập nền chuyên chính công - nông, giai đoạn sau làm cách mạng xã hội
chủ nghĩa, thiết lập nền chuyên chính vô sản.
Đảng vừa mới ra đời đã lãnh đạo ngay một phong trào cách mạng 1930
- 1931. Đảng không phát động phong trào mà phong trào tự nó bùng nổ dới sự
lãnh đạo của Đảng, phong trào ra đời cùng với Đảng, Đảng lãnh đạo đa phong
trào chuyển từ tự phát lên tự giác và phát triển đến đỉnh cao. Có thể khẳng
18
những biện pháp trên đây của chính quyền Xô Viết đã thực sự tạo ra một xã
hội mới ở nông thôn, nhân dân đợc sống trong tình dân tộc, bình đẳng và bác
ái. Xã hội mà ngời dân lao động đợc làm chủ cuộc sống của mình. Xô Viết
Nghệ - Tĩnh là sản phẩm lịch sử trong thời kỳ Đảng vừa mới ra đời, cha lờng
hết những khó khăn phức tạp của cuộc đấu tranh với bộ máy thực dân phong
kiến, trong lúc tình thế cách mạng cha thuận lợi, phong trào có phần nóng vội
và nhận thức của quần chúng có phần đơn giản, nên cuối cùng đã thất bại. Tuy
vậy chính quyền Xô Viết đã để lại nhiều ý nghĩa và bài học kinh nghiệm quý
báu về vấn đề xây dựng chính quyền và giữ vững nền chuyên chính công nông. Trớc hết nó chứng minh rằng mô hình nhà nớc vô sản (chính quyền
công - nông) là mô hình phù hợp, đáp ứng những nguyện vọng cấp thiết của
nhân dân lao động, nói cách khác nó chứng minh bằng thực tiễn tính đúng đắn
của định hớng về nhà nớc mà Đảng ta đã đề ra trong các văn kiện đầu tiên
trong ngày đầu thành lập Đảng. Đồng thời chính quyền Xô Viết là sự "phác
thảo" đầu tiên về một hình thái nhà nớc mới ở Việt Nam, về mô hình chính
quyền ở nông thôn nếu đợc chuẩn bị và chỉ đạo chặt chẽ chắc chắn sẽ trở
thành hiện thực. Có thể nói chính quyên Xô Viết Nghệ - Tĩnh nó gần giống
nh là mô hình chính quyền Xô Viết ở nớc Nga sau cách mạng Tháng
Hai(1917).
1.3.3. Mặt trận Việt Minh - bớc phát triển mới về xây dựng chính
quyền trong phong trào giải phóng dân tộc (1939 - 1945).
Bớc vào cuối những năm 30 của thế kỷ XX, mâu thuẫn giữa các nớc đế
quốc với nhau và mâu thuẫn giữa các nớc đế quốc với Liên Xô ngày càng trở
nên căng thẳng dẫn đến năm 1939, cuộc chiến tranh thế giơi thứ hai bùng nổ.
Nớc Pháp đế quốc nhanh chóng nhảy vào cuộc chiến. Lợi dụng tình thế chiến
tranh, các nớc đế quốc thực dân đã mạnh tay bóp nghẹt các phong trào dân chủ
trong nớc và thực hiện chính sách hà khắc đối với thuộc địa. Đối với nớc ta:
20
Đồng thời trong chơng trình cứu nớc, mặt trận Việt Minh đã đề ra
những chính sách căn bản về đối nội, đối ngoại:
Về chính trị: Thực hiện phổ thông đầu phiếu , ban hành quyền tự do dân
chủ cho nhân dân, tổ chức quân đội cách mạng, tịch thu tài sản của bọn đế
quốc và Việt gian phản quốc, thực hiện nam, nữ bình đẳng và quyền dân tộc
tự quyết.
Về kinh tế : Bỏ thuế thân và các thứ thuế do đế quốc đặt ra; đặt thuế
mới nhẹ và công bằng; mở mang các ngành kinh tế
Về văn hoá giáo dục: Huỷ bỏ nền giáo dục nô lệ, xây dựng nền giáo dục
quốc dân, lập các trờng chuyên môn để đào tạo nhân tài; khuyến khích và giúp
đỡ trí thức phát triển tài năng.
Về xã hội: Thi hành luật lao động, lập nhà thơng, nhà dỡng lão, xây
dựng các nhà chiếu bóng, nhà diễn kịch, câu lạc bộ, th việnđể nâng cao trí
dục cho nhân dân.
Về ngoại giao: Huỷ bỏ những điều ớc do bọn thống trị đã ký với bất cứ
nớc nào; ký những hiệp ớc giao hảo và bình đẳng với mọi nớc về các phơng
diện, chủ trơng các dân tộc bình đẳng; kiên quyết chống những sự xâm phạm
đến quyền tự do độc lập của nớc Việt Nam; liên hiệp với tất cả các dân tộc bị
áp bức trên thế giới
Với những chính sách tiến bộ và phù hợp nh trên, Mặt trận Việt Minh
đã nhận đợc sự ủng hộ nhanh chóng và đông đảo của các tầng lớp nhân dân.
Tổ chức của mặt trận phát triển mạnh mẽ và rộng khắp đến tận các thôn xã
trong cả nớc. Từ chỗ là một tổ chức tập hợp quần chúng chuẩn bị cho khởi
nghĩa giành chính quyền, mặt trận đã phát triển và vơn lên thực hiện những
chức năng của một chính quyền cách mạng, đặc biệt hơn là ở những vùng căn
cứ địa và những vùng mới giải phóng. Vì vậy việc thành lập mặt trận Việt
Minh đợc đánh giá là một sự sáng tạo của Đảng ta trong quá trình đấu tranh
22
xây dựng cuộc sống mới cho nhân dân. Đây cũng là một hình thức rất thích
hợp đối với nớc ta trong giai đoạn khởi nghĩa từng phần.
Tháng 8 - 1945, thời cơ tổng khởi nghĩa đã chín muồi. Hội nghị toàn
quốc của Đảng khai mạc ở Tân Trào (13/8/1945) đã quyết định phát động và
lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nớc. Trớc tình
hình đó, một vấn đề đặt ra là phải có một chính phủ lâm thời mang tính chất
hợp pháp để lãnh đạo nhân dân. Trong điều kiện hết sức gấp rút và muôn vàn
khó khăn ấy, lãnh tụ Hồ Chí Minh vẫn quyết định bằng mọi giá phải nhanh
chóng triệu tập Hội nghị Quốc dân Đại hội. Cũng trong ngày đó, Uỷ ban khởi
nghĩa toàn quốc đã ra quân lệnh số 1, hạ lệnh tổng khởi nghĩa. Ngày
16/8/1945, Quốc dân Đại hội bao gồm 60 đại biểu trong cả nớc, đại diện cho
các đảng phái chính trị, đoàn thể quần chúng dân tộc, tôn giáo trong cả nớc đã
khai mạc ở Tân Trào. Đại hội đã tiến hành một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng là
bầu ra Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng
đầu, đồng thời qui định quốc ca, quốc kỳ. Từ đó đến ngày khởi nghĩa hoàn
toàn thắng lợi, Uỷ ban dân tộc giải phóng đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành
khởi nghĩa dành chính quyền trong phạm vi toàn quốc.
Về mặt nhà nớc, Cách mạng tháng Tám đã giành đợc 2 thắng lợi có ý
nghĩa quyết định:
Một là: Lật đổ và xoá bỏ hoàn toàn chế độ chính trị và chính quyền thực
dân phong kiến.
Hai là: Giành chính quyền về tay nhân dân lao động, đa họ lên địa
vị của ngời làm chủ đất nớc.
Chơng 2.Nhà nớc Việt Nam kiểu mới năm đầu tiên sau
cách mạng tháng Tám(2/9/1945-19/12/1946)
25