TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN HÓA
THIẾT KẾ BÀI DẠY HỌC HÓA HỌC LỚP
10, BAN CƠ BẢN THEO SƠ ĐỒ TƯ DUY
CỦA TONY BUZAN
Luận văn tốt nghiệp
Ngành: Sư phạm Hóa học
Giáo viên hướng dẫn
Sinh viên:
TS.GVC.Bùi Phương Thanh Huấn
Nguyễn Hoàng Giáo
Lớp: Sư phạm Hóa K33
MSSV: 2071982
Cần Thơ, 05/2011
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của quý
thầy cô và các bạn. Nhờ vậy đề tài được hoàn thành đúng thời hạn.
Lời đầu tiên, em xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:
● Thầy Bùi Phương Thanh Huấn, GV hướng dẫn luận văn, TS.GVC - Bộ môn
Hóa - Khoa Sư phạm - Trường Đại học Cần Thơ, thầy đã tận tình hướng dẫn em trong
suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn.
1.2 Thực trạng sử dụng phương pháp dạy học ở nước ta ..............................................4
1.2.1 Tình hình sử dụng phương pháp dạy học ........................................................4
1.2.2 Chuyển đổi quan điểm dạy học theo hướng tích cực ......................................5
1.3 Cơ sở lý luận của đề tài ............................................................................................6
1.3.1 Quá trình dạy học .............................................................................................6
1.3.2 Phương pháp dạy học .......................................................................................8
1.3.3 Phương pháp dạy học tích cực........................................................................13
1.3.4 Phương tiện dạy học........................................................................................28
1.3.5 Kiểm tra và đánh giá......................................................................................29
1.4 Cơ sở thực tiễn của đề tài .......................................................................................30
1.5 Lý thuyết sơ đồ tư duy của Tony Buzan ...........................................................…31
1.5.1 Giới thiệu tác giả ............................................................................................31
1.5.2 Khái quát về bộ não .......................................................................................32
1.5.3 Bán cầu não ....................................................................................................33
1.5.4 Sơ đồ tư duy ...................................................................................................34
1.6 Hướng dẫn cách sử dụng phần mềm Mindjet MindManager Pro 7 .....................37
1.6.1 Giới thiệu chung về phần mềm Mindjet MindManager Pro 7....................37
1.6.2 Hướng dẫn cài đặt phần mềm Mindjet MindManager Pro 7......................37
1.6.3 Hướng dẫn tính năng từng thanh công cụ....................................................41
ii
1.6.4 Hướng dẫn cách tạo sơ đồ tư duy.................................................................49
TÓM TẮT CHƯƠNG 1............................................................................................….53
Chương 2: Thiết kế bài dạy học hóa học lớp 10, ban cơ bản....................................54
2.1 Quy trình thiết kế bài dạy học hóa học theo sơ đồ tư duy ...... ............................54
2.1.1 Thiết kế mô hình dạy học kết hợp Grap – Bloom......................................54
2.1.2 Thiết kế hoạt động dạy học theo sơ đồ tư duy............................................56
2.1.3 Nhận xét.......................................................................................................57
2.2 Vận dụng phần mềm Mindjet MindManager Pro 7 thiết kế bài dạy học mẫu
:
trung học phổ thông
TN
:
thí nghiệm
PPDH
:
phương pháp dạy học
SGK
:
sách giáo khoa
PTPƯ
:
phương trình phản ứng
SBT
:
sách bài tập
iv
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Đổi mới PPDH hóa học bằng sơ đồ tư duy giúp GV tiết kiệm thời gian soạn bài,
HS hiểu bài và vận dụng được kiến thức đã học. Do đó, việc nghiên cứu đề tài “Thiết kế
bài dạy học hóa học lớp 10, ban cơ bản theo sơ đồ tư duy của Tony Buzan”, là phù hợp
với thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn hóa học nói riêng và chất
lượng giáo dục ở trường THPT nói chung. Nội dung luận văn được thực hiện như sau:
MỞ ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG
tin trong dạy học hóa học, đáp ứng được tình hình đổi mới phương pháp dạy và học
hiện nay ở nước ta.
- Nghiên cứu vận dụng sơ đồ tư duy và phần mềm Mindjet vào quá trình dạy và học còn
nhiều hứa hẹn, cần được phát huy và nhân rộng cho tất cả các ngành học, bậc học.
vi
Thiết kế bài dạy học hóa học lớp 10, ban cơ bản theo sơ đồ tư duy của Tony Buzan
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, trên thế giới không ngừng phát triển về khoa học, công nghệ, truyền thông và
nước ta đang trong thời kỳ mở cửa hội nhập. Để đào tạo con người có đủ khả năng sống và
làm việc theo yêu cầu của thời đại thì nhiệm vụ cấp thiết cho ngành giáo dục là cần phải đổi
mới PPDH.
Nước ta đã tiến hành ba lần cải cách (năm 1950, 1956, 1980) về mục tiêu, chương trình,
nội dung dạy học mà chưa đề cập trực diện đến PPDH. Nhưng sau khi ban hành nghị quyết
40/2000/QH10 của Quốc hội khóa X: “Đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa,
phương pháp dạy và học phải được thực hiện đồng bộ…”.Lần đổi mới này là một quá trình
đổi mới toàn diện mà một trong những trọng tâm của nó là tập trung đổi mới PPDH, thực
hiện dạy học dựa vào hoạt động tích cực, chủ động của HS với sự tổ chức hướng dẫn đúng
mực của GV.
Do đó, việc nghiên cứu và ứng dụng PPDH tích cực vào giảng dạy ở các bậc học là việc
làm hết sức quan trọng và có ý nghĩa thiết thực. Để đổi mới PPDH, khâu đầu tiên là GV vận
dụng được những kiến thức về đổi mới phương pháp trong việc thiết kế bài dạy học.
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “THIẾT KẾ BÀI DẠY HỌC HÓA HỌC LỚP 10, BAN
CƠ BẢN THEO SƠ ĐỒ TƯ DUY CỦA TONY BUZAN” là rất cần thiết, phù hợp với
thực tiễn, góp phần tạo cái nhìn tổng quát về bài học, phát huy hết khả năng tự học của HS.
2. Phạm vi nghiên cứu
- Phiếu điều tra.
- Phương tiện dạy học: Dụng cụ, hóa chất thí nghiệm, bảng vẽ, sơ đồ, …
- Máy tính và các phần mềm: Mindjet MindManager Pro 7, Microsoft Office Word …
6. Các bước thực hiện đề tài
Đề tài được thực hiện: Từ 08/2010 đến tháng 05/2011 gồm các giai đoạn sau:
- Giai đoạn 1: Gặp giáo viên hướng dẫn luận văn tốt nghiệp nhận đề tài, tham khảo
tài liệu về phương pháp dạy học, tham khảo lý thuyết về sơ đồ tư duy của Tony
Buzan, tìm hiểu khái quát về phần mềm Mindjet MindManager Pro 7, xây dựng đề
cương chi tiết.
- Giai đoạn 2: Tìm hiểu chi tiết về cách sử dụng, ứng dụng của phần mềm Mindiet
MindManager Pro 7 để thiết kế giáo án mẫu theo chương trình lớp 10, ban cơ bản
theo sơ đồ tư duy của Tony Buzan, làm thí nghiệm liên quan đến bài dạy, hoàn
thành phiếu phỏng vấn.
- Giai đoạn 3: Tiến hành dạy thực nghiệm sư phạm ở trường phổ thông trong đợt
thực tập sư phạm. Đánh giá giáo án thông qua kết qủa học tập của học sinh.
- Giai đoạn 4: Viết luận văn, xử lý số liệu thực nghiệm, đáng giá kết quả nghiên
cứu, kết luận, kiến nghị, xin ý kiến đóng góp của giáo viên hướng dẫn để chỉnh sửa
cho hoàn chỉnh, hoàn thành luận văn. Báo cáo luận văn tốt nghiệp.
GVHD: Ts.GVC. Bùi Phương Thanh Huấn
2
SVTH: Nguyễn Hoàng Giáo
Thiết kế bài dạy học hóa học lớp 10, ban cơ bản theo sơ đồ tư duy của Tony Buzan
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ BÀI DẠY HỌC LỚP 10,
BAN CƠ BẢN THEO SƠ ĐỒ TƯ DUY CỦA TONY BUZAN
SVTH: Nguyễn Hoàng Giáo
Thiết kế bài dạy học hóa học lớp 10, ban cơ bản theo sơ đồ tư duy của Tony Buzan
1.2. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở NƯỚC TA
1.2.1. Tình hình sử dụng phương pháp dạy học
Trong một thời gian dài, người thầy được trang bị phương pháp để truyền thụ tri thức
cho học sinh theo quan hệ một chiều: Thầy truyền đạt, trò tiếp nhận. Ở một phương diện
nào đó, khi sử dụng phương pháp này thì các em HS – một chủ thể của giờ dạy – đã “bị bỏ
rơi” GV là người sốt sắng và nỗ lực đi tìm chiếc chìa khóa mở của cái kho đựng kiến thức
là cái đầu của HS, và ông ta đem bất kỳ một điều tốt đẹp nào của khoa học để chất đầy cái
kho này theo phạm vi và khả năng của mình. Còn HS là người thụ động, ngoan ngoãn, cố
gắng và thiếu tính độc lập. HS chỉ phải nhớ những gì người thầy cung cấp ở trạng thái hoàn
thành. Ưu điểm của phương pháp này là chỉ phát huy được khả năng ghi nhớ của học sinh.
Trong phương pháp dạy học truyền thống này, tính thụ động của học sinh biểu lộ ở hình
ảnh người giáo viên đứng riêng biệt trên bục cao trong lớp và cung cấp “cái mẫu”, còn phía
còn phía dưới là hình ảnh các học sinh ngồi thành hàng trên ghế, cùng làm một công việc
giống nhau là sao lại “cái mẫu” mà thầy đã cung cấp.
Nếu quan niệm nghệ thuật dạy học là nghệ thuật thưởng thức trong tâm hồn các em tính
ham hiểu biết, dạy các em biết suy nghĩ và hành động tích cực chỉ có được trong đầu óc
sảng khoái. Nếu nhồi nhét kiến thức một cách cưỡng bức thì hiệu quả giáo dục khó có thể
như mong muốn, bởi để “tiêu hóa” được kiến thức cần phải “thưởng thức chung”. Thấy
được điều đó, nước ta đã tiến hành đổi mới PPDH bằng thực tế là việc: đổi mới chương
trình sách giáo khoa, đổi mới cách ra đề thi và yêu cầu của đề thi, đề cao vai trò của nhà
trường, của tổ chức chuyên môn. Tất nhiên, tài nghệ của giáo viên trong công tác giảng dạy
cũng cần thiết không kém bất cứ một hình thức sáng tạo nào khác.
Tuy nhiên, trong thực tế ngày nay PPDH truyền thống vẫn được coi là ưu việt, bởi thực
chất của phương pháp dạy học những năm vừa qua chủ yếu vẫn xoay quanh việc: “Thầy
truyền đạt, trò tiếp nhận, ghi nhớ”. Theo nghiên cứu gần đây: Có tới 39% giáo viên trung
họ, để họ tự lực hiện thực những tiềm năng của bản thân nhằm phát triển năng lực sáng
tạo, giải quyết những vấn đề của đời sống thực tế .
Trong dạy học lấy HS làm trung tâm thì vai trò tích cực chủ động, sáng tạo của người
học được phát huy nhưng vai trò người dạy không hề bị hạ thấp mà trái lại còn yêu cầu
cao hơn nhiều. GV phải có trình độ chuyên môn sâu, trình độ sư phạm lành nghề, có đầu
óc sáng tạo và nhạy cảm mới có thể đóng vai trò là người gợi mở, hướng dẫn trong các
hoạt động độc lập của HS, đánh giá tiềm năng của mỗi em, chuẩn bị tốt cho các em tham
gia phát triển cộng đồng, đó chính là cốt lõi của tinh thần nhân văn trong kiểu dạy học
hướng vào người học.
* Dạy học hoạt động hóa người học (hay dạy học bằng hoạt động)
Bản chất của việc đổi mới PPDH theo hướng hoạt động hóa người học đó là:
- Tổ chức cho người học được học tập trong hoạt động tự giác, tích cực, sáng tạo.
- Việc rèn luyện phong cách “học tập sáng tạo” là cốt lõi của việc đổi mới phương pháp
giáo dục nói chung và PPDH nói riêng.
GVHD: Ts.GVC. Bùi Phương Thanh Huấn
5
SVTH: Nguyễn Hoàng Giáo
Thiết kế bài dạy học hóa học lớp 10, ban cơ bản theo sơ đồ tư duy của Tony Buzan
Cách tốt nhất để hình thành và phát triển năng lực nhận thức, năng lực sáng tạo của
HS là đặt họ vào vị trí chủ thể hoạt động nhận thức, thông qua hoạt động tự lực, tự giác,
tích cực của bản thân mà chiếm lĩnh kiến thức, phát triển năng lực sáng tạo và hình thành
quan điểm đạo đức.
Phải giải quyết tốt hai nhiệm vụ đào tạo về mặt trí tuệ:
- Trang bị cho HS những kiến thức khoa học kỹ thuật hiện đại, kỹ năng sử dụng chúng
thành thạo. Thời gian học ở trường có hạn, không đủ để học hết những kiến thức cần
Thiết kế bài dạy học hóa học lớp 10, ban cơ bản theo sơ đồ tư duy của Tony Buzan
động kép là hoạt động dạy và hoạt động học có chức năng khác nhau, đan xen và tương
tác lẫn nhau trong khoảng không gian va thời gian nhất định.
- Nội dung dạy học là yếu tố bên trong, là bản thể của quá trình dạy học, quyết định
tiến trình và phương pháp của hoạt động dạy và hoạt động học. Đối với nội dung môn
hóa học ở trường phổ thông gồm: những cơ sở khoa học của hóa học như các học
thuyết, định luật, khái niệm, sự kiện…, những phương pháp kỹ thuật chủ yếu và ứng
dụng của hóa học, phát triển năng lực nhận thức, hình thành thế giới quan duy vật biện
chứng.
1.3.1.2. Nhiệm vụ của quá trình dạy học
- Quá trình dạy học cung cấp cho HS một hệ thống kiến thức khoa học toàn diện về
tự nhiên, xã hội, tư duy, về kỹ thuật và nghệ thuật…cùng với nó là hệ thống kỹ năng
thực hành và phương pháp tư duy sáng tạo. Cụ thể, quá trình dạy học cung cấp cho HS
hệ thống kiến thức đã chọn lọc trong hệ thống những hiểu biết mà loài người đã tích
lũy được, phù hợp với mục đích giáo dục và đào tạo ở cấp học và ngành học. Bằng
những phương pháp sư phạm phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và trình độ phát triển trí
tuệ của HS, dạy học là cho HS hiểu thấu, nắm vững các khái niệm, các phạm trù, các lý
thuyết khoa học. Dạy học ở trình độ cao, HS còn phải nghiên cứu, khám phá bản chất
các hiện tượng khách quan tìm ra các quy luật khoa học. Dạy học còn bao gồm cả quá
trình tổ chức cho HS luyện tập, vận dụng kiến thức để thực hành theo một chương trình
đã định.
- Quá trình dạy học hiện đại một mặt chú trọng đến bồi dưỡng kiến thức, mặt khác
lại rất chú trọng đến việc bồi dưỡng phương pháp tư duy sáng tạo cho HS, giúp HS
định hướng trước những luồng thông tin phong phú, linh hoạt, nhạy bén trong sử dụng
kiến thức để giải quyết mọi tình huống thực tiễn bằng phương pháp sáng tạo nhất, từ
đó, trí tuệ của HS ngày càng phát triển.
- Dạy học là một bộ phận của quá trình sư phạm, là hoạt động có mục đích, có kế
hoạch. Mục đích cuối cùng là hình thành các phẩm chất nhân cách cho HS. Từ xưa,
một khẩu hiệu được đặt ra: “Tiên học lễ, hậu học văn” như là một truyền thống của
thành những con người tự chủ năng động, sáng tạo đáp ứng được yêu cầu của công
cuộc đổi mới và tiến bộ xã hội hiện nay.
1.3.2.2. Các phương pháp dạy học
1.3.2.2.1. Nhóm các phương pháp sử dụng ngôn ngữ
Nhóm các phương pháp sử dụng ngôn ngữ là nhóm phương pháp sử dụng lời
nói và chữ viết để truyền đạt, tiếp nhận, chế biến và lưu trữ thông tin. Nhóm này bao
gồm các phương pháp cụ thể sau:
A. Phương pháp thuyết trình: gồm diễn giảng và giảng giải, kể chuyện
Thuyết trình là phương pháp trong đó GV dùng lời để trình bày, giải thích nội
dụng bài học một cách chi tiết, dể hiểu cho HS tiếp thu. Đây là phương pháp được
sử dụng lâu đời nhất trong lịch sử dạy học.
GVHD: Ts.GVC. Bùi Phương Thanh Huấn
8
SVTH: Nguyễn Hoàng Giáo
Thiết kế bài dạy học hóa học lớp 10, ban cơ bản theo sơ đồ tư duy của Tony Buzan
* Các bước tiến hành:
- Đặt vấn đề: GV nên mở đầu bằng sự giới thiệu hấp dẫn nhằm lôi cuốn HS tập
trung vào học tập. Môn hóa học có điều kiện thuận lợi là nó liên quan nhiều đến
cuộc sống. Do đó, GV có thể đi từ thực tế vào bài giảng khi giới thiệu bài.
- Phát biểu vấn đề: Đối với kiến thức cũ, nhắc lại kiến thức mà HS thực sự đã
biết, tạo ra sự liên tưởng giữa điều đã biết và kiến thức mới. Nhắc lại kiến thức đã
biết, chúng là cơ sở để dạy kiến thức mới. Đối với kiến thức mới, GV cung cấp cho
HS một sự sắp xếp các khái niệm, hoặc miêu tả ý chính bằng sơ đồ, lập bảng, sắp
xếp bằng biểu đồ…để HS thấy được khung sườn của bài. Định hướng các nét chính
thì khi GV trình bày từng vấn đề nhỏ HS tiếp thu dễ hơn.
coi đó là phương pháp duy nhất có thể dẫn HS đến thói quen thụ động chờ đợi ý
kiến giải thích của thầy giáo, thích nghe hơn thích đọc, thiếu tính chủ động tìm tòi
và tất yếu dẫn đến chất lượng không cao.
B. Phương pháp vấn đáp (đàm thoại)
Vấn đáp là phương pháp trao đổi giữa thầy và trò. Trong đó, GV nêu ra câu hỏi
còn HS quan sát, phán đoán…cùng với vốn kiến thức sẳn có để trả lời, câu trả lời
đúng có thể do một hoặc nhiều HS đóng góp. Các câu hỏi được sắp xếp theo một
chủ đề từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp để dẫn HS đến một mục tiêu là nắm
vững kiến thức. Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức, phân biệt các phương
pháp vấn đáp:
- Vấn đáp tái hiện: GV đặt câu hỏi chỉ yêu cầu HS nhớ lại kiến thức đã biết và trả
lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận. Phương pháp này thường được dùng khi ôn
tập hoặc để HS nhớ lại kiến thức cũ có liên quan tới bài mới. Muốn ôn tập đạt hiệu
quả, GV phải soạn hệ thống câu hỏi sắp xếp hợp lý để giúp HS vừa nhớ lại kiến thức
đồng thời thấy mối quan hệ giữa các bài riêng lẻ với trọng tâm của chương hay
mảng kiến thức lớn.
- Vấn đáp phát hiện (ơrixtic): Kiến thức cần truyền đạt là vấn đề lớn được chia ra
thành nhiều vấn đề nhỏ dưới dạng các câu hỏi. Thầy nêu ra hệ thống các câu hỏi dẫn
dắt, có liên quan chặt chẽ với nhau, còn HS quan sát, phân tích, phán đoán…để đi
đến kết luận. Trong vấn đề tìm tòi, GV giống như người tổ chức sự tìm tòi còn HS
giống như người tự lực phát hiện kiến thức mới. Khi kết thúc cuộc đàm thoại, HS có
được niềm vui của sự khám phá, trưởng thành thêm một bước về trình độ tư
duy.Trong hóa học, phương pháp này thường được dùng để giảng các bài về chất cụ
thể nhất là phần tích chất hóa học, điều chế, ứng dụng. Tạo điều kiện thuận lợi để
HS suy đoán: dựa vào cấu tạo mà suy ra tính chất, từ tính chất hóa học để suy đoán
ứng dụng, một số cách điều chế.
- Đánh giá phương pháp vấn đáp
+ Ưu điểm: Phương pháp tư duy kích thích tư duy của HS hoạt động tích cực, rèn
luyện khả năng diễn đạt bằng lời, sự nhanh trí và óc sáng tạo cho HS, lớp HS động,
GVHD: Ts.GVC. Bùi Phương Thanh Huấn
HS.
1.3.2.2.2. Nhóm các phương pháp trực quan
Nhóm các PPDH trực qua là nhóm các phương pháp huy động các giác quan của
HS tham gia vào quá trình nhận thức, làm cho việc tiếp thu kiến thức trở nên dễ
dàng, sự ghi nhớ trở nên bền vững và chính xác.
A. Phương pháp minh họa
GVHD: Ts.GVC. Bùi Phương Thanh Huấn
11
SVTH: Nguyễn Hoàng Giáo
Thiết kế bài dạy học hóa học lớp 10, ban cơ bản theo sơ đồ tư duy của Tony Buzan
Minh họa là PPDH, trong đó GV sử dụng các phương tiện trực quan, các số liệu,
tài liệu khoa học hay thực tế để minh họa làm rỏ bài giảng, giúp HS hiểu kỹ, nhớ lâu
và vận dụng tốt.
Minh họa cần có phương tiện trực quan, phương tiện chủ yếu hiện được sử dụng
trong nhà trường là phương tiện nghe nhìn. Phương tiện nghe nhìn gồm có vật thật,
mô hình, sơ đồ, biểu đồ, bản đồ, tranh ảnh, băng âm, băng nhìn…Các phương tiện
này cần đảm bảo tính chính xác, đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, mỹ thuật cao và nếu đạt
trình độ tinh xảo thì đó là điều lý tưởng. Phương tiện để minh họa còn có thể là
những số liệu, tài liệu lý luận hay những điển hình thực tiễn, những sự kiện, những
phương pháp đã có. Những tài liệu này là dẫn chứng thuyết phục tính chính xác của
các luận điểm khoa học.
Sử dụng đồ dùng trực quan để minh họa trong bài giảng cần đúng lúc, đúng chổ,
phù hợp với nội dung, với mục đích của từng bài, sẽ làm tăng tính hấp dẫn, tính
thuyết phụ đối với HS, giờ học sẽ trở nên sinh động, kích thích tư duy của HS.
điều vừa được trình bày.
* Thí nghiệm của HS:
Tác dụng của thí nghiệm của HS là các em tự thu nhận thông qua tư duy độc lập
và hoạt động có tính chất thực hành, rèn luyện khả năng làm việc độc lập và phát
triển các kĩ năng, kĩ xảo thí nghiệm...
Các hình thức thí nghiệm:
+ Thí nghiệm nghiên cứu: GV đóng vai trò tổ chức, điều khiển. HS thực hiện thí
nghiệm, cùng với kiến thức vốn có để suy nghĩ để từ đó rút ra kết luận.
+ Thí nghiệm minh họa: GV trình bày nội dung kiến thức trước, sau đó HS tiến
hành thí nghiệm để minh họa, cụ thể kiến thức vừa được thông báo.
* Thí nghiệm thực hành:
Thí nghiệm do HS tự làm khi hoàn thiện kiến thức nhằm minh họa, ôn tập, củng
cố kiến thức và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo gọi là thí nghiệm thực hành.
Tác dụng của thí nghiệm thực hành:
+ Là phương tiện để HS cụ thể hóa, củng cố kiến thức.
+ Giúp HS vận dụng kiến thức một cách độc lập. Tạo hứng thú học tập cho HS.
+ Rèn luyện tác phong lao động, cách tổ chức hoạt động hợp lí.
1.3.3. Phương pháp dạy học tích cực
1.3.3.1. Khái niệm phương pháp dạy học tích cực
- Tính tích cực: Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người, bởi vì để tồn
tại và phát triển con người không chỉ tiêu thụ những gì có sẵn trong thiên nhiên mà
luôn phải chủ động, tích cực sản xuất ra những của cải vật chất, cải biến môi trường tự
nhiên, cải tạo xã hội. Hình thành và phát triển tính tích cực là một trong các nhiệm vụ
chủ yếu của giáo dục, nhằm đào tạo những con người năng động, thích ứng và góp
phần phát triển xã hội.
GVHD: Ts.GVC. Bùi Phương Thanh Huấn
13
SVTH: Nguyễn Hoàng Giáo
tranh luận ý kiến mỗi cá nhân người học nâng mình lên một trình độ mới, lớp học sẽ
sinh động và kích thích được sự hứng thú học tập, ý thức tổ chức, tình bạn, tinh thần
tương thân tương trợ được phát triển.
GVHD: Ts.GVC. Bùi Phương Thanh Huấn
14
SVTH: Nguyễn Hoàng Giáo
Thiết kế bài dạy học hóa học lớp 10, ban cơ bản theo sơ đồ tư duy của Tony Buzan
- Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò: Trong dạy học, việc đánh giá
học sinh nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò
đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy.
Trong phương pháp tích cực, GV phải hướng dẫn cho HS phát triển kỹ năng tự đánh
giá để tự điều chỉnh cách học, tạo điều kiện thuận lợi để HS đánh giá lẫn nhau. Tự
đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt
trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho HS.
1.3.3.3. Các phương pháp dạy học tích cực
A. Dạy học đặt và giải quyết vấn đề:
Dạy học đặt và giải quyết vấn đề không phải là một PPDH riêng biệt mà là
một tập hợp nhiều PPDH liên kết chặt chẽ với nhau và tương tác với nhau, trong đó
phương pháp xây dựng tình huống có vấn đề và dạy HS giải quyết vấn đề giữ vai trò
trung tâm, gắn bó các PPDH khác trong tập hợp. Dạy học đặt và giải quyết vấn đề
có khả năng thâm nhập vào hầu hết các phương pháp khác và làm cho tính chất của
chúng trở nên tích cực hơn. Dạy học đặt và giải quyết vấn đề sẽ góp phần nâng cao
tính tích cực tư duy của HS, gắn liền hai mặt nhận thức và tư duy, đồng thời hình
thành ở HS nhân cách có khả năng sáng tạo thực sự, góp phần rèn luyện trí thông
của HS.
+ Ba kiểu tình huống có vấn đề cơ bản trong dạy học hóa học:
Tình huống nghịch lí, bế tắc: kiến thức HS đã có không phù hợp (không
đáp ứng được) với đòi hỏi của nhiệm vụ học tập hoặc với thực nghiệm.
Tình huống lựa chọn: HS lựa chọn trong những con đường có thể có một
con đường duy nhất bảo đảm việc giải quyết được nhiệm vụ đặt ra.
Tình huống vận dụng: HS phải tìm đường ứng dụng kiến thức trong học
tập, trong thực tiễn, hoặc tìm lời giải đáp cho câu hỏi “tại sao”.
+ Câu hỏi có tính chất nêu vấn đề: Câu hỏi nêu vấn đề khác với câu hỏi thông
báo. Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi về cái chưa biết, thường xuất phát từ phía HS
hơn là phía GV. Ba đặc điểm của câu hỏi nêu vấn đề: Phải chứa đựng một mâu
thuẫn nhận thức, phải chứa đựng phương hướng giải quyết vấn đề, thu hẹp phạm vi
tìm kiếm câu trả lời, phải phản ánh được tâm trạng ngạc nhiên của HS khi nhận ra
mâu thuẫn nhận thức, khi đụng chạm tới vấn đề.
- Dạy HS cách giải quyết vấn đề:
Các bước của quá trình dạy HS giải quyết một vấn đề học tập:
+ Làm cho HS hiểu rõ vấn đề.
+ Xác định phương hướng giải quyết - nghĩa là xác định phạm vi kiến thức tìm
kiếm. Nêu giả thuyết. Nếu có vấn đề lớn, phải chia nó ra những vấn đề nhỏ và giải
quyết dần.
+ Kiểm tra sự đúng đắn của các giả thuyết bằng lí luận hay thực nghiệm. Xác
nhận một giả thuyết đúng.
GVHD: Ts.GVC. Bùi Phương Thanh Huấn
16
SVTH: Nguyễn Hoàng Giáo
Thiết kế bài dạy học hóa học lớp 10, ban cơ bản theo sơ đồ tư duy của Tony Buzan
- Cần nhiều thời gian.
GVHD: Ts.GVC. Bùi Phương Thanh Huấn
17
SVTH: Nguyễn Hoàng Giáo
Thiết kế bài dạy học hóa học lớp 10, ban cơ bản theo sơ đồ tư duy của Tony Buzan
B. Phương pháp grap dạy học
- Hoàn cảnh ra đời: Từ năm 1970 vận dụng quy luật đã phát hiện về sự chuyển hóa
phương pháp khoa học thành PPDH, cố giáo sư Nguyễn Ngọc Quang đã cùng với
các cộng tác viên triển khai nghiên cứu vận dụng lý thuyết grap của toán học chuyển
hóa nó thành PPDH hóa học.
- Khái niệm Grap: là tập hợp không rỗng E những yếu tố gọi là đỉnh và một tập hợp
A những yếu tố gọi là cạnh. Mỗi yếu tố của A là một cặp (không xếp thứ tự) những
yếu tố rõ rệt của E.
- Khái niệm Grap nội dung dạy học: Grap nội dung dạy học là sơ đồ phản ánh trực
quan tập hợp những kiến thức chốt (cơ bản, cần và đủ) của một nội dung dạy học và
cả logic phát triển bên trong.
+ Về mặt nhận thức luận, grap toán học được chọn để chuyển hóa thành PPDH vì
nó là phương pháp khoa học thuộc loại riêng rộng, có tính khái quát cao, có tính ổn
định vững chắc. Nó có khả năng ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật,
giáo dục…
+ Về mặt tâm lý – lý luận dạy học, grap vừa trừu tượng – khái quát, lại vừa có thể
biểu đạt bằng sơ đồ họa hình cụ thể - trực quan.
- Trong các dạng grap nội dung dạy học, grap của bài lên lớp là dạng quan trọng
nhất.
- Ưu điểm: