TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN NGỮ VĂN
MAI THỊ HIẾU
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI ANH HÙNG TRONG TRUYỆN
CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG MIỀN NAM
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Sư phạm Ngữ Văn
Cán bộ hướng dẫn:
Cần Thơ, 4 - 2011
TRẦN VĂN MINH
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trải qua 4000 năm lịch sử, nhân dân ta đã viết nên nhiều trang vàng chói lọi. Việt
Nam, một miền đất nhỏ ở vùng Đông Nam Á, từ xa xưa đã là mục tiêu xâm lược của
các cường quốc trên thế giới. Có thể nói, lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam gắn
liền với những năm tháng chiến tranh. Từ buổi sơ khai đến thời kỳ chế độ phong kiến
phát triển và bắt đầu có dấu hiệu chấm dứt, cha ông ta đã trải qua bao cuộc đấu tranh
không ngừng nghỉ để đánh đuổi quân thù, bảo vệ từng tấc đất, giữ gìn nền văn hóa dân
tộc. Sang thế kỷ XIX, thực dân Pháp bắt đầu đặt chân vào Việt Nam, ngay từ đầu,
chúng đã gặp sự chống cự quyết liệt. Nhân dân ta phải đối phó với kẻ thù mà nền kinh
tế lẫn sự phát triển về khoa học kỹ thuật đều vượt trội hơn ta. Bằng ý chí, nghị lực và
hành với những sự kiện trong đời sống chiến đấu của dân tộc ta.
Tất cả những kiến thức, kỹ năng nghiên cứu có được qua luận văn này sẽ là những
hành trang quý báu phục vụ cho công tác giảng dạy của một giáo viên.
Vì tất cả những lý do trên chúng tôi đã chọn đề tài:“Hình tượng người anh hùng
trong truyện ký Cách mạng giải phóng miền Nam”
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề “Hình tượng người anh hùng trong truyện ký Cách mạng giải phóng miền
Nam” thật ra không phải là đề tài mới lạ trong giới nghiên cứu văn học. Tuy chưa có
công trình nghiên cứu nào tập trung khai thác về vấn đề hình tượng người anh hùng
của các tác phẩm truyện ký viết về chiến tranh, nhưng rải rác trong các công trình văn
học sử, các nhà nghiên cứu đã có đề cập đến vấn đề này.
Đầu tiên, có thể nhắc đến tập tiểu luận: “Ký viết về chiến tranh Cách mạng và xây
dựng Chủ nghĩa xã hội” của Hà Minh Đức, một công trình nghiên cứu có giá trị định
hướng trong việc tìm hiểu các thể loại ký phát triển trong thời kỳ kháng chiến chống
Pháp, chống Mỹ và xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Đây là một công trình nghiên cứu có
chiều sâu, thể hiện sự am hiểu sâu sắc của tác giả về sự phát triển của văn học Việt
Nam giai đoạn 1945 – 1975. Bài nghiên cứu có hai phần : Phần một bao gồm những
vấn đề lý luận như xác định vị trí và quan niệm về các thể ký văn học và sự phân loại
các thể ký. Trong phần hai, tác giả nghiên cứu các thể ký văn học trong những năm
đầu Cách mạng và thời kỳ kháng chiến chống Pháp, sự phát triển của thể ký trong
những năm đầu xây dựng Chủ nghĩa xã hội và ký trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước.
Trong phần hai này, tác giả đã điểm qua các tác phẩm tiêu biểu nhất và đưa ra những
đặc điểm chính về vấn đề miêu tả nhân vật và nhân vật anh hùng trong ký văn học. Tác
giả nhận xét:
“ Trên cơ sở chọn lọc được những điển hình xã hội tiêu biểu, người viết không rơi
vào lối kể thụ động hoặc tình trạng ghi chép tự nhiên chủ nghĩa. Các tác giả chủ động
trên sườn của sự kiện và cốt truyện đã tái hiện những bức tranh cụ thể và sinh động.
Anh Đức và khẳng định Hòn Đất là một trong những tác phẩm xuất sắc của nền văn
học Cách mạng miền Nam, có tác dụng nâng cao phẩm chất đạo đức và tâm hồn người
đọc. Nhận xét về người anh hùng trong tác phẩm, ông có nhận xét:
“Cái sức hấp dẫn của nhân vật Sứ là sức hấp dẫn của lý tưởng đẹp đẽ, của nhiệt
tình anh hùng, của ước mơ về tương lai, của chất lãng mạn Cách mạng. Ở cuốn tiểu
thuyết “Hòn Đất”, lãng mạn Cách mạng là một nét khá đậm trong phong cách của tác
giả. Nó thể hiện ở chỗ nhà văn hướng về những gì cao cả, đẹp đẽ, hướng về lý tưởng,
chất anh hùng trong cuộc sống. Một đôi chỗ trong tác phẩm, Anh Đức nói đến những
chuyện “kỳ lạ”, “một không khí linh thiêng kỳ diệu”, gây nên “những nỗi xúc động
thần thánh”, “những giọt lệ lạ lùng nhất”…. Trong tiểu thuyết “Hòn Đất”, nhà văn
đặt hình tượng người anh hùng trong những bình diện khác nhau: trong mối quan hệ
với chồng, với những đồng chí già dặn kinh nghiệm chiến đấu, chị Sứ là một người em
gái dịu hiền, đáng yêu, ở một bình diện khác, chị lại hầu như bé bỏng trong sự vỗ về
âu yếm của bà mẹ. Nhưng đứng trước quân thù thì hình tượng nhân vật này lại hiện
lên cao vòi vọi, với những lý tưởng, chất anh hùng, chất lãng mạn Cách mạng. Anh
Đức không chỉ nhìn người anh hùng ở khía cạnh dũng cảm, gan dạ, bất khuất mà nhà
văn còn thấy họ là những đại biểu ưu tú cho những gì tốt đẹp nhất của tâm hồn con
người. [2: tr.82]
Về nghệ thuật miêu tả nhân vật trong “Hòn Đất”, Thành Duy có bài viết đăng trên
tạp chí văn học, số 1, năm 1968. Trong bài viết này ông đưa ra ý kiến về cách xây
dựng hai nhân vật Sứ và Cà Xợi. Ở phần đầu, Thành Duy khái quát cách mở đầu câu
chuyện của Anh Đức và cách xây dựng những hình tượng nữ anh hùng. Qua đánh giá
của Thành Duy, Anh Đức đã sáng tạo được những nhân vật đẹp đẽ, có sức sống mãnh
liệt trong lòng độc giả và đã biết lựa chọn những chi tiết để không rơi vào lối kể lể dài
dòng cuộc đời của nhân vật chính. Anh Đức tập trung tập trung miêu tả những giây
phút quyết liệt nhất của người anh hùng, qua đó thấy hết phẩm chất của họ. Thành Duy
nhận xét về cách xây dựng nhân vật trong “Hòn Đất” của Anh Đức như sau:
“Một vấn đề khá nổi bật trong nghệ thuật thể hiện con người mới, người anh hùng
của Anh Đức mà chúng ta dễ nhận thấy trong “Hòn Đất” là trong khi miêu tả Sứ cũng
mấy ý nghĩ góp bàn”, Lê Thành Nghị đã điểm qua một số khó khăn trong việc sáng tác
của các nhà văn thời bấy giờ. Từ đó, ông khẳng định những đóng góp lớn lao, những
nổ lực đáng trân trọng của những người cầm bút viết nên những tác phẩm có giá trị
cho nền văn học Cách mạng. Ông đề cao những đóng góp về cách xây dựng nhân vật
trong các tác phẩm giai đoạn này: “Nhiều nhân vật tiểu thuyết từng làm say mê độc
giả một thời. Có nhân vật là anh hùng trong đời sống đã bước vào trang tiểu thuyết,
trở thành nhân vật tiểu thuyết. Những nhân vật nữ đậm đà như chị Tư Hậu, Mẫn, Sứ,
Lành, Xiêm, Quỳ, những cụ già đầy tính cách như ông Tư Trầm, ông Tám Xẻo Đước,
ông già U Minh, ông lão vườn chim, những gương mặt chiến sĩ rất gần gũi như Trần
Văn, Sản, Lữ, Khuê, Lê Mã Lương…vẫn còn in đậm trong ký ức độc giả. Đôi khi có
những tên tuổi tồn tại trong đời sống với hai tư cách là người anh hùng, đồng thời là
nhân vật tiểu thuyết như Núp, Kan Lịch…” [18: tr.163]. Tuy nhiên tác giả cũng nhìn
nhận rằng tiểu thuyết viết về chiến tranh của ta, nhìn chung vẫn thiếu một số phận điển
hình tiêu biểu, trọn vẹn của một cuộc đời cụ thể. Theo tác giả, giai đoạn văn học này,
các tác phẩm quá nặng việc ký họa các hình ảnh, gương mặt, chân dung mà thiếu đào
sâu một cách hệ thống số phận, tính cách, lịch sử của nhân vật. Trong bài tiểu luận của
mình, Lê Thành Nghị đã nêu lên những quan niệm riêng khi đã xem xét vấn đề từ
nhiều chiều hướng khác nhau. Những quan niệm này rất có ích trong việc nghiên cứu
nền văn học Cách mạng giải phóng miền Nam.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về giai đoạn văn học thời chống Mỹ khi đề
cập đến vấn đề xây dựng nhân vật đã ít nhiều đề cập tới những vấn đề có liên quan đến
hình tượng người anh hùng. Mỗi nhà nghiên cứu có cách tiếp cận riêng và đưa ra
những quan niệm riêng của mình. Tuy nhiên, chúng ta có thể thấy rằng, những quan
niệm này ít khi đối lập nhau, mặc dù, xét về mức độ đánh giá của các nhà nghiên cứu
còn có đôi chỗ hơi khác nhau. Việc tiếp xúc với các công trình nghiên cứu trên rất bổ
ích trong khi thực hiện đề tài này, vì nó cung cấp những kiến thức tiền đề góp phần
định hướng cho chúng tôi khi tiếp xúc với các tác phẩm truyện ký viết về các nhân vật
anh hùng trong chiến tranh.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, công việc đầu tiên là lựa chọn các tài liệu có liên quan và
phục vụ cho vấn đề nghiên cứu văn học Việt Nam 1954 – 1975. Trong đó, tập trung
nhất là các tác phẩm truyện ký viết về người anh hùng trong văn học Cách mạng giải
phóng miền Nam. Sau đó, chúng tôi sử dụng và phối hợp các phương pháp nghiên cứu
khác nhau. Đầu tiên, có thể kể đến phương pháp xã hội học. Chúng tôi đã nghiên cứu
sự tác động của hoàn cảnh xã hội Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ đến
sáng tác văn học thời kỳ này. Từ đó tìm hiểu sự tương quan giữa các sự kiện lịch sử có
thật đối với các tác phẩm văn học, đặc biệt là các tác phẩm truyện ký viết về người anh
hùng và sự ảnh hưởng của các tác phẩm đó đó với tâm lý công chúng tiếp nhận thời
bấy giờ. Chúng tôi còn sử dụng phương pháp so sánh để thấy được sự khác nhau giữa
hình tượng người anh hùng trong văn học dân gian, văn học trung đại với hình tượng
người anh hùng trong văn học thời kỳ chống Mỹ.
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: HÌNH TƯỢNG NGƯỜI ANH HÙNG TRONG VĂN
HỌC VIỆT NAM
1. 1 Khái niệm anh hùng
Để hiểu thế nào là anh hùng, chúng ta sẽ tìm hiểu khái niệm “anh hùng” được giải
thích như thế nào trong từ điển Tiếng Việt và Từ điển Hán Việt. Sau đó là việc tìm
hiểu quan niệm của con người trong đời sống hằng ngày về hai chữ “anh hùng”. Từ
đó rút ra khái niệm chung và hợp lý nhất.
Trong “Tự điển Việt Nam”, do Hoàng Phê chủ biên, xuất bản năm 1995, khái niệm
“anh hùng”, được hiểu theo hai nghĩa sau:
1. Người lập nên công trạng đặc biệt lớn lao đối với nhân dân, đất nước.
Ví dụ: Nguyễn Huệ là một anh hùng dân tộc.
2. Có tính chất của người anh hùng, hành động anh hùng.
nghĩa rộng là đực cái âm dương.
Theo cách hiểu trên, “anh hùng” là từ để chỉ người đàn ông xuất chúng, “anh
thư” là để chỉ người đàn bà xuất chúng.
Trong đời sống hằng ngày, chúng ta hay nghe những cụm từ như: “hành động
anh hùng”, “nghĩa cử anh hùng”, thường chỉ những việc làm của những người
không nghĩ đến nguy hiểm hay lợi ích của bản thân mà làm một việc có ý nghĩa
đặc biệt. Người anh hùng đươc nhân dân ta ngày nay quan niệm là người có những
việc làm, hành động mang tính chất tốt đẹp, mà không nhấn mạnh yếu tố phi
thường, siêu phàm. Ta thấy rằng, ở mỗi thời đại khác nhau, ở mỗi dân tộc khác
nhau, và mỗi cá nhân con người có quan niệm riêng về người anh hùng. Nhưng có
một đặc điểm chung mà mọi người đều công nhận là người anh hùng trước hết phải
có phẩm chất đạo đức và có những hành động, việc làm mang lại lợi ích cho cộng
đồng, dân tộc. Từ những khảo sát trên, chúng ta có thể hiểu khái niệm “anh hùng”
như sau:
“Anh hùng là người có phẩm chất đạo đức tốt đẹp, có tài năng và khí phách nổi
trội hơn những người bình thường. Họ là người có hành động, việc làm, đóng góp
đặc biệt trong chiến đấu cũng như trong đời sống hằng ngày, mang lại lợi ích cho
cộng đồng hoặc nhân dân, đất nước”.
1. 2. Quan niệm về người anh hùng qua các thời kỳ văn học
1. 2. 1 Người anh hùng trong văn học dân gian
Hình tượng người anh hùng xuất hiện từ thời rất xa xưa, gắn liền với quá trình
hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam. Ở thời cổ, nhân vật anh hùng được
quan niệm là người có tài năng phi thường, làm những việc lớn lao mang tầm vóc vũ
trụ. Khi nói đến nhân vật anh hùng, người ta thường nói đến những đặc điểm phi
thường, siêu phàm mà những người bình thường không có được. Những nhân vật anh
hùng trong trong dân gian thường được người xưa khoác cho chiếc áo “hoang đường”
kỳ lạ, từ nguồn gốc xuất hiện, quá trình lớn lên, quá trình lập công và kết thúc.
thành một nhân vật có tài năng phi thường. Người anh hùng được xây dựng nên bằng
trí tưởng tượng và qua đó thể hiện tinh thần chiến đấu của người xưa. Cũng giống như
Sơn Tinh, Lạc Long Quân là hình tượng nhân vật anh hùng được dân gian sùng bái,
suy tôn, mang tính chất thần linh và đại diện cho thế lực siêu nhiên, có công diệt trừ
yêu quái đem lại cuộc sống bình yên cho nhân dân. Lạc Long Quân diệt Ngư Tinh: con
cá đã sống từ lâu đời, mình daì hơn năm mươi trượng, đuôi như cánh buồm, miệng có
thể nuốt chửng mười người một lúc. Trừ xong Ngư Tinh, Lạc Long Quân lại giúp dân
giết chết con cáo chín đuôi, sống hơn nghìn năm đã thành tinh, được gọi là Hồ Tinh,
thường quấy nhiễu dân làng. Sau đó Lạc Long Quân giao chiến với Mộc Tinh cả trăm
ngày trăm đêm, long trời lở đất. Cuối cùng đã diệt trừ được loài yêu quái, đem lại bình
yên cho dân làng. Lạc Long Quân còn được xem như một vị thần có công giúp dân mở
mang nền văn hóa, dạy dân trồng lúa, nấu cơm, xây dựng nhà cửa. Lạc Long Quân còn
được đề cập đến như một vị thần bảo hộ luôn có mặt để giúp đỡ con người khi họ gặp
những khó khăn. Nên dân chúng lúc khi gặp điều nguy kịch chỉ cần gọi “Bố ơi về cứu
chúng con!”, Lạc Long Quân sẽ hiện ra ngay để giúp. Từ những chi tiết trên, ta thấy
nhân vật anh hùng trong các thần thoại vừa đề cập thật ra là sản phẩm của ước mơ và
trí tưởng tương của người xưa.
Qua chiều dài thời gian, tầm nhận thức của con người càng được nâng cao. Để bảo
vệ địa bàn sinh sống, ngoài công cuộc chinh phục thiên nhiên, chống những loài thú
dữ, con người còn phải đối mặt với kẻ thù xâm lược. Hình tượng người anh hùng trong
thần thoại Việt không những là các vị thần chinh phục thiên nhiên, giúp dân trừ họa,
mà còn là các nhân vật tiêu biểu cho truyền thống yêu nước, giữ nước ở buổi đầu sơ
khai. Đó là các vị anh hùng bộ tộc, bộ lạc chống kẻ thù xâm lược. Tiêu biểu là nhân
vật Thánh Gióng, người anh hùng chống giặc ngoại xâm, bảo vệ địa bàn cư ngụ. Nếu
như giai đoạn đầu những nhân vật anh hùng mà dân gian sùng bái, suy tôn là những vị
thần, đại diện cho các thế lực siêu nhiên, thì càng về sau, bóng dáng con người xuất
hiện một cách rõ nét hơn. So với giai đoạn trước, người anh hùng có vẻ gần gũi hơn,
nhưng vẫn mang yếu tố hoang đường, kỳ lạ. Xuất phát từ lòng yêu kính, ghi nhớ công
ơn những vị anh hùng có công giữ nước, người xưa đã thêu dệt thành những yếu tố
bà Man Thiện, nuôi hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị khi chồng mất. Lúc lớn lên, cả
hai chị em đều tài đức song toàn, có tiết nghĩa, tính khí hùng dũng, quyết tâm vì dân
cứu nước. Sau khi đánh tan giặc nhà Hán, Trưng Trắc được suy tôn lên làm vua. Trưng
Nhị được phong tước, cai quản vùng xung yếu. Về cái chết của hai vị nữ anh hùng này
có nhiều dị bản. Có nơi cho rằng, để giữ vững khí tiết, không muốn rơi vào tay giặc,
Hai Bà Trưng đã nhảy xuống sông Hát tự vẫn. Ở chỗ khác nói rằng bà lên núi Hy Sơn
rồi không biết đi đâu mất. Sau khi chết hai bà còn linh ứng, giúp dân khi có họa, và
giúp Lý Anh Tông làm mưa khi gặp đại hạn.
Ta thấy nhân vật anh hùng trong truyền thuyết thường có lai lịch xuất thân không
bình thường và luôn có tài năng đặc biệt. Họ là những người có tài trí hơn người, sức
mạnh phi thường và lập nên những chiến công hiển hách. Những nhân vật này thường
có cái chết thần kì, hóa thân vào sông núi, đất trời. Khi dân chúng gặp họa thì linh ứng
giúp đỡ. Xây dựng các nhân vật lịch sử có thật, nhưng do sự lý tưởng hóa, các tác giả
dân gian đã thêm nhiều chi tiết kỳ vĩ đến hoang đường. Và chính những tính chất đó
đã tạo nên một khoảng cách rất xa giữa cuộc sống thực và các nhân vật anh hùng. Thế
giới của các anh hùng không gần gũi đối với đời thường. Khoảng cách này được hình
thành một phần do sự ngưỡng mộ của nhân dân, họ đã thể hiện sự tôn thờ, ngưỡng mộ
hết mực với những công đức mà các vị anh hùng đã làm nên.
Văn học dân gian hay văn học truyền miệng phát triển qua nhiều thời kì. Trải qua
từng thời kỳ nhất định, hình tượng các nhân vật anh hùng cũng có nhiều biến đổi.
Thêm vào đó, ở các thể loại văn học dân gian với các đặt trưng riêng của nó đã tạo nên
các hình tương nhân vật anh hùng có những đặc điểm riêng. Tuy nhiên, “văn học dân
gian” trong phần khảo sát trên đây được xem là nền văn học xuất hiện sớm nhất, khi
con người chưa có chữ viết, và chủ yếu lưu truyền các câu chuyện bằng cách truyền
miệng. Khảo sát hình tượng nhân vật anh hùng trong các tác phấm văn học dân gian, ở
phần này xin đưa ra một vài ví dụ cụ thể trong thần thoại và truyền thuyết người Việt,
để có thể thấy được những đặc điểm chung nhất về quan niệm người anh hùng trong
thời kì đất nước mới hình thành và còn sơ khai. Điều đó nhằm sáng rõ thêm sự chuyển
chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù”.
(Hịch tướng sĩ – Trần Quốc Tuấn)
Và ý chí quyết tử, sẵn sàng đánh đổi mạng sống để quét sạch bóng quân thù:
“Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta
cũng vui lòng”
(Hịch tướng sĩ – Tần Quốc Tuấn)
Lời kêu gọi trong “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn như một lời chuyện trò thân
mật của một vị chủ soái với các tướng sĩ của mình. Qua đó, ta thấy được tấm lòng và
nét đẹp trong tâm hồn của một của một vị tướng hào kiệt. Người anh hùng này rất lo
cho đất nước, dám xả thân vì đất nước. Nhưng ở đây trong lời kêu gọi vẫn mang một
chút gì lo lắng cho bản thân mình, sợ rằng khi giặc xâm lược thì:
“Chẳng những thái ấp của ta không còn, mà bổng lộc của các người cũng mất,
chẳng những gia quyến của ta bị tan, mà vợ con cua các người cũng khốn; chẳng
những xã tắc tổ tông ta bị giày xéo, mà phần mộ cha mẹ các người cũng bị quật lên;
chẳng những thân ta kiếp này chịu nhuc, rồi đến trăm năm sau, tiếng dơ không rửa,
tên xấu còn lưu, mà đến gia thanh các ngươi cũng mang tiếng là tướng bại trận.
(Hịch tướng sĩ – Trần Quốc Tuấn)
Trong tất cả các lý do kêu gọi chiến đấu ấy, người anh hùng Trần Quốc Tuấn chưa
đề cập đến quyền lợi nhân dân. Trần Quốc Tuấn, qua “Hịch tướng sĩ” đã thức tỉnh các
tướng lĩnh, nhưng qua đó cũng thấy được phần nào quan điểm của Trần Quốc Tuấn về
nghĩa vụ của một người anh hùng khi đất nước đang lâm nguy. Trong tình thế đất nước
đang gặp lúc khó khăn, người anh hùng phải biết đứng ra gánh vác những gian lao,
đánh đuổi giặc ngoại xâm. Nhưng trong lời kêu goi của Trần Quốc Tuấn có phần hạn
chế là chưa nhắc đến mục đích chính của cuộc chiến đấu là nhân dân.
Sang thế kỷ XV, bằng thơ văn, Nguyễn Trãi đã đưa ra quan niệm về một người
được gọi là “anh hùng”. Phẩm chất ấy trước hết gắn liền với trách nhiệm, nghĩa vụ và
ý thức của người anh hùng đối với nhân dân, đất nước:
“Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược,
đề cao vai trò của Lê Lợi. Chính vì thế, ở đây ta thấy sứ mệnh người anh hùng mang
một chút màu sắc của thiên mệnh. Người anh hùng dẹp giặc đã được một đấng linh
thiêng sắp đặt trước nên mang tính chất suy tưởng. Tuy nhiên quan niệm về người anh
hùng của của Nguyễn Trãi có tiến bộ hơn khi ông thấy được tài năng của người anh
hùng phải cộng thêm phần đóng góp của nhân dân thì mới làm nên nghiệp lớn:
“Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới;
Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào.”
(Bình Ngô đại cáo)
Đây là một trong những hình ảnh đẹp đẽ nhất về tình quân dân, thể hiện tình quân
dân trên dưới một lòng, chia ngọt, sẻ bùi trong kháng chiến gian khổ. Ta thấy, trong sự
nghiệp thơ văn của Nguyễn Trãi, ông đã dùng một bộ phận lớn để nói về người anh
hùng Lê Lợi. Dành nhiều thiện cảm cho nhân vật này, Nguyễn Trãi đã nói lên hành
động chính nghĩa, chính vì yêu thương nhân dân, đau đớn khi chứng kiến nhân dân
trong cảnh lầm than mà Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa:
“Ức tích Lam Sơn ngoạn võ kinh
Đương thời chí dĩ tại thương sinh”.
(Hạ quy Lam Sơn 2)
Hình tượng người anh hùng ở đây gần gũi hơn khi đã nghĩ đến lợi ích của nhân dân:
“chí dĩ tại thương sinh”. Người anh hùng trong thơ Nguyễn Trãi hội tụ nhiều phẩm
chất tốt đẹp, luôn đặt nhân nghĩa lên hàng đầu, và xem lòng nhân là tiêu chí cho mọi
hoạt động. Đặc biệt người anh hùng Lê Lợi hiện lên như một người tài đức song toàn.
Nhưng đây vẫn mang dáng dấp của một người anh hùng cá nhân, một người lãnh đạo
thiên tài, và trở thành đối tượng phản ánh trong văn học. Hình ảnh Lê Lợi có gần gũi
hơn so với Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn nhưng vẫn mang vẻ đẹp đặc trưng của
người anh hùng trung đại.
Trong thời kỳ trung đại, nhiều hình tượng anh hùng có thật trong đời sống hiện thực
xã hội được thể hiện trong nhiều tác phẩm văn học. Văn học giai đoạn nửa cuối thế kỷ
XVIII, nửa đầu thế kỷ XIX là một giai đoạn phát triển rực rỡ khi chế độ phong kiến
lương thực cho bọn tàn quân, đưa lên ải trả về nước, một mặt sai Ngô Thì Nhậm viết
thư sang nhà Thanh trần tình là mình không có ý định trừng phạt thiên triều. Chẳng
qua kéo quân trong Nam ra là để “biện bạch lòng thành thật với ngài tổng đốc họ Tôn,
nhưng không ngờ đường sá dài đồn nhảm, làm to thanh thế khiến cho mọi người nghi
ngờ, sợ hãi, bỏ đội ngũ mà chạy trước, để đến nỗi cầu phao bị đứt, quân lính thiên
triều phải chết đuối, những kẻ tranh đường chạy trốn giày xéo lẫn nhau, nhiều người
bị thương chết. Đó thật là do ngài Tổng đốc họ Tôn gây nên, không phải là tội của
nước nhỏ dám giao chiến” [9: tr.367]. Đó là lời nói khôn khéo của một người lãnh
đạo nắm rõ thời thế và rất giỏi ngoại giao.
Nguyễn Huệ còn là người anh hùng rất được lòng binh lính, ông luôn lấy lời lẽ chân
tình để động viên lòng quân, làm cho họ thấy rõ bản chất của cuộc đấu tranh chính
nghĩa mà họ đang thực hiện:
“Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các người đã biết chưa?
Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam phương
Bắc chia nhau mà cai trị. Người phương Bắc không phải nòi giống nước ta, bụng dạ
ắt khác. Từ đời Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, ắt giết hại nhân
dân, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi” [9:
tr.356].
Vị lãnh đạo phong trào Tây Sơn là người có tài mưu lược, quân đội nhà Thanh đông
đảo, hùng hổ vậy mà Nguyễn Huệ đã đánh một trận không còn mảnh giáp, quân Thanh
không chống cự nổi, bỏ chạy tán loạn, giày xéo lên nhau mà chết. Tên Thái thú Sầm
Nghi Đống phải thắt cổ tự tử. Phong trào Tây Sơn không những lật đổ được tập đoàn
phong kiến thống trị thối nát, và phản động lúc bấy giờ mà còn đánh bại một đội quân
hùng mạnh của nước ngoài, giữ vững nền độc lập cho tổ quốc. Mà người có công lớn
nhất là người anh hùng Nguyễn Huệ.
Các tác giả Ngô gia Văn phái có người từng quan cho nhà Lê, có tình cảm đặc biệt
với nhà Lê. Mặc dù vậy, tình cảm và những thiên kiến giai cấp không hề che lấp cái
nhìn hiện thực tỉnh táo của họ. Nhất là trước những vấn đề sống còn của dân tộc, như
“Râu hùm, hàm én, mày ngài
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao”.
(Truyện Kiều)
Là một người tài hoa, có bản lĩnh của một người anh hùng:
“Đường đường một đấng anh hào,
Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài”.
(Truyện Kiều)
Phi thường là nét đặc trưng trong tính cách của Từ Hải. Qua một số nét giới thiệu
đầu tiên, rõ ràng Nguyễn Du muốn xây dựng Từ Hải không phải như một con người
của cuộc sống thực, không phải là người anh hùng trong hiện thực, mà là hình tượng
người anh hùng mang rõ dấu ấn quan niệm của tác giả.
Từ Hải ban đầu là một con người rất yêu tự do, không muốn bó buộc vào vòng danh
lợi:
“Một tay gây dựng cơ đồ
Bấy lâu bể Sở, sông Ngô tung hoành!”
Bó thân về với triều đình
Hàng thần lơ láo, phận mình ra đâu?”.
(Truyện Kiều)
Đặc biệt, Từ Hải ý thức một cách rõ rệt tất cả các việc làm của chàng trước hết
không phải xuất phát từ những tình cảm riêng tư mà là xuất phát từ việc nghĩa lớn ở
đời.
“Anh hùng tiếng đã gọi rằng,
Giữa đường dẫu thấy bất bằng chẳng tha”.
(Truyện Kiều)
Từ Hải nổi bật lên như một hình tượng của lòng khát khao cuộc sống tự do. Thực
chất tự do của Từ Hải mang ý nghĩa chống đối trật tự phong kiến và cũng mang màu
sắc chính trị xã hội, là tư tưởng vô quân thật sự. Đặt trong hoàn cảnh xã hội phong
kiến, một xã hội không thừa nhận sự tồn tại của cá nhân và do đó không thừa nhận sự
đình của riêng mình: “Triều đình riêng một biên thùy”. Nhưng cuối cùng chàng đã đi
vào con đường bế tắc: mắc mưu Hồ Tôn Hiến vì nghĩ rằng: “Sao bằng lộc trọng quyền
cao / Tưới ra đã khắp thấm vào đã sâu”.
Nhân vật Từ Hải trong Truyện Kiều là bậc anh hùng “trí dũng có thừa”, tay cầm
đại quân khởi nghĩa chống triều đình nhưng đã không giữ vững lập trường của mình,
nên sau một thời gian “Dọc ngang trời rộng vẫy vùng bể khơi” lại mắc mưu kẻ địch
và ra hàng để rồi chết đứng “giữa trời trơ trơ”.
Việc xây dựng các nhân vật anh hùng trong văn học trung đại, do sự hạn chế của
thời đại và giai cấp của nhà văn, đều đã gặp rất nhiều khó khăn, và bản thân những
hình tượng nhân vật đó đều mang những nét hạn chế, không nhiều thì ít tùy theo thế
giới quan của tác giả. Sang giai đoạn sau, giai đoạn văn học yêu nước Việt Nam nửa
cuối thế kỷ XIX (1858 – 1900), người anh hùng trở nên gần gũi với nhân dân hơn.
Tiêu biểu là hình tượng người anh hùng trong văn thơ Nguyễn Đình Chiểu. Nguyễn
Đình Chiểu đã dồn mọi tâm sức vào việc sáng tác những vầng thơ bất hủ về những
người anh hùng chống Pháp. Quan niệm anh hùng của Nguyễn Đình Chiểu đã dần dần
thoát ra khỏi quan niệm phong kiến, mà tiến dần đến quan niệm của nhân dân. So với
“Lục Vân Tiên”, nhận thức về người anh hùng trong văn thơ yêu nước của Nguyễn
Đình Chiểu có một “bước chuyển rất dài”. Nếu “Lục Vân Tiên”, Hớn Minh hay Tử
Trực có những hành động vì nước vì dân rất quả cảm, nhưng vẫn chưa phải là người
anh hùng hành động vì nhân dân, thì ngày nay, hình ảnh của Trương Định, Phan Tòng
đã thật sự là hình ảnh của người anh hùng từ dân mà ra, vì dân mà hành động. Trước
đây vai trò của người dân chưa được đề cao trong văn chương. Trong giai đoạn trước
Nguyễn Đình Chiểu, người dân cũng đóng góp rất lớn vào quá trình xây dựng và bảo
vệ đất nước, nhưng chưa được khẳng định vai trò lớn lao đó. Trước đây, nhân dân chỉ
được xem là lực lượng phục tùng. Số phận của họ được định đoạt bởi nhà nước phong
kiến. Trong thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu, vai trò người dân được thể
hiện nổi bật hơn trước. Họ trở thành “người dân mộ nghĩa”, “trang dẹp loạn”. Trong
số ấy có người là “dân ấp, dân lân”, những người nông dân và họ được Nguyễn Đình
nên bước ngoặc ở những con người này, đưa họ từ người nông dân chất phát đến
người anh hùng của thời đại. Lòng căm thù giặc đã ăn sâu vào xương máu những
người áo vải, họ mong muốn sớm ngày dẹp tan được lũ cướp nước:
“Tiếng phong hạc phập phòng hơn mấy tháng, trông tin quan như trời
hạn trông mưa;
Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.
Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;
Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ”.
(Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc).
Người nông dân trong văn thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu là một phát hiện mới
mẻ và có giá trị tiến bộ hơn so với các thời kỳ trước. Đó là những con người vốn đã có
từ lâu đời, nhưng chỉ thật nổi bật lên vào giai đoạn lịch sử này, khi mà “người anh
hùng phong kiến đang tự nó rút khỏi vũ đài lịch sử”. Dưới ngòi bút của đồ Chiểu đó là
con người “rất xưa, nhưng cũng rất mới”.
Người anh hùng trong văn học trung đại, trước Nguyễn Đình Chiểu có thể là những
nhân vật có thật trong lịch sử hay chỉ là một hình tượng thể hiện sự ước mơ của tác giả
nhưng có một đặc điểm là thường mang phẩm chất của một người anh hùng cá nhân.
Họ thường là những người lãnh đạo, những tướng lĩnh có tài năng và lập được nhiều
chiến công hiển hách cho đất nước, cho dân tộc. Nhưng hình ảnh những người anh
hùng ở đây chưa thật sự gần gũi với nhân dân. Sang những tác phẩm sau này của
Nguyễn đình Chiểu, hình tượng người anh hùng có trở nên gần gũi hơn khi đối tượng
người anh hùng được phản ánh chính là những người nông dân nghĩa sĩ. Qua đó ta
thấy quan niệm người anh hùng trong thời trung đại đã có chuyển biến qua từng giai
đoạn và ngày càng gần hơn với quan niệm về người anh hùng trong thời đại ngày nay.
Và điều đó đã được phản ánh rõ nét trong các tác phẩm văn học ở mỗi giai đoạn.
1. 2. 3. Người anh hùng trong văn học hiện đại
Văn học Việt Nam hiện đại được bắt đầu từ thế kỉ XX và ngày càng phát triển. Giai